Người không được quyền hưởng di sản – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Một người khi qua đời không thể mang theo được những tài sản mà họ sở hữu lúc còn sống. Khi đó sẽ phát sinh sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật để có thể trở thành chủ sở hữu của tài sản, đó chính là việc thừa kế di sản theo quan hệ pháp luật dân sự. Theo nguyên tắc thì tài sản đó sẽ được chia cho những người được hưởng thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người để lại di sản hoặc những cá nhân, tổ chức theo ý chí mà người để lại di sản mong muốn. Nhưng trên thực tế, căn cứ theo quy định của pháp luật sẽ có nhiều người là người có thể được thừa kế nhưng không được quyền hưởng di sản. Để có thêm những hiểu biết về vấn đề này, hiểu tại sao lại có những người không được quyền hưởng di sản mặc dù ý chí của người chết trong di chúc là muốn họ được hưởng di sản, những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật nhưng khi chia di sản thì họ cũng không được quyền hưởng di sản, và trên thực tiễn việc áp dụng pháp luật về vấn đề này như thế nào em đã tìm hiểu và xin trình bày một số những hiểu biết của mình về đề tài “Người không được quyền hưởng di sản – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”.

doc21 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 25/05/2013 | Lượt xem: 1776 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Người không được quyền hưởng di sản – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC A. Lời mở đầu Một người khi qua đời không thể mang theo được những tài sản mà họ sở hữu lúc còn sống. Khi đó sẽ phát sinh sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật để có thể trở thành chủ sở hữu của tài sản, đó chính là việc thừa kế di sản theo quan hệ pháp luật dân sự. Theo nguyên tắc thì tài sản đó sẽ được chia cho những người được hưởng thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người để lại di sản hoặc những cá nhân, tổ chức theo ý chí mà người để lại di sản mong muốn. Nhưng trên thực tế, căn cứ theo quy định của pháp luật sẽ có nhiều người là người có thể được thừa kế nhưng không được quyền hưởng di sản. Để có thêm những hiểu biết về vấn đề này, hiểu tại sao lại có những người không được quyền hưởng di sản mặc dù ý chí của người chết trong di chúc là muốn họ được hưởng di sản, những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật nhưng khi chia di sản thì họ cũng không được quyền hưởng di sản, và trên thực tiễn việc áp dụng pháp luật về vấn đề này như thế nào em đã tìm hiểu và xin trình bày một số những hiểu biết của mình về đề tài “Người không được quyền hưởng di sản – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. I. Một số vấn đề chung về thừa kế. 1. Khái niệm thừa kế. Thừa kế tài sản là phạm trù pháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử nói riêng, nó xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội có phân chia giai cấp dựa trên cơ sở tư hữu về tài sản. Thừa kế di sản theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật. Cho dù tài sản do người chết để lại là của cá nhân hay tổ chức được hưởng thừa kế…thì nó vẫn tồn tại chung cho xã hội, vì khi tài sản này lại được sử dụng, khai thác hợp lý cũng mang lại hiệu quả kinh tế không chỉ đối với người được hưởng thừa kế mà còn có lợi ích chung cho toàn xã hội. - Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế được hiểu là một chế định pháp luật bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ về việc dịch chuyển tài sản từ người chết cho những người còn sống khác theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc hoặc theo ý chí của Nhà nước được thể hiện trong các quy phạm pháp luật. - Theo nghĩa hẹp, quyền thừa kế được hiểu là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể có quyền để lại di sản thừa kế hoặc có quyền hưởng di sản thừa kế của người chết để lại theo ý chí của người đó hoặc theo quy đinh của pháp luật. 2. Các nguyên tắc pháp luật thừa kế. Quyền thừa kế là một chế định còn chịu rất nhiều ảnh hưởng của phong tục, tập quán và truyền thống xã hội nên có rất nhiều các nguyên tắc riêng, đặc thù là cơ sở, định hướng cho những quy phạm pháp luật về thừa kế phải tuân theo. Chương I phần thứ tư của BLDS 2005 đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản về thừa kế như sau: - Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của cá nhân. - Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế. - Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của người có tài sản, người hưởng tài sản. - Củng cố, giữ vững tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình. 3. Một số quy định chung về thừa kế. a. Người để lại di sản thừa kế Là người có di sản sau khi chết để lại cho người còn sống theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc hay theo quy định của pháp luật. Người để lại di sản chỉ có thể là cá nhân, không phân biệt bất cứ điều kiện nào (thành phần xã hội, mức độ năng lực hành vi…) Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở… Khi còn sống họ có quyền đưa các loại tài sản này vào lưu thông dân sự, hoặc lập di chúc cho người khác hưởng tài sản của mình sau khi chết. Trường hợp công dân có tài sản thuộc quyền sở hữu riêng, không lập di chúc sau khi chết, tài sản này sẽ chia theo quy định của pháp luật. Đối với pháp nhân, tổ chức được thành lập với những mục đích và nhiệm vụ khác nhau. Tài sản của pháp nhân, tổ chức để duy trì các hoạt động của chính mình. Không cá nhân nào có quyền định đoạt tài sản của pháp nhân, tổ chức. Khi pháp nhân, tổ chức đình chỉ hoạt động của mình (giải thể, phá sản…). Tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật. Pháp nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ thừa kế với tư cách là người được hưởng di sản theo di chúc. b. Người thừa kế Người thừa kế là người được thừa hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế theo di chúc do người lập di chúc chỉ định, định đoạt nên có thể là bất kì ai, có thể là cá nhân hoặc tổ chức Nhà nước. Người thừa kế theo pháp luật là người thừa kế theo hàng thừa kế và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Những người này phải thuộc diện thừa kế và phải ở hàng thừa kế theo pháp luật. Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và phải là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản. Những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Quyền của người thừa kế được quy định ở Điều 642 BLDS. Theo nguyên tắc chung mọi cá nhân đều có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Ngoài ra, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiên nghĩ vụ tài sản của mình với người khác. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản. Công chứng nhà nước hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi mở thừa kế về việc từ chối nhận sản. Người thừa kế có nghĩa vụ liên quan đến di sản thừa kế (bảo quản, sửa chữa) và các nghĩa vụ khác, cho nên pháp luật quy định thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không ai từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế. c. Di sản. Theo quy định của điều 634 BLDS thì : “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác”. Di sản thừa kế là tài sản thuộc quyền sở hữu của người để lại di sản khi còn sống. Điều 163 BLDS quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Như vậy, thành phần di sản bao gồm các loại tài sản khác nhau và không bị hạn chết về số lượng, giá trị. II. Người không được quyền hưởng di sản. 1. Những trường hợp không được hưởng di sản. Pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền hưởng thừa kế của tất cả các cá nhân và tôn trọng quyền định đoạt di sản của người đã mất. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội có một số trường hợp cá biệt người thừa kế vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có hành vi trái đạo đức xã hội. Những trường hợp này sẽ không được quyền hưởng di sản theo Điều 643 BLDS. Pháp luật đã tước quyền hưởng di sản của họ vì họ không còn xứng đáng được quyền thừa kế. Đó là những trường hợp sau đây: a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản (căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 643 BLDS) Hành vi “xâm phạm tính mạng, sức khỏe” được hiểu rằng là hành vi cố ý giết người để lại di sản, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người để lại di sản một cách trái pháp luật. Hành vi tước đoạt tính mạng là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho người để lại di sản, chấm dứt sự sống của người đó. Những người bị tòa án kết án về tội giết người theo Điều 93 BLHS, tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS. Trường hợp này, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, nhằm mục đích tước đoạt sự sống hoặc sức khỏe của người để lại di sản. Động cơ của người phạm tội và việc thực hiện tội phạm đã hoàn thành hay chưa hoàn thành không ảnh hưởng đến nội dung của quy định trên. Pháp luật luôn bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mọi công dân, những công dân có các hành vi trái pháp luật thì tư cách chủ thể của cá nhân trong một số quan hệ bị hạn chế hoặc đình chỉ theo luật định. Người có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản đã bị kết án về một trong số các hành vi đó thì bị tước quyền thừa kế di sản của người đã bị ngược đãi hành hạ sau khi người đó chết. Hành vi ngược đãi là hành vi đối xử tàn nhẫn, tồi tệ với người thân của mình trái với đạo đức luân lý, ở đây được thể hiện bằng những hành động như chửi mắng, nhục mạ, bỏ mặc, bỏ đói, mặc rách làm cho người để lại di sản đau đớn về mặt thể xác cũng như tinh thần, khiến danh dự bị xúc phạm, giày vò… Người phạm tội có thể là những người có quan hệ lệ thuộc với người bị hành hạ. Những người bị hành hạ ngược đãi thường là người bị lệ thuộc về vật chất hoặc họ không thể tự chăm lo cho bản thân nên cần có người khác giúp đỡ trong những sinh hoạt hàng ngày. Hành vi đối xử tàn ác có tính chất hành hạ gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần… Một người có hành vi làm nhục danh dự của người để lại di sản thì không có quyền nhận di sản thừa kế của người đó để lại Điều đáng chú ý trong quy định này là căn cứ pháp lý để tước quyền hưởng di sản của những người thừa kế theo pháp luật khi họ có những hành vi kể trên là một bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Ở đây, cần phải hiểu rằng, dù người thừa kế có những hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hay có những hành vi ngược đãi, hành hạ người để lại di sản… nhưng chưa bị kết án thì họ vẫn được hưởng di sản. b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản sản (căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 643 BLDS) Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa người để lại di sản với người thừa kế theo pháp luật khi người để lại di sản còn sống. Nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau khi còn sống giữa các cá nhân không chỉ là thông lệ một truyền thống, một phẩm chất đạo đức vốn có của người Việt Nam mà còn được pháp luật quy định. Phổ biến nhất là các quan hệ nuôi dưỡng nhau giữa cha mẹ với các con, các con đã trưởng thành với cha mẹ già yếu không có khả năng lao động hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ. Quan hệ nuôi dưỡng nhau giữa ông bà với các cháu, giữa các cháu với ông bà, giữa anh chị em ruột đối với nhau. Nghĩa vụ nuôi dưỡng chăm sóc giữa những người thân trong gia đình đã được quy định trong luật HN&GĐ năm 1959, luật HN&GĐ năm 1986 và hiện nay là Luật HN&GĐ năm 2000. Người thừa kế theo pháp luật bị coi là có hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng là người được Luật Hôn nhân và gia đình xác định có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản nhưng họ không thực hiện nghĩa vụ đó. Chính vì vậy, chúng ta cần xem xét các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để xác định chính xác trách nhiệm của người thừa kế theo pháp luật Thứ nhất, người để lại thừa kế là cha, mẹ của họ. Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã quy định: “Con có nghĩa vụ và có quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”. Theo quy định này thì bổn phận của con là phải chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ trong mọi trường hợp, bất luận tình trạng kinh tế, sức khỏe của cha mẹ như thế nào. Thứ hai, người để lại thừa kế là con của họ. Nếu như nghĩa vụ của con là phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ trong mọi trường hợp, hoàn cảnh thì cha mẹ chỉ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con khi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống bản thân. Cha mẹ luôn là người thừa kế theo pháp luật đối với di sản do con để lại nhưng cha mẹ sẽ không được hưởng thừa kế theo luật đối với di sản của con nếu cha mẹ không thực hiện việc nuôi dưỡng con khi người con đó nằm trong tình trạng nói trên. Thứ ba, người để lại thừa kế là anh, chị hoặc em của họ. Theo quy định của pháp luật thì anh, chị, em có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm dóc giáo dục con . Như vậy, nghĩa vụ nuôi dưỡng của anh, chị, em đối với người để lại thừa kế khi người này nằm trong trình trạng trên, đồng thời họ là người chưa thành niên hoặc là người bị tàn tật nhưng không bị mất năng lực hành vi. Thứ tư, người để lại thừa kế là ông, bà của họ. Theo khoản 2 Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình đã xác định cháu có nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà. Vì vậy, nếu người có quyền hưởng di sản là cháu mà không thực hiện nghĩa vụ này sẽ không được quyền hưởng di sản mà ông bà để lại. Thứ năm, người để lại thừa kế là cháu của họ. Ông bà nội, ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu trong trường hợp cháy chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi dưỡng mình, đồng thời cũng không có cha mẹ, anh, chị, em có thể nuôi dưỡng được. Vì thế, nếu người để lại thừa kế là cháy nằm trong tình trạng trên mà ông, bà là người hưởng thừa kế nhưng không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng thì họ sẽ không được quyền hưởng di sản. Mặt khác, nếu người cháu có đủ năng lực hành vi để lập di chúc và trong di chúc đó, ông bà được hưởng thừa kế theo di chúc nhưng sau đó người cháu lại lâm vào tình trạng còn được nuôi dưỡng và ông bà là người có nghĩa vụ đó nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ thì ông bà cũng không được quyền hưởng di sản theo di chúc của người cháu. Thứ sáu, người để lại thừa kế là vợ hoặc chồng của họ. Vợ chồng có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau khi một bên không có khả năng lao động và còn cấp dưỡng cho nhau kể cả khi đã ly hôn mà bên kia yêu cầu được Tòa án thừa nhận. Trong trường hợp vợ (hoặc chồng) đau ốm, tàn tật không thể lao động để tự nuôi mình mà chết thì chồng (hoặc vợ) sẽ không được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nếu họ đã không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại thừa kế. Còn trong trường hợp vợ chồng đã được Tòa án cho ly hôn bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật mà một bên chết thì họ không còn là người thừa kế theo pháp luật của nhau nữa. Các trường hợp trên xác định những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau. Nếu những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng của mình với người để lại di sản khi người đó còn sống khiến người đó lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế, khổ sở về tinh thần và bị ảnh hưởng đển sức khỏe thì những người đoa không xứng đáng được hưởng di sản của những người mà mình có nghĩa vụ phait nuôi dưỡng. c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm mục hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng (căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 643 BLDS) Trường hợp này người thừa kế bị kết án về tội có ý giết người thừa kế khác. Người thừa kế khác có thể hiểu là người thừa kế cùng hàng hoặc người thừa kế ở hàng trên để chiếm đoạt phần tài sản lẽ ra người này được hưởng. Việc giết người ở hàng thừa kế dưới thì không thể khiến cho người có âm mưu giết người nhận được di sản thừa kế, vì theo nguyên tắc chỉ khi những người ở hàng thừa kế trên không còn ai thì người ở hàng thừa kế dưới mới được hưởng di sản thừa kế. Theo như quy định của điều luật thì nếu hành vi giết người không phải vì động cơ để chiếm một phần hoặc toàn bộ di sản của người chết thì không bị tước quyền hưởng di sản. Tất nhiên, hành vi giết người rất tinh vi, xảo quyệt, người có âm mưu giết người sẽ có những hành vi gian lận nhằm che đậy động cơ đê hèn của mình. Cần phải xem xét kĩ để tìm ra động cơ thực sự của việc giết người. Những trường hợp anh, em ruột (là những người cùng thuộc một hàng thừa kế) giết nhau nhưng không phải là để chiếm đoạt tài sản mà là do một số nguyên nhân khác như mâu thuẫn trong công việc, cuộc sống không đi được đến ý kiến chung, vì quá bực tức không kiềm chế được hành vi của bản thân mà đã dẫn đến hành vi phạm tội. Trường hợp này cũng là giết người thừa kế khác ở cùng hàng nhưng vẫn được hưởng di sản thừa kế vì động cơ giết người không phải để chiến tài sản. Điều này khác với trường hợp tại điểm a, khoản 1, Điều 643 BLDS, khi tước bỏ quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật không cần xem xét đến động cơ, mục đích của hành vi thì ở trường hợp này, người thừa kế phạm tội chỉ bị tước quyền hưởng di sản nếu hành vi phạm tội của họ chứa đựng động cơ là nhằm để hưởng di sản mà người thừa kế khác có quyền hưởng. Nếu một người bị kết án về hành vi cố ý giết người thừa kế khác mà không nhằm mục đích chiếm đoạt phần di sản của người thừa kế đó được hưởng thì không bị tước quyền thừa kế. d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản (căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 643 BLDS) Đây là trường hợp người thừa kế đã thực hiện một số hành vi cho người lập di chúc tin và lầm tưởng vào sự việc nào đó vì vậy đã lập di chúc để lại di sản cho người này. Ví dụ như hành vi bịa đặt rằng những người thừa kế khác đã có những hành động, lời nói xúc phạm danh dự và có âm mưa giết người lập di chúc, khiến người lập di chúc tức giận và quyết định không chia di sản cho những người đó nữa. Trường hợp này người lập di chúc hoàn toàn tưởng tượng sai sự việc và tin tưởng tuyệt đối vào hành vi của người thừa kế. Xét về ý thức chủ quan, người lập di chúc đã thể hiện ý chí của mình là định đoạt tài sản cho một người nào đó nhưng bị lừa dối nên đã hủy di chúc này lập di chúc khác và để lại di sản cho người lừa dối mình được hưởng phần di sản đã được định đoạt trước đây. Ý chí này phải được thể hiện dưới một hình thức nhất định và có cơ sở pháp lý để chứng minh cho ý chí đó. Trong thực tế, sự việc người thừa kế lừa người lập di chúc được làm rõ khi người lập di chúc còn sống sẽ dễ dàng hơn, khi người lập di chúc đã chết thì việc xác định có hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản hay không trở nên rất khó khăn phức tạp. Hành vi giả mạo di chúc là hành vi của người đã lập một di chúc theo ý chí của mình nhằm thay thế di chúc của người để lại di sản hoặc để cho những người khác tưởng lầm rằng người chết có để lại di chúc. Hành vi giả mạo có thể được thể hiện như tự viết di chúc và tự ký theo chữ ký của người lập di chúc. Những người có hành vi giả mạo di chúc này là người có hành vi lập một di chúc theo ý chí của mình nhằm mạo danh người để lại di sản hoặc thay thế di chúc của người để lại di sản nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Trong thực tế việc giả mạo di chúc rất khó xác định, vì chữ ký của nhiều người rất đơn giản. Hành vi sửa chữa di chúc mà người để lại di sản đã lập là hành vi của một người trong việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung của di chúc mà người để lại di sản đã lập, trái với ý chí của người đó khi còn sống. Người thừa kế xóa một hoặc nhiều từ trong di chúc mà những từ này ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế hoặc người thừa kế viết thêm vào di chúc số người được hưởng, số tài sản được hưởng. Hay nói cách khác, người thừa kế đã tẩy xóa, sửa chữa nội dung di chúc. Thông thường, với mục đích nhằm có lợi cho mình, để hưởng kỷ phần di sản nhiều hơn so với phần di sản mà người lập di chúc đã định đoạt hoặc nhằm hưởng toàn bộ di sản của người lập di chúc nên dù đã có tên trong di chúc người thừa kế này vẫn thực hiện hành vi sửa chữa di chúc nói trên. Đây là hành vi xâm phạm đến ý chí tự nguyện của người lập di chúc và xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của những người thừa kế khác. Vì thế, người có hành vi này sẽ bị tước bỏ quyền hưởng di sản. Hành vi hủy di chúc là hành vi của người đã làm tiêu hủy di chúc của người để lại di sản và di chúc bị hủy bỏ đó không còn tồn tại dưới hình thức khách quan
Luận văn liên quan