Luận văn Xác định độ ương ấu trùng tôm càng xanh thích hợp cho quy trình nước trong hở kết hợp sử dụng Ozone

Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là một trong những đối tượng quan trọng trong nghềnuôi trồng thủy sản trên thếgiới. ỞViệt Nam, nghềnuôi tôm càng xanh đang dần trở thành đối tượng nuôi chính tại Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Theo Lê Xuân Sinh và ctv(2006), quy trình nước trong hởlà một trong các quy trình sản xuất giống tôm càng xanh được lựa chọn sửdụng nhiều nhất ở ĐBSCL. Quy trình này có đặc điểm là thay nước hằng ngày để đảm bảo môi trường nước sạch cho ấu trùng tôm phát triển (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003), nên chỉthuận lợi cho các trại giống gần biển. Tuy nhiên, đa sốcác trại sản xuất giống tôm càng xanh ở ĐBSCL đều nằm ởnội địa (Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, An Giang ) (Lê Xuân Sinh và ctv, 2006), nơi nguồn nước mặn không có sẳn nên việc áp dụng quy trình này gặp nhiều khó khăn. Nhưng, nếu giảm lượng nước thay hay giảm tần suất thay nước trong quá trình ương, nước trong bể ương sẽnhanh chóng bịô nhiễm do thức ăn thừa và chất thải của ấu trùng, làm ảnh hưởng đến tỉlệsống của ấu trùng và hiệu quảsản xuất. Do đó, việc tìm giải pháp nhằm hạn chếlượng nước sửdụng trong quá trình ương nhưng vẫn đảm bảo duy trì chất lượng nước cho bể ương và hiệu quảsản xuất là vấn đềcần giải quyết khi sửdụng quy trình nước trong hở.

pdf32 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 28/03/2014 | Lượt xem: 2456 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Xác định độ ương ấu trùng tôm càng xanh thích hợp cho quy trình nước trong hở kết hợp sử dụng Ozone, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH THÍCH HỢP CHO QUY TRÌNH NƯỚC TRONG HỞ KẾT HỢP SỬ DỤNG OZONE Sinh viên thực hiện: Đoàn Ngọc Dung Cán bộ hướng dẫn Th.s Tăng Minh Khoa 2 CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. Giới thiệu Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là một trong những đối tượng quan trọng trong nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới. Ở Việt Nam, nghề nuôi tôm càng xanh đang dần trở thành đối tượng nuôi chính tại Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Theo Lê Xuân Sinh và ctv (2006), quy trình nước trong hở là một trong các quy trình sản xuất giống tôm càng xanh được lựa chọn sử dụng nhiều nhất ở ĐBSCL. Quy trình này có đặc điểm là thay nước hằng ngày để đảm bảo môi trường nước sạch cho ấu trùng tôm phát triển (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003), nên chỉ thuận lợi cho các trại giống gần biển. Tuy nhiên, đa số các trại sản xuất giống tôm càng xanh ở ĐBSCL đều nằm ở nội địa (Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, An Giang…) (Lê Xuân Sinh và ctv, 2006), nơi nguồn nước mặn không có sẳn nên việc áp dụng quy trình này gặp nhiều khó khăn. Nhưng, nếu giảm lượng nước thay hay giảm tần suất thay nước trong quá trình ương, nước trong bể ương sẽ nhanh chóng bị ô nhiễm do thức ăn thừa và chất thải của ấu trùng, làm ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của ấu trùng và hiệu quả sản xuất. Do đó, việc tìm giải pháp nhằm hạn chế lượng nước sử dụng trong quá trình ương nhưng vẫn đảm bảo duy trì chất lượng nước cho bể ương và hiệu quả sản xuất là vấn đề cần giải quyết khi sử dụng quy trình nước trong hở. Bên cạnh đó, ozone là chất oxi hóa mạnh, từ lâu đã được con người sử dụng để thanh lọc nước và không khí. Trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất giống tôm sú ở Đồng bằng sông Cửu Long, ozone thường được ứng dụng để xử lý nước thải và phòng bệnh. Do đó, ozone hoàn toàn có thể áp dụng vào quy trình nước trong hở để xử lý môi trường ương thay thế cho việc thay nước hàng ngày. Chính vì thế, quy trình nước trong hở kết hợp sử dụng ozone (NTH – Ozone) đã ra đời. Theo Lương Thị Bảo Thanh (2009), so với quy trình nước trong hở truyền thống, quy trình NTH – Ozone định kỳ xử lý ozone 2 ngày/lần kết hợp rút cặn, bổ sung 5% nước trong bể ương là phương pháp cho hiệu quả sử dụng cao hơn, đồng thời khi ương tôm càng xanh ở mật độ cao (150 – 250 ấu trùng/l) quy trình NTH - Ozone có thể tăng năng suất ương lên 1,5 – 2,5 lần so với quy trình nước trong hở truyền thống. Tuy nhiên, đề tài vẫn còn hạn chế là chưa xác định được mật độ tối ưu cho quy trình. Vì thế nhằm tạo tiền đề cho các nghiên cứu để tăng mật độ ương cho quy trình NTH – Ozone ở bể ương có thể tích lớn, việc thực hiện đề tài ‘‘Xác định mật độ ương ấu trùng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) thích hợp cho quy trình nước trong hở kết hợp sử dụng ozone” là cần thiết. 3 1.2. Mục tiêu của đề tài: Xác định mật độ ương thích hợp trong sản xuất giống tôm càng xanh theo quy trình nước trong hở kết hợp sử dụng ozone trong bể ương 50l. 1.3. Nội dung nghiên cứu: - Khảo sát ảnh hưởng của mật độ đến hiệu quả ương ấu trùng tôm càng xanh theo quy trình nước trong hở kết hợp sử dụng ozone trong bể ương 50l. - Xác định mật độ ương ấu trùng hiệu quả nhất cho quy trình nước trong kết hợp sử dụng ozone. 4 CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1. Đặc điểm sinh học tôm càng xanh 2.1.1. Phân loại và phân bố tôm càng xanh Với kích thước lớn và mang lại hiệu quả kinh tế cao, tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) đã và đang trở thành đối tượng nuôi thâm canh ở các quốc gia trên thế giới như: Châu Á gồm Ấn Độ, Sri Lanka, Birma, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Hawaii, Palau, Châu Úc, Châu Phi (Malawi, Mauritius, Seychelles), Châu Mỹ (Mỹ, Mexico, Puerto Rico, Honduras, Colombia), và thậm chí tại Anh ở Châu Âu (Holthuis, 1980, trích dẫn bởi Lương Thị Bảo Thanh, 2009). Theo Đặng Ngọc Thanh và ctv (2001), tôm càng xanh có vi trí phân loại như sau: Ngành: Arthopoda Lớp: Crusracae Bộ: Decapoda Phân bộ: Caridea Họ: Palaemonidae Giống: Macrobrachium Loài: Macrobrachium rosenbergii De Man 1879 Trong tự nhiên, tôm càng xanh phân bố ở vùng nhiệt đới, tập trung ở khu vực Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương, chủ yếu từ Châu Úc đến New Guinea, Trung Quốc và Ấn Độ. Ở Việt Nam, chúng phân bố tự nhiên chủ yếu các tỉnh Nam Bộ, đặc biệt là Đồng Bằng Sông Cửu Long (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003). 2.1.2. Vòng đời tôm càng xanh Tôm càng xanh trưởng thành sống chủ yếu ở nước ngọt, vòng đời tôm càng xanh có 4 giai đoạn bao gồm: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành. Ấu trùng nở ra sống phù du và trải qua 11 lần biến thái để trở thành hậu ấu trùng PL (postlarvae) (xem Hình 2.1 và Bảng 2.1). PL có xu hướng tiến vào vùng nước ngọt như sông rạch, ao hồ…, ở đó chúng sống và lớn lên, khi trưởng thành lại di cư ra vùng nước lợ nơi có độ mặn thích hợp để sinh sản và vòng đời tiếp tục (New, 2002; Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003; Nandlal et al., 2005). Thời gian và tốc độ tăng trưởng ở mỗi giai đoạn chịu ảnh hưởng bởi môi trường, đặc biệt là nhiệt độ nước và thức ăn (Nandlal et al., 2005). 5 Giai đoạn I Giai đoạn II Giai đoạn III Giai đoạn IV Giai đoạn V Giai đoạn VI Giai đoạn VII Giai đoạn VIII Giai đoạn IX Giai đoạn X Giai đoạn XI Giai đoạn Postlarvae (PL) Hình 2.1. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm càng xanh (Nguồn: Takuji Fujimura, trích bởi Nandlal et al., 2005) 6 Bảng 2.1. Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của tôm càng xanh Giai đoạn ấu trùng Ngày tuổi Đặc điểm nhận dạng I 1 Không có cuống mắt II 2 Có cuống mắt III 3 – 4 Có sự xuất hiện của Uropods IV 4 – 6 Có 2 răng trên chủy, chân đuôi có 2 nhánh, có lông tơ V 5 – 8 Các telson hẹp và có hình thon dài VI 7 – 10 Có sự hiện diện của các núm chân bụng VII 11 – 17 Các chân bụng chẻ đôi VIII 13 – 20 Các chân bụng có các tơ cứng IX 15 – 22 Nhánh chân trong của chân bụng xuất hiện X 17 – 23 Có 3 – 4 răng trên chủy XI 23 – 35 Răng xuất hiện hết nửa trên chủy PL 23 – 35 Có răng trên và dới chủy, có tập tính giống tôm trưởng thành 2.2. Tình hình sản xuất giống tôm càng xanh trong và ngoài nước Theo New (2008), đầu thập niên 1960, Shao-Wen Ling khởi xướng sản xuất giống tôm càng xanh ở Malaysia, đến năm 1972 Takuji Fujimura đã phát triển hàng loạt kỹ thuật sản xuất tôm PL theo quy mô thương mại ở Hawaii. Đầu năm 1970, từ Hawaii và Thái Lan. Kể từ đó, nghề nuôi tôm càng xanh đã phát triển ở các lục địa, đặc biệt là ở Châu Á và Châu Mỹ, đến năm 2005 sản lượng toàn cầu tăng lên hơn 200.000 tấn/năm (bao gồm cả Việt Nam). Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003), trong lịch sử sản xuất giống tôm càng xanh có 4 quy trình thường được áp dụng trên thế giới là quy trình nước trong hở, quy trình nước trong kín (tuần hoàn), quy trình nước xanh và quy trình nước xanh cải tiến. Theo Sigholka (1982), trước đây quy trình “Nước xanh” được sử dụng phổ biến ở Thái Lan để ương ấu trùng tôm càng xanh, nhưng đến những năm 1980, các trại sản xuất giống đã chuyển sang sử dụng quy trình “Nước trong” và nâng tổng sản lượng cả nước lên 85,8 triệu PL vào năm 1982. Theo Lê Xuân Sinh (2006), khi khảo sát 31 trại sản xuất giống ở ĐBSCL tập trung ở các tỉnh Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, có 21 trại sản xuất với quy trình nước xanh cải tiến (67,7%) và 10 trại sản xuất với các quy trình khác nhau như nước trong, nước trong hở (32,2%). Tuy nhiên, do tỉ xuất lợi nhuận mang lại từ quy trình nước xanh cải tiến thấp hơn các quy trình khác (0,6 so với 1,2) (Lê Xuân Sinh, 2008), nên để nâng cao lợi nhuận nhiều trại sản xuất đang chuyển sang sử dụng quy trình nước trong hở hay các quy trình kết hợp khác. Theo Lương Thị Bảo Thanh (2009), quy trình nước trong hở kết hợp sử dụng ozone (NTH – Ozone) ương với mật độ cao (200 – 250 ấu trùng/l) cho hiệu quả cao về môi 7 trường, kỹ thuật và kinh tế cao hơn so với quy trình nước trong hở truyền thống và quy trình nước trong hở có sử dụng chế phẩm sinh học. Tuy nhiên, đề tài vẫn còn hạn chế là chưa xác định được mật độ tối ưu trong sản xuất giống tôm càng xanh theo quy trình nước trong hở kết hợp sử dụng ozone. 2.3. Đặc điểm sản xuất giống tôm càng xanh theo quy trình nước trong hở kết hợp ozone 2.3.1. Ozone và các ứng dụng của ozone trong nuôi trồng thủy sản Ozone có những đặc điểm vật lý như sau: - Ozone là chất khí màu xanh nhạt có, công thức phân tử: O3. - Phân tử gram: 47,998 g/mol. - Tỷ trọng: 2,144 g·L -1 (00C). - Điểm nóng chảy: -192,50C. - Điểm sôi: -111,90C. - Độ hòa tan trong nước: 0,105 g.100mL-1 (00C). Ozone là chất oxi hóa mạnh và là một trong những chất khử mạnh có thể dùng để xử lý nước (Kramer, 1998). Trong nuôi trồng thủy sản, ozone thường được dùng để loại bỏ BOD, oxi hóa các hợp chất hữu cơ và giảm chất thải. Theo Gill (2000), ozone có hiệu quả ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản và theo Schuur (2003), trong các trại sản xuất giống qui mô nhỏ và trong nuôi cá thâm canh, khí ozone được áp dụng rộng rãi để khử trùng và kiểm soát bệnh tổng hợp. Theo Tango (2003), trong hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn, nước nuôi được xử lý ozone có tổng số cacbon hữu cơ giảm 15% và giảm hàm lượng nitrite, màu và chất lơ lửng, khi so sánh với những mô hình không sử dụng ozone. Theo Oakes (1979) & JMM (1990) (trích dẫn bởi Đinh Mạnh Tiến, 2002), khả năng diệt tổng vi khuẩn trong nước của ozone mạnh hơn từ 3 – 5 lần so với chlorine. Trong sản xuất giống tôm sú, ozone được dùng để xử lý nước và khử trùng trại giống. Ozone hoàn toàn có thể thay thế Chlorine trong xử lý nước (Thạch Thanh và ctv, 2003) trước khi ương ấu trùng. Ozone còn có tác dụng xử lý nước bể đang ương ấu trùng bằng cách kết hợp bộ tách đạm trong hệ thống tuần hoàn trực tiếp vào bể ương ấu trùng. Mục đích là duy trì chất lượng nước nhờ khả năng oxy hóa các chất thải của tôm và thức ăn dư thừa trong bể ương. Qua thực nghiệm tại trường Đại học Cần Thơ cho thấy các chỉ tiêu chất lượng nước được cải thiện rõ rệt, ấu trùng tôm sú biến thái và chuyển giai đoạn đồng loạt hơn, tỉ lệ sống cao hơn (Thạch Thanh và ctv, 2003). Theo Menasveta (1980), vì ozone có khả năng duy trì chất lượng nước, nên khi được dùng trong sản xuất giống tôm càng xanh theo quy trình kín có thể nâng cao tỉ lệ sống của ấu trùng. Theo Young et al. (2004), ozone có thể diệt được vi khuẩn Bacillus subtilis. Tuy nhiên, theo Keysami et al. (2007), vi khuẩn Bacillus subtilis (mật độ 108 tế bào/l) có khả năng ổn định môi trường ương nên góp phần làm tăng tỉ lệ sống ấu trùng tôm càng xanh một cách đáng kể so với nghiệm thức không có Bacillus subtilis (tỉ lệ sống 55,3 ± 1,02% so với 36,2 ± 5,02%). 8 Theo Lương Thị Bảo Thanh (2009), khi sử dụng ozone trong sản xuất giống tôm càng xanh với nồng động < 0,3 ppm có khả năng duy trì tốt chất lượng nước cho bể ương, do đó có thể hạn chế đáng kể việc thay nước thường xuyên của quy trình nước trong hở đồng thời còn tăng năng suất sản xuất thông qua việc tăng mật độ ương (200 – 250 ấu trùng/l). 2.3.2. Giới thiệu quy trình nước trong hở kết hợp ozone Theo Lương Thị Bảo Thanh (2009), quy trình NTH – Ozone có đặc điểm định kỳ có xử lý ozone 2 ngày/lần kết hợp rút cặn và bổ sung 5% nước trong bể ương (thay cho lượng nước bị thất thoát khi rút cặn). Ưu điểm của quy trình là hạn chế được việc thay nước đồng thời tăng năng suất sản xuất thông qua việc tăng mật độ ương (200 – 250 ấu trùng/l), góp phần tăng lợi nhuận cho nhà sản xuất. 2.4.3. Đặc điểm kỹ thuật của quy trình Trên cơ bản các đặc điểm kỹ thuật của quy trình NTH – Ozone hoàn toàn giống như quy trình nước trong hở truyền thống, chỉ khác ở khâu quản lý môi trường nước và mật độ ương. Các đặc điểm cơ bản của quy trình như sau: Chọn tôm trứng và cho nở Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003), tôm trứng được chọn phải là tôm khỏe mạnh (không bị thương tích, không có dấu hiệu bệnh), trọng lượng tốt nhất là 50 – 80 g/con. Nhưng các nhóm tôm có trọng lượng 20 – 35 g cho sức sinh sản và tỉ lệ sống của ấu trùng cũng khá cao (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2006) nên cũng có thể dùng các nguồn tôm này để tham gia sản xuất giống. Xử lý tôm mẹ trước khi cho nở bằng formaline 20 – 25 ppm trong 30 phút, sau đó cho vào bể 50 lít, mật độ 2 – 3 tôm mẹ/bể, độ mặn 5 – 7‰ để ấp nở trứng (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003). Thu và bố trí ấu trùng vào bể Sau khi trứng nở dùng vải đen che phủ bể nở, chừa một góc ở mặt trên để chiếu sáng đồng thời tắt sục khí. Do tính hướng quang, ấu trùng sẽ tập trung vào nơi chiếu sáng, dùng ống nhựa thu lấy các ấu trùng tập, sau đó rửa ấu trùng trong dung dịch formaline 200 ppm trong 30 giây để diệt mầm bệnh (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003). Sau khi xử lý, ấu trùng được bố trí vào các bể ương với mật độ 200 – 250 ấu trùng/lít (Lương Thị Bảo Thanh, 2009). Chế độ chăm sóc và cho ăn Có nhiều loại nguyên liệu có thể làm thức ăn cho ấu trùng tôm càng xanh như ấu trùng Artemia, moina, thịt cá, thịt mực, Artemia tiền trưởng thành hay trưởng thành còn tươi hay sấy khô, trùng chỉ, thức ăn chế biến (New, 2002; Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003). Tuy nhiên, hai loại được dùng phổ biến nhất là ấu trùng Artemia và thức ăn chế biến (New, 2002; Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003). 9 Bảng 2.2 Công thức thức ăn chế biến cho ấu trùng tôm càng xanh Thành phần Lượng Trứng gà 1 trứng Sữa bột giàu canxi 10g Dầu mực 3,0 % (trọng lượng thức ăn) Lecithin 1,5 % ( trọng lượng thức ăn) Vitamin C 100 – 500 mg/kg Nguồn : Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) Bảng 2.3. Chế độ chăm sóc và cho ấu trùng tôm càng xanh ăn Giai đoạn ấu trùng Loai thức ăn Lượng thức ăn Số lần cho ăn Từ 2 – 5 ngày sau khi ương Ấu trùng Artemia 1 – 2 ấu trùng Artemia/ml nước ương 2 lần/ngày(sáng,chiều) Thức ăn chế biến kích cở 300 - 400µm Theo nhu cầu của ấu trùng 3-4 lần/ngày (ban ngày) Giai đoạn 4 - 5 Ấu trùng Artemia 2 – 4 ấu trùng Artemia/ml nước ương 1 lần/ngày (chiều tối) Thức ăn chế biến kích cở 500 – 600µm Theo nhu cầu của ấu trùng 3-4 lần/ngày (ban ngày) Giai đoạn 6 - 8 Ấu trùng Artemia 2 – 4 ấu trùng Artemia/ml nước ương 1 lần/ngày (chiều tối) Thức ăn chế biến kích cở 700 – 1.000µm Theo nhu cầu của ấu trùng 3-4 lần/ngày (ban ngày) Giai đoạn 9 -11 Ấu trùng Artemia 2 – 4 ấu trùng Artemia/ml nước ương 1 lần/ngày (chiều tối) Nguồn: Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) Điều kiện môi trường trong bể ương tôm càng xanh Theo Nguyễn Thanh Phương (2003), nước ương có độ mặn 10 – 12‰. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu mới đây cho thấy ấu trùng có thể ương ở độ mặn 9‰ vẫn cho kết quả tốt. Chất lượng nước có ý nghĩa rất quan trọng trong ương tôm càng xanh. Khi chất lượng nước thay đổi vượt giới hạn sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến ấu trùng (Bảng 2.4). Formatted Table 10 Bảng 2.4 Đặc điểm các yếu tố nguồn nước thích hợp cho trại sản xuất tôm càng xanh Yếu tố Nước ngọt (ppm) Nước biển (ppm) Nước lợ (ppm) Oxy hòa tan >4 >5 >5 Độ cứng (CaCO3) 120 - 2.325 – 2.713 Vật chất lơ lửng 217 - - Ammonia (NH3) - - <0,5 Nitrite (NO2) - - <0,1 Nitrate (NO3) - - <20 Sulphua (H2S) - - - pH 6,5 – 8,5 7,0 – 8,5 7,0 – 8,5 Nhiệt độ - - 28 - 31 Nguồn: New & Valent (2000) Quản lý môi trường nước ương ấu trùng Theo Lương Thị Bảo Thanh (2009), để duy trì chất lượng nước cho ấu trùng phát triển tốt trong quy trình NTH – Ozone cần định kỳ xử lý ozone 2 ngày/lần (với hàm lượng <0,3 ppm) đồng thời hàng ngày phải rút cặn và bổ sung 5% nước ương (bù lượng nước bị thất thoát khi rút cặn). Theo Lương Thị Bảo Thanh (2009), quy trình NTH – Ozone cho hiệu quả kinh tế cao hơn quy trình nước trong truyền thống, nhưng kết quả đề tài chưa xác định được mật độ ương tối ưu cho quy trình. Vì vậy để hoàn chỉnh quy trình cần thực hiện các nghiên cứu xác định mật độ ương nào là tốt nhất khi ứng dụng quy trình. 11 CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Vật liệu nghiên cứu - Máy ozone công suất 4g/h, hiệu Ngọc Bích. - Bể nhựa 50l (để ương ấu trùng) - Trang thiết bị dùng cho trại sản xuất giống tôm càng xanh: máy sục khí, bể ấp Artemia, tủ lạnh, dây dẫn khí, vợt,… - Các bộ test kit phân tích: pH, NO2-, NO3-, NH4+/NH3. 3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm 3.2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 03/2010 đến 06/2010. - Địa diểm bố trí thí nghiệm: Trại tôm giống Đăng Khoa, số 179c/5 Khu vực 1 An Bình – Ninh Kiều, Cần Thơ. 3.2.2. Thí nghiệm: Khảo sát ảnh hưởng hiệu quả ương ấu trùng tôm càng xanh theo quy trình nước trong hở kết hợp sử dụng ozone với các mật độ khác nhau trong bể ương 50l Ương tôm càng xanh theo quy trình NTH – Ozone trong các bể có thể tích 50l, nước ương có độ mặn 10 – 12‰, được pha từ nước ót 80‰ và nước ngọt từ nguồn nước máy. Thí nghiệm thăm dò: lắp 6 vòi sục khí vào máy ozone công suất 4g/h vào 6 bể 50l trong thời gian 60 phút và xác định nồng độ ozone hòa tan. Thí nghiệm: ương ấu trùng tôm càng xanh với các mật độ khác nhau: - Nghiệm thức 1: 250 ấu trùng/l. - Nghiệm thức 2: 300 ấu trùng/l. - Nghiệm thức 3: 350 ấu trùng/l. - Nghiệm thức 4: 400 ấu trùng/l. Thí nghiệm được bố trí trong bể 60l chứa 50l nước và mỗi thí nghiệm được lập lại 3 lần. Chế độ cho ăn: Bảng 3.1 Chế độ chăm sóc và cho ấu trùng tôm càng xanh ăn Giai đoạn ấu trùng Loai thức ăn Lượng thức ăn Số lần cho ăn Từ 2 – 5 ngày sau khi ương Ấu trùng Artemia 1 – 2 ấu trùng Artemia/ml nước ương 2 lần/ngày(sáng,chiều) Giai đoạn 4 - 5 Thức ăn chế biến kích cở 300 - 400µm Theo nhu cầu của ấu trùng 3-4 lần/ngày (ban ngày) 12 Ấu trùng Artemia 2 – 4 ấu trùng Artemia/ml nước ương 1 lần/ngày (chiều tối) Thức ăn chế biến kích cở 500 – 600µm Theo nhu cầu của ấu trùng 3-4 lần/ngày (ban ngày) Giai đoạn 6 - 8 Ấu trùng Artemia 2 – 4 ấu trùng Artemia/ml nước ương 1 lần/ngày (chiều tối) Thức ăn chế biến kích cở 700 – 1.000µm Theo nhu cầu của ấu trùng 3-4 lần/ngày (ban ngày) Giai đoạn 9 -11 Ấu trùng Artemia 2 – 4 ấu trùng Artemia/ml nước ương 1 lần/ngày (chiều tối) Bảng 3.2 Công thức thức ăn chế biến cho ấu trùng tôm càng xanh Thành phần Lượng Trứng gà 1 trứng Sữa bột giàu canxi 10g Dầu mực 3,0 % (trọng lượng thức ăn) Lecithin 1,5 % ( trọng lượng thức ăn) Vitamin C 100 – 500 mg/kg Để duy trì chất lượng nước tốt cho ấu trùng, hàng ngày phải rút cặn và kết hợp xử lý ozone định kỳ 2 ngày/lần và bổ sung 5% nước mới. Thời gian xử lý ozone dựa vào thí nghiệm thăm dò. Thu và phân tích mẫu: - Đo nhiệt độ 2 lần/ngày (sáng và chiều) bằng nhiệt kế. - Đo pH 2 lần/ngày (sáng và chiều) bằng test kit (Bạch Yến – Việt Nam). - Định kỳ 4 ngày/lần đo các chỉ tiêu (buổi sáng): NO2-, NO3- , NH4+ bằng test kit (Sera – Đức). Riêng đối với NH4+, sau khi xác định bằng test kit, kết hợp với kết quả nhiệt độ và pH để xác định NH3 (theo Boyd, 1990). - Định kỳ 4 ngày/lần đánh giá chất lượng ấu trùng (giai đoạn I – XI) theo tiêu chuẩn của Tayamen & Brown (1999) (Phụ lục 1), 10 ấu trùng/bể/lần. + Từ 0 – 1 điểm: ấu trùng có chất lượng kém. + Từ 1 – 1,5 điểm: ấu trùng có chất lượng khá tốt. + Từ 1,5 – 2 điểm: ấu trùng có chất lượng tốt. - Sau khi ấu trùng chuyển hoàn toàn sang PL ( PL1 – PL5): + Kiểm tra chất lượng PL bằng phương pháp sốc formaline 100 ppm trong 2 giờ trong lọ 1 lít với số lượng ấu trùng 100 con/lọ. Đánh giá chất lượng ấu trùng theo tỉ lệ ấu trùng còn sống sau khi sốc formaline:  Tỉ lệ sống 0 – 50% ấu trùng có chất lượng xấu.  Tỉ lệ sống 50 – 80% ấu trùng có chất lượng trung bình. 13  Tỉ lệ sống 80 – 100% ấu trùng có chất lượng tốt. + Xác định năng suất và tỉ lệ sống PL theo công thức: Số PL thu được (PL) Năng suất (PL/l) = -------------------------- (3.2) 50 (lít) Số PL thu được (PL) Tỉ lệ số
Luận văn liên quan