Mối quan hệ giữa giá vàng, giá dầu mỏ và đồng USD

Giá vàng đã tăng nhẹ trong tuần giao dịch vừa qua sau đợt bán tháo mạnh vào tuần trước. Vàng đã trở thành nơi trú ẩn an toàn khi đồng bạc xanh suy yếu bởi các gói kích thích kinh tế Mỹ là QE1 và QE2 trong suốt vài năm qua. Vàng cũng được coi là kênh trú ẩn an toàn khi trở thành khi mà lạm phát đang tăng cao trên thế giới. Điều này đã đẩy vàng tăng giá rất mạnh trong thời gian vừa qua trước khi xuất hiện sự bán tháo đột ngột. Giá vàng hiện tại có nhiều ý kiến trái chiều nhau khi mà Soros đã bán ra vàng và cho rằng giá vàng đã đạt bong bóng cực đại và bắt đầu vỡ. Ở phía ngược lại quỹ SPDR thì không đưa ra bình luận gì về giá vàng nhưng liên tục bán ra vàng với khối lượng lớn khi giá vàng quay trở lại vùng giá 1500$. Nhiều nhà đầu tư vẫn tin rằng việc giảm giá của vàng hiện tại chỉ là đợt điều chỉnh sau chuỗi tăng giá mạnh thời gian vừa qua. Giá vàng sẽ còn tiếp tục tăng mạnh trong tương lai và vàng hiện không thể giảm giá. Còn quá sớm để kết luận ai sẽ là người dự đoán đúng về giá vàng. Chúng tôi chỉ lưu ý rằng trong quá khứ giá vàng đã từng giảm giá mạnh và điều này nếu có xảy ra trong thời gian tới thì cũng không phải là điều gì đó quá bất ngờ. Ngoài ra, một vấn đề cần chú ý là vàng với sự tăng giá quá mạnh trong thời gian qua cũng đã thúc đẩy hoạt động đầu cơ rất mạnh. Với việc S&P 500 hạ mức tín nhiệm của Mỹ, chi phí đi vay sẽ tăng lên. Nếu gói QE2 kết thúc và Fed bắt đầu nâng lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát thì chi phí đi vay sẽ tiếp tục tăng lên. Trong thời gian qua, hầu hết các NHTW trên thế giới đều tăng lãi suất nhằm giảm áp lực lạm phát. Đây không phải là điểm tích cực đối với đà tăng giá của vàng. Hiểu một cách đơn giản là nếu giá tăng cao, bạn sẽ mất nhiều tiền hơn để sở hữu cùng một khối lượng. Nếu trong số tiền đó có tiền đi vay, chi phí đi vay đắt đỏ hơn khiến bạn phải thận trọng hơn trong mỗi đợt tăng giá. Khi giá tăng tới mức độ nào đó, một số nhóm sẽ bán ra vàng nhằm giữ trạng thái an toàn. Việc bán này có khiến giá vàng điều chỉnh giảm và có thể kéo theo hành động bầy đàn trong việc tháo chạy.

docx25 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 18/12/2012 | Lượt xem: 6652 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Mối quan hệ giữa giá vàng, giá dầu mỏ và đồng USD, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trên thế giới, vàng, dầu mỏ và đồng USD đều được coi là những nhân tố chính, nhạy cảm quyết định chiều hướng phát triển những mối quan hệ quốc tế. Thời gian gần đây, giá dầu, vàng có xu hướng tăng lên đến mức khó kiểm soát, trong khi đó, đồng USD lại giảm so với nhiều đồng tiền mạnh trên thế giới, xu hướng này phải chăng đang làm thay đổi các mối quan hệ quốc tế? Giá vàng Giá vàng đã tăng nhẹ trong tuần giao dịch vừa qua sau đợt bán tháo mạnh vào tuần trước. Vàng đã trở thành nơi trú ẩn an toàn khi đồng bạc xanh suy yếu bởi các gói kích thích kinh tế Mỹ là QE1 và QE2 trong suốt vài năm qua. Vàng cũng được coi là kênh trú ẩn an toàn khi trở thành khi mà lạm phát đang tăng cao trên thế giới. Điều này đã đẩy vàng tăng giá rất mạnh trong thời gian vừa qua trước khi xuất hiện sự bán tháo đột ngột. Giá vàng hiện tại có nhiều ý kiến trái chiều nhau khi mà Soros đã bán ra vàng và cho rằng giá vàng đã đạt bong bóng cực đại và bắt đầu vỡ. Ở phía ngược lại quỹ SPDR thì không đưa ra bình luận gì về giá vàng nhưng liên tục bán ra vàng với khối lượng lớn khi giá vàng quay trở lại vùng giá 1500$. Nhiều nhà đầu tư vẫn tin rằng việc giảm giá của vàng hiện tại chỉ là đợt điều chỉnh sau chuỗi tăng giá mạnh thời gian vừa qua. Giá vàng sẽ còn tiếp tục tăng mạnh trong tương lai và vàng hiện không thể giảm giá. Còn quá sớm để kết luận ai sẽ là người dự đoán đúng về giá vàng. Chúng tôi chỉ lưu ý rằng trong quá khứ giá vàng đã từng giảm giá mạnh và điều này nếu có xảy ra trong thời gian tới thì cũng không phải là điều gì đó quá bất ngờ. Ngoài ra, một vấn đề cần chú ý là vàng với sự tăng giá quá mạnh trong thời gian qua cũng đã thúc đẩy hoạt động đầu cơ rất mạnh. Với việc S&P 500 hạ mức tín nhiệm của Mỹ, chi phí đi vay sẽ tăng lên. Nếu gói QE2 kết thúc và Fed bắt đầu nâng lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát thì chi phí đi vay sẽ tiếp tục tăng lên. Trong thời gian qua, hầu hết các NHTW trên thế giới đều tăng lãi suất nhằm giảm áp lực lạm phát. Đây không phải là điểm tích cực đối với đà tăng giá của vàng. Hiểu một cách đơn giản là nếu giá tăng cao, bạn sẽ mất nhiều tiền hơn để sở hữu cùng một khối lượng. Nếu trong số tiền đó có tiền đi vay, chi phí đi vay đắt đỏ hơn khiến bạn phải thận trọng hơn trong mỗi đợt tăng giá. Khi giá tăng tới mức độ nào đó, một số nhóm sẽ bán ra vàng nhằm giữ trạng thái an toàn. Việc bán này có khiến giá vàng điều chỉnh giảm và có thể kéo theo hành động bầy đàn trong việc tháo chạy. Do vậy, sự thận trọng đối với kim loại quý là cần thiết đặc biệt trong bối cảnh giá bạc đã bị bán tháo rất mạnh trong thời gian vừa qua, giảm tới hơn 30% so với mốc đỉnh. Điều này hàm ý rằng nếu bạn quá say máu với việc tăng giá của vàng, bạn có thể mất tất cả nếu có sự tháo chạy xảy ra. Trên phương diện phân tích kỹ thuật, giá vàng hiện tại đang nhận được sự hỗ trợ tại kênh tăng giá thiết lập từ tháng 3/2011 trở lại đây. Giá cũng đang nhận được sự hỗ trợ trung hạn tại đường MA(50). Xu thế hiện tại là 5/5 bởi các yếu tố kỹ thuật khác ở trạng thái lửng lơ. Do vậy, chúng tôi cho rằng các nhà đầu tư chưa nên dò đáy vào lúc này. Quan điểm của chúng tôi là giá vàng mặc dù đã có sự phục hồi tới ốc 1.526,80$ nhưng xu hướng giảm vẫn hữu hiệu. Mục tiêu có thể là mốc 1.411,90$ tương ứng với mức giảm 100% Finabocci kể từ mốc đỉnh 1.577,40$ nếu ngưỡng hỗ trợ trung hạn của đồ thị bị phá vỡ. Giá dầu thô Dầu thô đã tăng giá nhẹ vào phiên giao dịch ngày cuối tuần. Nhân tố thúc đẩy dầu thô tăng giá bao gồm: (1) Lũ lụt tồi tệ nhất của sông Misissippi trong 75 năm qua có thể hạn chế nguồn cũng xăng của Mỹ khi phải bắt buộc đóng cửa 11 nhà máy lọc dầu giữa New Orleans và Baton Rouge với tổng công suất 2,5 triệu thùng/1 ngày (Chiếm 13% sản lượng lọc dầu của Mỹ). (2) Cuộc chiến tranh tại Lybia vẫn tiếp tục kéo dài khi mà liên quân Nato đang tính tới phương án mở rộng chiến tranh sau khi đã không thể giành thêm những bước tiến đáng kể nào trong vài tuần qua. Trong khi đó Mỹ lại từ chối viện trợ tài chính cho quân nổi dậy. Nhân tố ngăn cản đà tăng giá của dầu thô là: (1) IEA dự báo rằng nhu cầu dầu mỏ sẽ giảm 190 ngàn thùng/ ngày trong năm 2011. (2) PBOC tăng dự trữ bắt buộc nhằm kiềm chế lạm phát khiến nền kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng chậm lại và nhu cầu năng lượng sẽ sụt giảm.  (3) Đồng đô la đã có những tín hiệu tích cực kể từ mốc thấp nhất 2,75 năm qua khi đã tăng và phá vỡ ngưỡng kháng cự của kênh giảm giá kể từ tháng 1/2011 trở lại đây khiến giảm nhu cầu đầu tư vào hàng hóa. Trên phương diện phân tích kỹ thuật, giá dầu đã cho tín hiệu giảm giá trung hạn sau đợt bán tháo mạnh vừa qua. Hiện tại, giá dầu sau khi rơi ra khỏi dải Bollinger Band đã tăng giá và quay trở lại bên trong dải Bollinger Band nhưng giá mặc dù đã có vài phiên Pull Back trở lại nhưng vẫn không thể vượt qua mốc 105$ để quay trở lại xu hướng tăng giá. Hiện tại đường số (1) sẽ đóng vai trò là đường kháng cự của giá dầu. Nếu giá dầu không chinh phục thành công ngưỡng kháng cự này, thì việc phục hồi vừa qua đơn giản chỉ là việc phục hồi vào trong và sau đó tiếp tục đi xuống khi giá bám theo dải Bollinger Band thấp. Nếu dải Bollinger Band thấp mở rộng xuống phía dưới để hỗ trợ giá xuống, đây sẽ là tín hiệu nguy hiểm. Điểm đáng chú ý nữa là giá dầu đang có mẫu hình biến động vai đầu vai đảo chiều ở đỉnh với hỗ trợ là đường số (2). Một “Break out” khỏi ngưỡng hỗ trợ số (2) sẽ đẩy giá dầu về vùng giá 80$. Mối quan hệ giữa giá vàng, giá dầu mỏ và đồng USD Thử lật lại lịch sử về mối quan hệ của 3 yếu tố này ta nhận thấy đôi điều đáng lưu ý: Sau thế chiến năm 1945, Mỹ đứng đầu thế giới về tỷ lệ dự trữ vàng (3/4 trữ lượng vàng của thế giới được dự trữ tại các nhà băng Mỹ). Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1971, hầu hết các nước đều bán vàng mua đồng đôla Mỹ để tăng dự trữ ngoại tệ, cũng là điều chỉnh cân bằng thương mại giữa các nước. Thời kỳ này, đồng USD mặc nhiên được coi như một đồng tiền chung trong giao dịch thương mại quốc tế. Thời kỳ này, giá vàng dao động quanh ngưỡng 35USD/ounce, giá dầu ở mức 3 USD/ thùng. Năm 1971, Mỹ ngừng bán vàng ra thị trường thế giới. Để đáp lại, các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) buộc phải bán lượng USD đang dự trữ đề mua vàng trên thị trường thế giới. Hệ quả là đã đẩy giá dầu tăng lên gấp chục lần lên mức 40USD/thùng và vàng là 850 USD/ounce (tính theo thời giá hiện nay là khoảng 2500 USD/ounce). Đây được đánh giá là một cú sốc lớn đối với nền tài chính thế giới, là hệ quả của việc gỡ bỏ hệ thống bản vị vàng ra khỏi đồng USD trong tháng 8/1971 của tổng thống Mỹ Richard M Nixon. Chúng ta có thể giải thích mối quan hệ này một cách đơn giản như sau: Dầu là nguồn đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất. Bất cứ sự biến động của giá dầu mỏ cũng tác động dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế thế giới. Vì thế để giữ vứng nền kinh tế phát triển ổn định, các nước có nền kinh tế lớn như Nga, Mỹ… có xu hướng xây dựng các kho dự trữ dầu mỏ và tăng cường dự trữ vàng. Bởi lẽ đây là hai loại hàng hóa không bị mất giá trị. Tuy nhiên, dầu mỏ dưới vai trò lớn hơn hàng hóa tích trữ, khi giá dầu mỏ tăng tất yếu dẫn đến hệ quả tiền USD giảm giá trị, và các nước càng có xu hướng nhập vàng về tích trữ, do đó nhu cầu vàng trên thế giới sẽ tăng và kéo theo sự tăng giá của vàng. Năm 2006 cũng là năm đánh dấu mức kỷ lục của giá vàng, giá dầu và một lần nữa minh chứng cho thấy sự đồng hành của giá vàng và giá dầu. Giá dầu đạt mức kỷ lục 78,40 USD/thùng vào ngày 13/7/2006. Mức kỷ lục này cao hơn 39% so với mức giá cao nhất trong năm 2004 là 56,37 USD/thùng (ngày 26/10/2004) và trên 10% so với mức cao nhất năm 2005 là 70,85 USD/thùng vào ngày 27/8/2005. Các kỷ lục về giá dầu tại thời điểm đó và những nguyên nhân của nó cũng không nằm ngoài những nguyên nhân cố hữu như cầu tăng, nguồn cung hạn chế do những xung đột về chính trị ở các nước sản xuất dầu mỏ, dự trữ năng lượng tại Mỹ… Vào đầu năm 2006, giá vàng thế giới từ mức 517 USD/ounce đã tăng liên tục và đến ngày 12/5 đã đạt mức kỷ lục là 732 USD/ounce, để rồi giảm liền một mạch xuống còn 543 USD/ounce chỉ trong vòng 1 tháng. Nhưng ngay sau đó, giá vàng lại tăng lại gần 140 USD/ounce lên mức 675 USD/ounce vào nửa cuối tháng 7 – 2006. Một biến động chưa từng có trong lịch sử giá vàng khoảng 1/4 thế kỷ trở lại đây. Giá vàng thế giới trong phiên giao dịch cuối cùng của năm 2006 ở mức 635 USD/ounce, tăng gần 23% so với thời điểm đầu năm. Nguyên nhân diễn biến thất thường của giá vàng và đạt được kỷ lục cao chủ yếu là do xu hướng mất giá của đồng USD. Trong năm 2008, thị trường tài chính thế giới bước vào khủng hoảng. Sự đổ vỡ của gần 70 Ngân hàng của Mỹ kéo theo sự u ám của nền kinh tế thế giới. Vậy là chính phủ các nước phát triển mà đứng đầu là Mỹ, EU, Nhật,.. liên tiếp tung các gói hỗ trợ kinh tế nhằm hà hơi” thổi ngạt nền kinh tế. Tuy nhiên, sự bơm vốn mạnh mẽ của các Chính phủ khiến gia tăng sự thâm hụt ngân sách nặng nề. Ở đây ta hãy khoan bàn đến vấn đề thâm hụt ngân sách Chính phủ, mà chỉ đánh giá tác động của việc bơm tiền cứu nền kinh tế. Trước hết, các gói hỗ trợ kinh tế có mặt tốt là thúc đẩy sự thanh khoản của thị trường, cung ứng vốn cho các lính vực sản xuất quan trọng. Tuy nhiên, viêc tăng cung tiền khi nền kinh tế chưa “hấp thụ” được đã khiến đồng USD bị giảm giá mạnh so với các đồng tiền khác như đồng EUR, đồng Yên Nhật. Điều này dĩ nhiên gây nên mối lo ngại sâu sắc đối với các nước OPEC và những nước đang có lượng dự trữ bằng đồng USD lớn. Nhận định thị trường vàng thế giới và Việt Nam Xu hướng giá cả hiện nay, giá vàng thế giới chưa có xu hướng dừng lại mà vẫn trên đà tăng mạnh. Khi nền kinh tế khủng hoảng và bất ổn, vàng vẫn là một tài sản an toàn để cất giữ đối với các Chính phủ. Biểu đồ giá vàng thế giới trong năm 2009, các khói kích thích tăng trường kinh tế của Mỹ và các nước đang dần phát huy được tác dụng. Tuy nhiên, hệ quả từ các gói kích vô hình chung cũng kéo “lạm phát” quay đầu trở lại. Hơn nữa, nhu cầu về năng lượng gia tăng cũng là một nhân tố kéo giá vàng tăng. Bên cạnh đó, một thống kê khác từ cơ quan thông tin năng lượng Mỹ thì nhu cầu sử dụng năng lượng của Mỹ hiện nay đã giảm trung bình khoảng 800.000 thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước. Trước đó cơ quan năng lượng quốc tế IEA đưa ra dự báo về nhu cầu sử dụng dầu trên thế giới sẽ tăng trong những tháng cuối năm 2009 nhưng nguồn cung ứng dầu cũng sẽ tăng tương ứng. Nếu điều này xảy ra thì diễn biến của giá vàng càng khó dự đoán. Theo ý kiến cá nhân của người viết thì hiện thời giá vàng tăng là quá nóng và nó không xuất phát từ yếu tố cung – cầu thực. Bởi các nguyên nhân chính sau: - Theo Báo cáo thống kê Quý 2 của Hội đồng Vàng thế giới (World Gold Council) cho thấy nhu cầu đầu tư vàng vật chất thế giới sụt giảm 9% trong khi nguồn cung vàng lại tăng 14% so với năm 2008. Vì vậy, giá vàng thế giới hiện tăng trên ngưỡng 1000 USD/ounce không xuất phát từ chênh lệch cung – cầu. - Đợt tăng giá vàng lên 1000 USD/ounce sau khi vàng vượt qua ngưỡng 970 USD/ounce một phần do sự “đón đầu” nhu cầu tiêu thụ vàng trong mùa lễ hội của Ấn Độ và nhu cầu vàng cuối năm của Trung Quốc và một số nước châu Âu. Khi giá vàng tăng, nó kéo theo nhu cầu đầu cơ của các tổ chức đầu cơ và các quỹ đầu tư và cùng kéo giá vàng lên cao. Gần đây thông tin thông tin các nước OPEC đang xem xét việc từ bỏ định giá dầu bằng tiền USD sang một loại ngoại tệ khác,ví dụ như EUR cũng khiến các nhà đầu tư tin rằng đồng USD sẽ mất giá và tất yếu vàng sẽ tăng giá. Thực tế cho thấy, một lượng tiền lớn được Chính phủ Mỹ đổ ra để cứu nền kinh tế cũng tạo ra áp lực lớn khiến đồng USD hiện đang trượt giá so với một loạt ngoại tệ mạnh khác như đồng EUR, đồng Yên… Tuy nhiên, sẽ bất ngờ nếu như đà giảm giá của đồng USD bị chậm lại và đổi chiều. Khi này, các nhà đầu cơ vàng sẽ nhanh chóng bán vàng ra, khi đó giá vàng sẽ giảm và trở lại đúng giá trị cung – cầu. Như vậy, có thể thấy, việc đầu tư vàng trong thời điểm hiện nay là tương đối rủi ro. Theo nhận định của người viết, giá vàng hiện tại là cao và không xuất phát từ quy luật cung – cầu. Cố gắng đi tìm mối quan hệ giữa giá vàng, giá dầu, và giá USD sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quan và đưa ra cách giải thích hợp lý cho sự biến động giá vàng trong thời gian tới. Một nguyên nhân khiến vàng tăng giá Theo đánh giá của các chuyên gia phân tích, trào lưu dehedging của các công ty khai mỏ xuất hiện như một yếu tố cơ bản thúc đẩy giá vàng tăng cao. Tổng khối lượng vàng mà các công ty khai thác mua lại trong quý 3 đã đạt tới con số 105 tấn. Điều này đóng vai trò hết sức quan trọng, giải thích cho đà tăng đạt tới $50/oz của kim loại quý. Mặc dù khối lượng vàng mua lại của hai công ty khai thác mỏ hàng đầu thế giới là Anglo Gold Ashanti và Barrick Gold được dự định là sẽ tăng cao, song hiện tại vẫn chưa có thông tin cụ thể nào được công bố cả. Có thể nhận thấy, trong quý cuối của năm 2009, giá vàng đã thiết lập mức tăng đạt gần $200/oz. Ông Rozanna Wozniak, giám đốc bộ phận nghiên cứu đầu tư của World Gold Council nhận xét: Theo Hội đồng Vàng Thế Giới (WGC), nếu khối lượng vàng biến mất khỏi các hợp đồng phòng vệ trong quý 1 và quý 2 của năm 2009 chỉ là 1 và 31 tấn thì con số này đã đạt tới 105 tấn trong quý 3/2009. Có lẽ công bố Barrick Gold đã trở thành một trong những sự kiện gây được nhiều sự chú ý nhất. Công ty khai thác hàng đầu thế giới này cho biết họ sẽ chấm dứt hoàn toàn các hợp đồng bán vàng chỉ trong thời gian 1 năm. Cụ thể là, trong quý 3 vừa rồi, Barrick Gold đã chi ra một khoản tiền lớn để mua lại 2.50 triệu oz vàng. Còn tính từ thời điểm đầu quý 4 đến giờ, công ty này vẫn tiếp tục hoạt động dehedging các hợp đồng phòng vệ với số lượng lên tới 2.9 triệu oz. Cùng với 0.48 triệu oz vàng mà AngloGold Ashanti đã mua lại từ các ngân hàng và đà giảm về số lượng vàng cung cấp bởi các công ty sản xuất, hoạt động dehedging trên toàn cầu leo cao tới 3.18 triệu oz. Điều này khiến cho kho dự trữ phòng vệ của thế giới giảm xuống còn 11.55 triệu oz tính đến cuối tháng 9. Một chuyên gia phân tích thị trường vàng của GFMS tại Luân Đôn cho biết: “Thanh khoản tính theo thị giá trong quý 3 của công ty khai thác này dường như không mấy khả quan với con số 4.5 tỷ đô la. Như vậy là kể từ quý 2/2009 đến nay, hãng khai thác AngloGold Ashanti đã kiếm thêm được 1,7 tỷ đô la. Điều này cho thấy giá mà các nhà sản xuất đưa ra đang cố đuổi kịp giá vàng giao ngay trung bình trên thị trường nhờ mức tăng 4% trong quý 3, chạm mốc $943.81/oz. Các nhà đầu tư lại cho hay hiện tượng de-hedging sẽ còn tiếp tục trong lâu dài. Jeffrey Rhodes, giám đốc điều hành của INTL Commodities DMCC tại Dubai nhận xét: “Một khi bạn tiến hành de-hedging thì chắc hẳn bạn sẽ được chứng kiến cảnh giá vàng leo cao.” “Hoạt động dehedging của các công ty khai thác được coi là một trong những nguyên nhân chính khiến giá vàng tăng cao. Ban đầu các công ty này duy trì hoạt động khai thác và sản xuất với mong muốn giá vàng sẽ đi xuống. Song sau đó, họ đã sớm nhận ra xu hướng leo cao của kim loại quý và tìm đến với biện pháp deheging. Nhìn chung, tính đến thời điểm này, các công ty khai thác vẫn duy trì hoạt động mua lại các hợp đồng phòng vệ trước đó.” Mối quan hệ ngược chiều giữa vàng/USD sẽ kéo dài trong bao lâu và mạnh như thế nào? Tâm lí ưu tiên đầu tư vào các tài sản rủi ro cũng tăng lên từ khi Fed công bố mùa xuân này sẽ triển khai mua lại trái phiếu chính phủ, do vậy các chỉ số chứng khoán đã tăng, Đôla từ nước ngoài ngừng đầu tư để tập trung vào các thị trường chứng khoán trong nước”Điều này gây áp lực lên đôla trong khi đó các biện pháp của các ngân hàng TW trên thế giới lại làm dấy lên nỗi lo lạm phát dài hạn. Vàng lại được mua làm kênh phòng thủ. DầU VÀNG Dầu là đầu vào quan trọng cho sản xuất, khi giá dầu thay đổi, toàn bộ nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng, ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định của nhiều quốc gia. Điều này giải thích vì sao Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ bao gồm các nền kinh tế không lớn, nhưng lại có tiếng nói rất lớn trên các diễn đàn thế giới. Do dầu có vai trò quan trọng như vậy, nên nhiều quốc gia, nhiều tổ chức đầu cơ vào dầu thông qua hợp đồng tương lai và quyền chọn. Khi kinh tế phát triển không ổn định, nhà đầu tư tăng cường đầu tư vào vàng và dầu để bảo vệ tài sản của mình. Trên phương diện đầu cơ này, có thể nói, dầu và vàng là 2 hàng hoá bổ sung cho nhau, giá cả của chúng có xu hướng biến động cùng chiều. Tuy nhiên, khác với vàng, vai trò của dầu với tư cách là hàng hoá cũng rất lớn, lớn hơn cả vai trò là hàng hoá để đầu cơ. Trong tình hình suy thoái hiện nay, nhu cầu về dầu với tư cách là một hàng hóa (nhiên liệu) bị giảm sút quá mạnh do hoạt động sản xuất - kinh doanh bị thu hẹp. Trong khi đó, các nước sản xuất dầu vẫn phải sản xuất, vì họ phụ thuộc nặng vào nguồn thu từ dầu. Điều này làm cho giá dầu giảm. Tóm lại, khi kinh tế phát triển bình thường thì giá dầu và vàng có xu hướng biến động cùng chiều. Nhưng khi kinh tế bị suy thoái nghiêm trọng (như hiện nay) dẫn tới nhu cầu về dầu với tư cách đầu vào cho sản xuất bị giảm sút quá mạnh, thì giá dầu có thể thoát ly khỏi giá vàng. Giá vàng và giá trị của đồng đô la luôn có mối quan hệ ngược chiều. Khi đồng đô la tăng, giá vàng giảm và ngược lại. Tương quan này nảy sinh do khi nền kinh tế tiềm ẩn nhiều bất ổn, các nhà đầu tư lại coi vàng là một nơi trú ẩn an toàn cho hoạt động đầu tư của mình, coi vàng sẽ là công cụ phòng vệ giúp họ tránh khỏi sự mất giá của tiền tệ cũng như tình trạng lạm phát hoặc giảm phát. Trong vòng 50 năm qua, giá vàng và giá dầu thường song hành với nhau. Nhiều nhà phân tích cho rằng, chính giá dầu là nhân tố tạo ra chiều hướng thúc đẩy giá vàng tăng cao. Ngoài ra, giá vàng và giá dầu đều chịu sự tác động của một khuynh hướng chung, dài hạn - đó là lạm phát tiền tệ. Dưới cùng một hệ thống tiền tệ hiện hành, khuynh hướng giá dài hạn của vàng và dầu sẽcó chung một chiều hướng tương tự vì lạm phát là nhân tố điều khiển cả hai thị trường. Diễn biến giá vàng và giá dầu từ năm 1986 đến 2005 cho thấy, giá dầu đã tăng lên gần gấp 3 lần kể từ cuối năm 2001, giá vàng cũng tăng lên gấp đôi. Tỉ lệ giữa giá vàng và dầu dao động trong phạm vi từ 15 đến 20% hầu hết trong giai đoạn 1986-1999 (ngoại trừ một số thời điểm vào năm 1990 và năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ châu Á). Tỉ lệ này đã giảm mạnh bắt đầu từ năm 2001, xuống dưới 10% vào năm 2004 và đến mức thấp hơn là khoảng 8,5% vào năm 2005. Giá vàng và giá dầu từ năm 2001 đến nay có xu hướng gần như song song và theo chiều hướng đi lên. Năm 2006 cũng là năm đánh dấu mức kỷ lục của giá vàng, giá dầu và một lần nữa minh chứng cho thấy sự đồng hành của giá vàng và giá dầu. Giá dầu đạt mức kỷ lục khi lên tới mức 78,40 USD/thùng vào ngày 13/7/2006. Mức kỷ lục này cao hơn 39% so với mức giá cao nhất trong năm 2004 là 56,37 USD/thùng (ngày 26/10/2004) và trên 10% so với mức cao nhất năm 2005 là 70,85 USD/thùng vào ngày 27/8/2005. Các kỷ lục về giá dầu tại thời điểm đó và những nguyên nhân của nó cũng không nằm ngoài những nguyên nhân cố hữu như cầu tăng, nguồn cung hạn chế do những xung đột về chính trị ở các nước sản xuất dầu mỏ, dự trữ năng lượng tại Mỹ… Vào đầu năm 2006, giá vàng thế giới từ mức 517 USD/ounce đã tăng liên tục và đến ngày 12/5 đã đạt mức kỷ lục là 732 USD/ounce-mức cao nhất trong vòng 26 năm qua, để rồi giảm liền một mạch xuống còn 543 USD/ounce chỉ trong vòng 1 tháng. Nhưng ngay sau đó, giá vàng lại tăng lại gần 140 USD/ounce-lên mức 675 USD/ounce vào nửa cuối tháng 7-2006. Một biến động chưa từng có trong lịch sử giá vàng khoảng 1/4 thế kỷ trở lại đây. Giá vàng thế giới trong phiên giao dịch cuối cùng của năm 2006 ở mức 635 USD/ounce, tăng gần 23% so với thời điểm đầu năm.Nguyên nhân diễn biến thất thường của giá vàng và đạt được kỷ lục cao chủ yếu là do xu hướng mất giá của đồng USD. Nước Mỹ với lượng cung tiền cao chưa từng có, mức thâm hụt tăng lên gấp ba và các khoản nợ chồng chất đã khiến đồng USD giảm giá từ năm 2001. Đối với các nước xuất khẩu dầu và những nước đang có lượng dự trữ bằng đồng USD lớn, thì đây là điều bất lợi. Điều dễ hiểu là họ sẽ tìm cách phân tán bớt đồng USD đổi lấy ngoại tệ k
Luận văn liên quan