Luận văn Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan, sử dụng một số phần mềm để dạy học và tạo các đề kiểm tra trắc nghiệm cho phần hóa học vô cơ lớp 9

Trong thời gian dài nhà trường chúng ta chỉ sử dụng các bài tập tự luận cho học sinh (HS) trong dạy học và thi cử. Gần đây với những ưu điểm của phương pháp TN, nhiều môn thi tốt nghiệp và tuyển sinh từ 2006- 2007 đã áp dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan, như: Anh văn , lý, hóa, sinh v.v. HS cũng thường được làm quen với phương pháp trắc nghiệm (TN) qua rất nhiều trò chơi trên truyền hình, như: Rồng vàng, Ai là triệu phú, Đấu trường 100, Đường lên đỉnh Olympic, Hành trình văn hóa Sự thay đổi hình thức kiểm tra đánh giá này đã làm thay đổi phần nào phương pháp dạy học ở nhà trường nói chung và môn hóa học nói riêng. Số lượng bài tập TN cho môn hóa học 9 được biên soạn khá nhiều, nhưng việc sử dụng chúng chưa được phổ biến vì một số khó khăn sau: - Giáo viên (GV) đã rất quen với bài tập tự luận, nay chuyển sang TN đòi hỏi nhiều công sức và thời gian để sưu tầm, biên soạn, in ấn, photo, cách trộn đề, mẫu biểu chấm, thang điểm v.v - Các bài tập chưa có sự phân loại theo yêu cầu của quá trình dạy học, một số bài tập chưa phù hợp với đa số HS lớp 9. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, GV có thể sử dụng các phần mềm để soạn, lưu trữ bài tập theo chủ đề, đưa các bài tập TN vào bài giảng, tạo các đề kiểm tra trên máy để sử dụng trên lớp hoặc giao cho HS về nhà, nhằm giảm nhẹ lao động của GV và tăng cường khả năng tự học của HS. Những lý do trên thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan, sử dụng một số phần mềm để dạy học và tạo các đề kiểm tra trắc nghiệm cho phần hóa học vô cơ lớp 9”

pdf120 trang | Chia sẻ: duongneo | Ngày: 27/07/2017 | Lượt xem: 82 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan, sử dụng một số phần mềm để dạy học và tạo các đề kiểm tra trắc nghiệm cho phần hóa học vô cơ lớp 9, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Ngô Huyền Trân LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2008 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Ngô Huyền Trân Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học hóa học Mã số: 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM THỊ NGỌC HOA Thành phố Hồ Chí Minh - 2008 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Ngô Huyền Trân Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học hóa học Mã số: 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM THỊ NGỌC HOA Thành phố Hồ Chí Minh - 2008 LỜI CẢM ƠN Luận văn hoàn thành vào tháng 6/2008. Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:  TS Phạm Thị Ngọc Hoa đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thành luận văn.  TS Trịnh Văn Biều đã động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.  TS Lê Trọng Tín và TS Trần Thị Tửu đã góp ý chân thành đề cương luận văn, giúp chúng tôi xây dựng đề cương luận văn hoàn chỉnh và thực hiện thành công luận văn này.  Các thầy cô giảng dạy lớp Cao học Khoá 16 đã truyền thụ cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quí báu. Chúng tôi chân thành cám ơn các giáo viên giảng dạy tại các trường trung học cơ sở và một số sinh viên trường Đại học Sài Gòn đã nhiệt tình giúp tôi thực nghiệm đề tài:  Cô Trần Thị Bổn, Cô Vũ Thị Hạnh giáo viên trường Thực nghiệm sư phạm, Quận 5;  Thầy Tạ Minh Khang, Cô Võ Thị Xuân Yến giáo viên trường Bình Trị Đông, Quận Tân Phú;  Cô Nguyễn Thị Phương, giáo viên trường Bình Hưng Hoà, Quận Tân Phú;  Cô Lê Thị Màu, giáo viên trường Phong Phú, Quận Bình Chánh;  Sinh viên Lê Thanh Hiệp, Lê Việt Hùng, Trần Lợi Lợi lớp Hoá K05; Châu Nguyễn Hồng Dung, Lê Đức Vân Sơn lớp Hóa K06;  Tập thể giáo viên lớp Đại học hóa K14 trường Đại học Sài Gòn. Tp Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2008 Ngô Huyền Trân MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời gian dài nhà trường chúng ta chỉ sử dụng các bài tập tự luận cho học sinh (HS) trong dạy học và thi cử. Gần đây với những ưu điểm của phương pháp TN, nhiều môn thi tốt nghiệp và tuyển sinh từ 2006- 2007 đã áp dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan, như: Anh văn , lý, hóa, sinh v.v.. HS cũng thường được làm quen với phương pháp trắc nghiệm (TN) qua rất nhiều trò chơi trên truyền hình, như: Rồng vàng, Ai là triệu phú, Đấu trường 100, Đường lên đỉnh Olympic, Hành trình văn hóa Sự thay đổi hình thức kiểm tra đánh giá này đã làm thay đổi phần nào phương pháp dạy học ở nhà trường nói chung và môn hóa học nói riêng. Số lượng bài tập TN cho môn hóa học 9 được biên soạn khá nhiều, nhưng việc sử dụng chúng chưa được phổ biến vì một số khó khăn sau: - Giáo viên (GV) đã rất quen với bài tập tự luận, nay chuyển sang TN đòi hỏi nhiều công sức và thời gian để sưu tầm, biên soạn, in ấn, photo, cách trộn đề, mẫu biểu chấm, thang điểm v.v - Các bài tập chưa có sự phân loại theo yêu cầu của quá trình dạy học, một số bài tập chưa phù hợp với đa số HS lớp 9. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, GV có thể sử dụng các phần mềm để soạn, lưu trữ bài tập theo chủ đề, đưa các bài tập TN vào bài giảng, tạo các đề kiểm tra trên máy để sử dụng trên lớp hoặc giao cho HS về nhà, nhằm giảm nhẹ lao động của GV và tăng cường khả năng tự học của HS. Những lý do trên thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan, sử dụng một số phần mềm để dạy học và tạo các đề kiểm tra trắc nghiệm cho phần hóa học vô cơ lớp 9”. 2. Mục đích nghiên cứu Sử dụng phần mềm Emptest (EMP), Violet biên soạn câu TN tạo ngân hàng câu TN, mẫu đề kiểm tra TN khách quan phần hóa học vô cơ lớp 9, mẫu phiếu làm bài và chấm TN, tìm con đường thuận lợi nhất để đưa bài tập TN vào thực tiễn dạy học nhằm giảm nhẹ lao động cho GV, tăng cường khả năng tự học và gây hứng thú học tập cho HS. 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: bài tập TN khách quan hóa học vô cơ 9. Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học hóa học ở trường trung học cơ sở (THCS). 4. Nhiệm vụ nghiên cứu  Tìm hiểu cơ sở lý luận về phương pháp TN và biên soạn bài tập TN cho các chương I, II, III (hóa học vô cơ) lớp 9.  Sử dụng một số phần mềm vi tính như: - Violet để soạn các bài tập TN khách quan, hỗ trợ cho GV trong việc dạy học bằng giáo án điện tử; - EMP để biên soạn ngân hàng câu hỏi TN và tạo các đề kiểm tra TN khách quan.  Thực nghiệm sư phạm các câu hỏi, các đề kiểm tra đã biên soạn.  Đánh giá kết quả nghiên cứu. 5. Phương pháp nghiên cứu  Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu sách giáo khoa hóa 9; các sách viết về: TN, bài tập hóa học lớp 9.  Phương pháp thực nghiệm: - Tổ chức thực nghiệm sư phạm. - Điều tra, phỏng vấn. - Xử lý, thống kê. 6. Giới hạn của đề tài Do điều kiện có hạn, chúng tôi chọn ngẫu nhiên một số bài tập TN và mẫu đề kiểm tra trong nội dung câu TN và đề TN được biên soạn để thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định giả thiết khoa học. 7. Giả thuyết khoa học GV có thể sử dụng phần mềm EMP và Violet để soạn hoặc sao chép bài tập TN theo từng chủ đề, tạo ngân hàng câu TN và các đề TN phù hợp với quá trình dạy học. Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin sẽ giảm nhẹ sức lao động của GV trong việc soạn, chấm bài kiểm tra TN và góp phần đổi mới phương pháp dạy học. 8. Phạm vi thực nghiệm Một số trường THCS tại thành phố Hồ Chí Minh:  Thực nghiệm sư phạm (Quận 5)  Bình Trị Đông (Quận Tân Phú)  Bình Hưng Hòa (Quận Tân Phú)  Một số HS các trường Phong Phú (Quận Bình Chánh), Ngô Quyền (Quận Tân Bình), Nguyễn Bỉnh Khiêm (Quận 3). 9. Điểm mới của đề tài  Làm sáng tỏ lý luận về TN trong dạy học hóa học 9, giúp GV hóa học có thể tự biên soạn bài tập, nắm các phương pháp đánh giá đơn giản một câu TN và một bài kiểm tra TN.  Hướng dẫn chi tiết cách thiết kế bài tập TN trên phần mềm Violet, cách sử dụng phần mềm EMP để soạn câu TN tạo đề kiểm tra TN và cách làm bài kiểm tra TN trên các phần mềm Violet và EMP.  Biên soạn, lưu trữ 500 câu bài tập (3 chương hóa học vô cơ 9), các bài tập có phân loại, sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp, đồng thời có hướng dẫn giải các bài tập định lượng, rất thuận lợi cho GV sử dụng trong quá trình dạy học.  Sử dụng phần mềm EMP:  Thiết kế sẵn ngân hàng đề kiểm tra trên giấy: 63 đề 15 phút, cụ thể: Chương 1: 23 đề ; Chương 2: 35 đề ; Chương 3: 15 đề. 12 đề 1 tiết, cụ thể: Chương 1: 6 đề; Chương 2: 2 đề; Chương 3: 4 đề.  Thiết kế ngân hàng đề kiểm tra 15 phút trên máy, cụ thể: Chương 1: 40 đề ; Chương 2 : 20 đề: ; Chương 3: 20 đề.  Thiết kế phiếu làm bài và chấm TN TN.  Sử dụng phần mềm Violet, thiết kế 244 câu TN gồm các dạng: câu hỏi nhiều lựa chọn, câu đúng sai, câu ghép đôi, câu điền khuyết, bài tập ô chữ. Cụ thể: Chương 1:142 câu; Chương 2:56 câu; Chương 3:46 câu. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN 1.1. Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận 1.1.1. Khái niệm Theo [22, tr.9-10]: “ TN khách quan (TNKQ) là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS bằng hệ thống câu hỏi TN khách quan. TN tự luận (TNTL) là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi, HS trả lời dưới dạng bài viết bằng ngôn ngữ của mình trong một khoảng thời gian định trước”. 1.1.2. Ưu nhược điểm của trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận Chúng ta không thể khẳng định rằng phương pháp TN nào là tốt nhất, tùy vào trường hợp cụ thể, mỗi phương pháp sẽ có những ưu điểm nổi bật được trình bày trong Bảng 1.1 [25, tr.9]: Bảng 1.1. Bảng so sánh TNKQ và TNTL ƯU ĐIỂM NỘI DUNG TNKQ TNTL 1. Ít tốn công ra đề thi X 2. Đánh giá khả năng diễn đạt, tính sáng tạo X 3. Đánh giá kĩ năng viết, kĩ năng trình bày X 4. Dễ phản hồi thông tin đến người học X 5. Đề thi phủ kín môn học X 6. Ít tốn công chấm thi X 7. Khách quan trong chấm thi, độ tin cậy cao X 8. Ra nhiều đề thi có độ khó tương đương X 9. Hạn chế học tủ X 10. Dễ đánh giá sự tiến bộ người học X Theo tác giả Lâm Quang Thiệp [25, tr.11] và Dương Thiệu Tống [26, tr. 10-11-12]: Phương pháp TNKQ nên dùng trong những trường hợp sau:  Khi số HS cần kiểm tra quá đông;  Khi muốn chấm bài nhanh;  Khi muốn có điểm số đáng tin cậy. không phụ thuộc vào người chấm;  Hạn chế sự gian lận trong thi cử;  Muốn kiểm tra phạm vi kiến thức rộng, hạn chế học tủ, học vẹt và hạn chế tối đa sự may rủi. Phương pháp TNTL nên dùng trong các trường hợp sau:  Khi thí số lượng HS không quá đông;  Khi muốn khuyến khích và đánh giá cách diễn đạt;  Khi muốn tìm hiểu ý tưởng, phát huy tính sáng tạo của HS;  Khi có thể tin tưởng vào khả năng chấm bài của GV là chính xác;  Khi không có nhiều thời gian để soạn đề nhưng có nhiều thời gian chấm bài. 1.1.3. Các hình thức câu trắc nghiệm khách quan và nguyên tắc biên soạn câu trắc nghiệm Theo tác giả Dương Thiệu Tống [26, tr.47]: “Các câu hỏi TN có thể được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau. Hình thức nào cũng có những ưu điểm của nó, và vấn đề quan trọng đối với người soạn thảo là biết công dụng của mỗi loại để lựa chọn hình thức câu TN nào thích hợp nhất cho việc khảo sát khả năng hay kiến thức mà ta dự định đo lường”. Đa số các tác giả đều phân chia các câu TN thành 4 loại theo Bảng 1.2: TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN Câu TN đúng sai Câu TN nhiều lựa chọn Câu ghép đôi Câu điền khuyết Bảng 1.2. Phân loại câu trắc nghiệm 1.1.3.1. Câu trắc nghiệm đúng – sai a. Hình thức câu trắc nghiệm Loại này được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và HS phải trả lời bằng cách lựa chọn Đúng (Đ) hoặc Sai (S). Ví dụ: Hãy đánh dấu X vào ô trống nếu các câu sau đây là Đ hoặc S: Nội dung Đ S A. Oxit axit là những oxit tác dụng với dung dịch bazơ tạo thành muối và nước. x B. Có thể dùng dung dịch Ca(OH)2 để tách khí CO ra hỗn hợp khí CO2 và CO. x C. Bột CuO tác dụng được với nước tạo thành Cu(OH)2. x D. Al2O3, ZnO có thể tác dụng được với dung dịch bazơ tạo thành muối và nước. x b. Ưu nhược điểm của loại câu hỏi đúng – sai Ưu:  Đây là câu hỏi đơn giản nhất để TN kiến thức về những sự kiện;  Ít tốn thời gian. Nhược:  Có sự may rủi, sự đoán mò đúng đến 50%, độ tin cậy thấp.  Gây tác dụng ngược vì HS có thể nhớ những câu phát biểu sai. Phân tích: Trong câu TN trên,  Câu A, GV lấy nguyên văn có sẵn trong sách giáo khoa hóa 9, câu hỏi này không đánh giá trình độ HS. Chỉ nên dùng khi cần HS thuộc một số kiến thức cơ bản nào đó.  Câu D, GV dựa vào nguyên văn nội dung trong sách giáo khoa hóa 9, nhưng có biến đổi chút ít. Sự đầu tư vào câu hỏi không nhiều.  Câu B và C, GV có sự đầu tư, chỉ cần dựa vào tính chất hóa học, GV có thể xây dựng được một câu hỏi đúng sai. Vì vậy không cần nhiều thời gian, GV có thể soạn rất nhiều loại câu hỏi này. c. Nguyên tắc biên soạn loại câu hỏi đúng – sai  Các câu hỏi loại đúng – sai chỉ nên mang một ý tưởng chính yếu, không nên có hai hay nhiều ý tưởng trong mỗi câu.  Tránh dùng những chữ như: “luôn luôn”, “tất cả”, “không bao giờ”, “không thể được”, “chắc chắn”, vì các câu mang các từ này thường có triển vọng sai. Ngược lại, những chữ như: “thường thường”, “đôi khi”, “ít khi” lại hay đi đôi những câu trả lời đúng.  Viết đúng văn phạm. Tránh để HS chọn “sai” chỉ vì cách diễn đạt của GV không chính xác.  Không nên trích nguyên văn câu hỏi từ sách giáo khoa, nên diễn tả lại các điều đã học dưới dạng những câu mới và yêu cầu áp dụng kiến thức đã học.  Tránh để HS đoán câu trả lời đúng nhờ chiều dài câu hỏi. Số câu đúng và số câu sai nên gần bằng nhau. 1.1.3.2. Câu điền khuyết a. Hình thức câu trắc nghiệm Người làm bài phải điền vào chỗ trống những từ hoặc nhóm từ phù hợp. Các câu điền khuyết thường có hai dạng: a.1. Câu điền khuyết không có sẵn các từ khóa nước kim loại oxit axit, axit, bazơ Ví dụ: Hãy chọn các từ thích hợp điền vào những chỗ trống sau: a) Trong một chu kì, khi đi từ đầu tới cuối chu kì: Số electron ở lớp ngoài cùng của nguyên tử (tăng dần)từ 1 đến 8. Tính kim loại của các nguyên tố (giảm dần), đồng thời tính phi kim (tăng dần) . b) Trong một nhóm, khi đi từ trên xuống dưới theo chiều tăng của điện tích hạt nhân: Số lớp electron của nguyên tử (tăng dần), tính kim loại của các nguyên tố (tăng dần) đồng thời tính phi kim của các nguyên tố (giảm dần) - Với loại câu điền khuyết, GV không cần phải tốn thời gian soạn câu, GV lấy nguyên nội dung trong sách giáo khoa hóa 9, chỉ cần bỏ đi một số từ khóa quan trọng. - HS chỉ cần thuộc nội dung bài học có thể trả lời, tuy nhiên với câu hỏi này, cũng sẽ gây khó khăn cho những HS chưa hiểu kĩ bài, có thể nhầm lẫn giữa các từ khóa. a.2. Câu điền khuyết có sẵn từ khóa Ví dụ 1: Số từ khóa cho sẵn và bằng với số từ trong đáp án Chọn các từ thích hợp vào các ô trống trong các câu sau: Oxit bazơ là oxit của (1)và tương ứng với một (2) Oxit bazơ tác dụng với (3)tạo thành dung dịch bazơ (kiềm), tác dụng với (4).tạo thành muối và nước, tác dụng với (5)tạo thành muối. Trường hợp này, HS chỉ cần điền đúng một số ô trống, là có thể đoán được các từ khóa còn lại phải điền vào. Như vậy xác suất đoán mò cao. nước, oxit bazơ, kim loại, phi kim, axit, bazơ, oxit axit oxit bazơ, axit Ví dụ 2: Số từ khóa cho nhiều hơn số từ trong đáp án Chọn các từ thích hợp vào các ô trống trong các câu sau: Oxit bazơ là oxit của (1).và tương ứng với một (2) Oxit bazơ tác dụng với (3)tạo thành dung dịch bazơ (kiềm), tác dụng với (4).tạo thành muối và nước, tác dụng với (5)tạo thành muối. So với ví dụ 1, trường hợp này xác suất đoán mò không cao, HS có nguy cơ sai nhiều hơn nếu như HS đó không thuộc kĩ bài học. Tuy nhiên trong trường hợp có quá nhiều từ để gây nhiễu, HS sẽ mất thời gian đọc các từ khóa. b. Ưu nhược điểm của câu điền khuyết Ưu:  HS có cơ hội phát huy óc sáng kiến;  Dễ soạn câu hỏi;  Đánh giá mức hiểu biết về các nguyên lý, giải thích dữ kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ;  Giúp HS rèn luyện trí nhớ. Nhược:  Phạm vi khảo sát thường chỉ giới hạn vào các chi tiết độ đo giá trị thấp;  Chấm bài mất nhiều thời gian hơn so với các câu TN khách quan khác; c. Nguyên tắc biên soạn loại câu hỏi điền khuyết  Lời chỉ dẫn phải rõ ràng.  Chỉ nên chừa trống các chữ quan trọng.  Trong những bài TN dài có nhiều chỗ trống GV nên đánh số thứ tự các chỗ trống để điền, khoảng cách trống nên có chiều dài bằng nhau để HS không đoán được các chữ phải trả lời. 1.1.3.3. Câu ghép đôi a. Hình thức câu trắc nghiệm Là một dạng đặc biệt của hình thức TN. Trong loại này có hai cột gồm những thông tin về kiến thức. người làm bài phải chọn những phương án ở hai cột để ghép với nhau cho phù hợp. a.1. Khi nội dung cần ghép ở 2 cột bằng nhau Ví dụ 1: Hãy ghép các nội dung ở cột (I) với một nội dung ở cột (II) cho phù hợp CỘT (I) CỘT (II) 1. CaO tác dụng với nước 2. Dẫn từ từ khí CO2 vào cốc đựng . dung dịch nước vôi trong, 3. Cho dung dịch BaCl2 vào dung dịch HNO3, 4.Cho mãnh kẽm vào dung dịch axit HCl A. xuất hiện kết tủa trắng. B. không có hiện tượng gì. C. xuất hiện bọt khí. D. tạo thành dung dịch làm quỳ tím hóa xanh, tỏa nhiều nhiệt. Đáp án: 1D; 2A; 3B ; 4C a.2. Khi nội dung cần ghép ở hai cột không bằng nhau Ví dụ 2: một nội dung ở cột I ghép với một nội dung cột II CỘT (I) CỘT (II) 1. Cho Na vào nước, 2. Dẫn từ từ khí CO2 vào cốc đựng dung dịch nước vôi trong 3. Cho dây nhôm vào dung dịch NaOH. 4. Cho dung dịch CuSO4 vào dung dịch NaOH, A. xuất hiện kết tủa xanh. B. xuất hiện bọt khí, dung dịch tạo thành làm quỳ tím hóa xanh. C. xuất hiện kết tủa trắng. D. Không có hiện tượng gì. E. xuất hiện bọt khí. Đáp án: 1B; 2C; 3E; 4A Ví dụ 3: một, hai nội dung nội dung ở cột I có thể ghép với một nội dung cột II CỘT (I) CỘT (II) 1. Cho Na vào nước, 2. Dẫn khí từ từ CO2 vào cốc đựng dung dịch nước vôi trong, 3. Cho dây nhôm vào dung dịch NaOH, 4. Cho mãnh kẽm vào dung dịch axit HCl, A. xuất hiện kết tủa xanh. B. xuất hiện bọt khí, dung dịch tạo thành làm quỳ tím hóa xanh. C. xuất hiện kết tủa trắng. D. không có hiện tượng gì. E. xuất hiện bọt khí. Đáp án: 1B; 2C; 3E; 4E Ở ví dụ 3, có phương án nhiễu, mặc dù tỉ lệ đoán mò giảm nhưng HS phải tốn thời gian đọc hết các phương án, do đó số lượng câu TN giảm đi, nên cơ hội kiểm tra các kiến thức khác giảm. b. Ưu nhược điểm của câu ghép đôi Ưu:  Dễ viết và dễ dùng;  Giảm yếu tố đoán mò;  Có thể đo các mức trí năng khác nhau. Nhược:  Số câu ở hai cột bằng nhau, nếu HS biết được một số câu trả lời, các câu còn lại dù không biết hết nhưng có thể đoán mò;  Số câu trả lời cột bên phải quá nhiều so với cột bên trái, HS mất nhiều thời gian đọc. c. Nguyên tắc biên soạn loại câu hỏi  Phải xác định rõ tiêu chuẩn để ghép một phần tử của cột trả lời và phần tử tương ứng của cột câu hỏi. Phải nói rõ mỗi phần tử trong cột trả lời chỉ được dùng một lần hay được dùng nhiều lần.  Số phần tử để chọn lựa trong cột trả lời nên nhiều hơn số phần tử trong cột câu hỏi.  Các câu hỏi nên có tính chất đồng nhất hoặc liên hệ nhau.  Tất cả các phần tử cùng danh sách nên nằm cùng một trang để HS đỡ nhầm lẫn hay khó khăn khi phải lật qua lật lại một trang nhiều lần. 1.1.3.4. Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn a. Hình thức câu trắc nghiệm Loại câu hỏi này gồm có hai phần: phần “gốc” và phần “lựa chọn”.  Phần gốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất), còn gọi là phần dẫn.  Phần lựa chọn gồm một số (thường là 4 hay 5) phương án trả lời cho sẵn để thí sinh chọn ra câu trả lời đúng nhất. Ngoài một phương án đúng, các phương án trả lời khác trong các phương án lựa chọn phải có vẻ hợp lý đối với thí sinh, đó là những phương án “nhiễu” hay “mồi nhử”. Ví dụ 1: Tập hợp những oxit bazơ nào sau đây tác dụng được với nước ở nhiệt độ thường: a. Al2O3, BaO, CaO, MgO b. CaO, Fe2O3, BaO, Al2O3 *c.K2O, Na2O, CaO, BaO 1 d. Na2O, CaO, K2O, Fe2O3 Ví dụ 2: Tập hợp những oxit bazơ nào sau đây tác dụng được với nước ở nhiệt độ thường: a. Al2O3, BaO, CaO, MgO b. Na2O, CaO, K2O, Fe2O3 c. CaO, Fe2O3, BaO, Al2O3 *d. K2O, Na2O, CaO, BaO e. CaO, MgO, BaO, Al2O3 Khó khăn nhất khi soạn câu hỏi này chính là các phương án nhiễu. Phải lựa chọn các phương án nhiễu như thế nào để hấp dẫn và hợp lý. 1 Đáp án đúng của câu hỏi nhiều lựa chọn được in đậm và có dấu * b. Ưu nhược điểm của câu hỏi nhiều lựa chọn Ưu:  Khi phân tích tính chất của mỗi câu hỏi, những câu nhiễu trong TN nhiều lựa chọn giúp người học tránh những sai lầm thường mắc phải, đồng thời giúp GV điều chỉnh nội dung dạy học cho sát đối tượng.  Độ tin cậy cao. Yếu tố đoán mò giảm khi số phương án lựa chọn tăng lên.  Độ phân biệt tương đối lớn, dùng tốt trong các kì thi tốt nghiệp và tuyển sinh.  Bảo đảm tính khách quan khi chấm, chấm nhanh, có thể đục lỗ hoặc dùng máy quét để chấm. Nhược:  Khó soạn câu hỏi, tốn kém nhiều thời gian, tốn nhiều giấy để in.  Đôi khi các câu TN không có bề sâu, thang điểm bằng nhau không công bằng giữa các câu.  Bản thân câu TN khách quan bị chi phối chủ quan của người sọan đề TN.  Không cho phép người học diễn đạt ý tưởng và phát huy tính sáng tạo. c. Nguyên tắc biên soạn loại câu hỏi nhiều lựa chọn c.1. Đối với phần dẫn  Câu hỏi phải diễn đạt rõ ràng, mang trọn ý nghĩa.  Câu dẫn là câu nêu vấn đề cần ngắn gọn.  Câu dẫn phải mạch lạc, không dùng nhiều từ phủ định. Ví dụ: Không để canxi oxit lâu ngày trong tự nhiên do canxi oxit sẽ không giữ chất lượng vì đã tác dụng với: a. Oxi *b. Cacbon dioxit c. Nitơ d. Cacbon oxit Sửa lại: Để lâu ngày trong tự nhiên, canxi oxit sẽ giảm chất lượng vì đã tác dụng với: a. Oxi *b. Cacb
Luận văn liên quan