Phân tích hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi cá Tra (Pangasius hypophthalmus) trong ao ở Bến Tre Và Đồng Tháp

Theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê, GDP ngành Thuỷ sản giai đoạn 2003 – 2007 tăng 24.125 tỷ đồng lên đến 60.234 tỷ đồng (www.fistenet.gov.vn, ngày 25.03.2008). Trong các hoạt động của ngành, khai thác hải sản và nuôi trồng thủy sản giữ vị trí rất quan trọng. Sản lượng khai thác hải sản trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hằng năm khoảng 10% (giai đoạn 1996 - 2003), 16,8 % ( giai đoạn 2003- 2007). Ngành Thủy sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác. Tỷ trọng GDP của ngành Thủy sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng từ 3,4% (năm 2000) lên 3,93% vào năm 2003 và đạt 4,68 % năm 2007. Từ cuối thập kỷ 80 đến năm 2007, ngành thủy sản đã có những bước tiến không ngừng. Các chỉ tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội ngành Thủy sản thời kỳ 2000-2007 đã được hoàn thành vượt mức. Nuôi trồng thủy sản đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản cả về sản lượng, chất lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất. Điều này tất yếu dẫn đến sự chuyển đổi về cơ cấu sản xuất - ưu tiên phát triển các hoạt động kinh tế mũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản ở khắp mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Đến năm 2006, đã sử dụng 679.218 ha nước mặn, lợ và 305.214 ha nước ngọt để nuôi thủy sản. Bên cạnh những tiềm năng đã biết, Việt Nam còn có những tiềm năng mới được xác định có thể sử dụng để nuôi trồng thủy sản như sử dụng vật liệu chống thấm để xây dựng công trình nuôi trên các vùng đất cát hoang hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng các diện tích trồng lúa, làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản… Nuôi cá nước ngọt đang có bước chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ tự túc sang sản xuất hàng hóa lớn, điển hình là việc phát triển nuôi cá tra, cá ba sa xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế cao ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) nói chung, tỉnh Đồng Tháp và Bến Tre nói riêng. Với lợi thế có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, nhiều lao động giỏi chuyên môn về thủy sản. Bên cạnh đó tỉnh còn có nhiều loại thức ăn tự nhiên cho cá. Đó là điều kiện hết sức thuận lợi phát triển nuôi trồng thủy sản cho tỉnh, đặc biệt là cá tra. Ngoài ra, với sự phát triển nhanh của việc cá tra thịt đã tạo ra hàng loạt việc làm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trên phạm vi tỉnh. Đặc biệt do sản xuất của nhiều lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng thủy sản chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình và trang trại nên đã trở thành nguồn thu hút mọi lực lượng lao động, tạo nên nguồn thu nhập quan trọng góp phần vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo. Trong những năm vừa qua, giá cả cá tra thịt luôn biến động không ngừng, cùng với vụ bị kiện bán phá giá cá da trơn và việc cấm buôn bán cá da trơn Việt Nam tại một số bang của Mỹ do dư lượng kháng sinh và một số dịch bệnh lạ ngày càng xuất hiện nhiều trên cá đã tác động xấu đến nghề nuôi cá, gây tâm lý hoang mang trong hộ nuôi cá ở khu vực ĐBSCL nói chung. Đặc biệt là tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp nói riêng. Việc bức thiết hiện nay là đề xuất được các biện pháp để khắc phục hậu quả của dịch bệnh và đưa ra các giải pháp tìm đầu ra ổn định cho cá tra thương phẩm, giúp người nuôi cá tra khôi phục lại sản xuất và kiếm được nhiều lợi nhuận.Do đó em chọn đề tài “ Phân tích hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi cá tra trong ao ở Tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp” làm luận văn tốt nghiệp.

doc70 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 18/12/2012 | Lượt xem: 2874 | Lượt tải: 17download
Tóm tắt tài liệu Phân tích hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi cá Tra (Pangasius hypophthalmus) trong ao ở Bến Tre Và Đồng Tháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ TRA (Pangasius hypophthalmus) TRONG AO Ở BẾN TRE VÀ ĐỒNG THÁP Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: PHAN THỊ NGỌC KHUYÊN NGUYỄN VĂN HẢI LÊ XUÂN SINH MSSV: 4043711 Lớp: KTNN&PTNT Khóa: 30 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.1. Sự cần thiết của đề tài Theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê, GDP ngành Thuỷ sản giai đoạn 2003 – 2007 tăng 24.125 tỷ đồng lên đến 60.234 tỷ đồng (www.fistenet.gov.vn, ngày 25.03.2008). Trong các hoạt động của ngành, khai thác hải sản và nuôi trồng thủy sản giữ vị trí rất quan trọng. Sản lượng khai thác hải sản trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hằng năm khoảng 10% (giai đoạn 1996 - 2003), 16,8 % ( giai đoạn 2003- 2007). Ngành Thủy sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác. Tỷ trọng GDP của ngành Thủy sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng từ 3,4% (năm 2000) lên 3,93% vào năm 2003 và đạt 4,68 % năm 2007. Từ cuối thập kỷ 80 đến năm 2007, ngành thủy sản đã có những bước tiến không ngừng. Các chỉ tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội ngành Thủy sản thời kỳ 2000-2007 đã được hoàn thành vượt mức. Nuôi trồng thủy sản đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản cả về sản lượng, chất lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất. Điều này tất yếu dẫn đến sự chuyển đổi về cơ cấu sản xuất - ưu tiên phát triển các hoạt động kinh tế mũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản ở khắp mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Đến năm 2006, đã sử dụng 679.218 ha nước mặn, lợ và 305.214 ha nước ngọt để nuôi thủy sản. Bên cạnh những tiềm năng đã biết, Việt Nam còn có những tiềm năng mới được xác định có thể sử dụng để nuôi trồng thủy sản như sử dụng vật liệu chống thấm để xây dựng công trình nuôi trên các vùng đất cát hoang hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng các diện tích trồng lúa, làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản… Nuôi cá nước ngọt đang có bước chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ tự túc sang sản xuất hàng hóa lớn, điển hình là việc phát triển nuôi cá tra, cá ba sa xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế cao ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) nói chung, tỉnh Đồng Tháp và Bến Tre nói riêng. Với lợi thế có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, nhiều lao động giỏi chuyên môn về thủy sản. Bên cạnh đó tỉnh còn có nhiều loại thức ăn tự nhiên cho cá. Đó là điều kiện hết sức thuận lợi phát triển nuôi trồng thủy sản cho tỉnh, đặc biệt là cá tra. Ngoài ra, với sự phát triển nhanh của việc cá tra thịt đã tạo ra hàng loạt việc làm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trên phạm vi tỉnh. Đặc biệt do sản xuất của nhiều lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng thủy sản chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình và trang trại nên đã trở thành nguồn thu hút mọi lực lượng lao động, tạo nên nguồn thu nhập quan trọng góp phần vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo. Trong những năm vừa qua, giá cả cá tra thịt luôn biến động không ngừng, cùng với vụ bị kiện bán phá giá cá da trơn và việc cấm buôn bán cá da trơn Việt Nam tại một số bang của Mỹ do dư lượng kháng sinh và một số dịch bệnh lạ ngày càng xuất hiện nhiều trên cá đã tác động xấu đến nghề nuôi cá, gây tâm lý hoang mang trong hộ nuôi cá ở khu vực ĐBSCL nói chung. Đặc biệt là tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp nói riêng. Việc bức thiết hiện nay là đề xuất được các biện pháp để khắc phục hậu quả của dịch bệnh và đưa ra các giải pháp tìm đầu ra ổn định cho cá tra thương phẩm, giúp người nuôi cá tra khôi phục lại sản xuất và kiếm được nhiều lợi nhuận.Do đó em chọn đề tài “ Phân tích hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi cá tra trong ao ở Tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp” làm luận văn tốt nghiệp. 1.1.2. Căn cứ khoa học và thực tiễn Nuôi cá tra trong ao ở tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp hiện nay phát triển rất mạnh, là một trong những tỉnh có diện tích, sản lượng lớn và năng suất cao trong khu vực ĐBSCL. Việc nuôi cá tra đã mang lại nguồn lợi nhuận rất lớn. Tuy nhiên giá cả và thị trường tiêu thụ sản phẩm cá biến động khôn lường. Do đó đã gây không ít khó khăn cho hộ nuôi. Việc nuôi cá tra ồ dạt với mật độ dày đặc ở một số địa phương không nằm trong quy hoạch trong tỉnh và trung ương đã gây khó khăn trong công tác quản lý và gây ô nhiễm môi trường nước rất nghiêm trọng. Với những căn cứ trên chúng ta dựa vào đó để nghiên cứu hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi cá tra tại nơi này. 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.2.1. Mục tiêu chung Phân tích thực trạng sản xuất cá tra thịt ở địa bàn, đánh giá hiệu quả sản xuất của mô hình, phân tích những thuận lợi và các rào cản trong quá trình sản xuất nhằm mục đích đề xuất những biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho hộ nuôi cá tra. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể Mô tả thực trạng sản xuất của hộ, cơ sở nuôi ca tra trong ao liên quan đến các nguồn lực sẵn có. Phân tích và đánh giá tình hình chung về hộ nuôi cá tra. Đánh giá hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi cá tra. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của mô hình Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất nâng cao thu nhập của hộ nuôi, đồng thời khắc phục được những khó khăn cho việc sản xuất cá tra . 1.3. CÁC GIẢ THUYẾT KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1.3.1. Các giả thuyết cần kiểm định Từ mục tiêu đưa ra tìm hiểu về ảnh hưởng của chi phí, giá cả và dịch bệnh đến hiệu quả nuôi cá tra trong ao ở tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp. So sánh hiệu quả nuôi cá ở địa bàn nghiên cứu, và xem xét các tác động của mô hình ảnh hưởng đến môi trường như thế nào. Để từ đó chúng ta thu thập thông tin để kiểm định giả thuyết này có chính xác hay không và mức độ tin cậy bao nhiêu? 1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu Lý do chọn nghề nuôi cá tra của hộ nuôi. Nguồn thông tin - kinh tế kỹ thuật của hộ nuôi Các khoản chi phí phát sinh trong quá trình nuôi. Kết quả thu được từ việc nuôi cá tra trong ao. Tác động như thế nào đến môi trường và xã hội. 1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.4.1. Không gian nghiên cứu Luận văn được thực hiện tại Khoa Kinh Tế - Quản trị kinh doanh với số liệu điều tra từ hộ nuôi cá tra trong ao ở các huyện của tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp. 1.4.2. Thời gian nghiên cứu + Những số liệu thứ cấp được sử dụng trong luận văn từ năm 2005-2007. + Những số liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp từ tháng 01 đến 03 năm 2008. 1.4.3. Đối tượng nghiên cứu Vì kiến thức tiếp thu ở nhà trường chỉ mới là các lý thuyết từ thầy cô và sách vở, thời gian thực tập không được nhiều mà tình hình nuôi cá tra trong ao rất phức tạp nên chỉ đề cập một số nội dung sau: Đưa ra những cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài. Mô tả quy trình nuôi cá tra trong ao. Phân tích hiệu quả sản xuất của hộ nuôi cá tra trong ao ở tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp. So sánh hiệu quả sản xuất của hộ nuôi cá tra ở vùng khảo sát. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất cá tra trong ao. Đánh giá chung về nhận thức của hộ nuôi cá tra cũng như những hộ ở kế bên hộ nuôi cá tra. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cá tra trong ao. 1.4.4. Kết quả mong đợi Từ việc phân tích hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi cá tra trong ao tại tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp. Đề tài hy vọng tìm ra những giải pháp để việc sản xuất cá tra trong ao đạt hiệu quả cao hơn và giúp cho hộ nuôi cá có thu nhập ổn định hơn. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2.1.1. Khái niệm chung về hộ và kinh tế hộ a) Hộ Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công. Tại cuộc Hội thảo quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan năm 1980, các đại biểu nhất trí rằng: hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động khác. Qua các điểm khác nhau về khái niệm “hộ” có thể nêu lên một số đặc điểm cần lưu ý khi phân định “hộ”: - Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc. - Họ cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà. - Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung. - Cùng tiến hành sản xuất chung. Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có một cuộc thảo luận nào nghiêm túc nào về khái niệm hộ và các phương pháp nghiên cứu hộ. Hầu như từ trước tới nay người ta mặc nhiên thừa nhận hộ là “ gia đình”, kinh tế hộ là “ kinh tế gia đình”. b) kinh tế hộ Hộ sản xuất là những hộ làm những nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp. Việc sản xuất hàng hóa của hộ chủ yếu dựa vào các thành viên được xem là khoản thu nhập cho nông hộ. Quá trình sản xuất hộ liên quan đến việc chuyển đổi các loại hàng hóa trung gian, thành hàng hóa hoàn hảo. Họ thường sử dụng vốn và các dụng cụ của gia đình để sản xuất cũng như lao động. Vì vậy, tổng giá trị hàng hóa tăng thêm của hộ được gọi là tổng sản phẩm của hộ. 2.1.2. Vấn đề sử dụng vốn và lao động trong quá trình sản xuất kinh tế hộ Theo thuật ngữ kinh tế, vốn và lao động là hai nguồn lực sản xuất. Lao động được tính bằng thời gian hoặc số người tham gia lao động, vốn được xem như khoản tiền phải trả cho việc sử dụng các dịch vụ, mua nguyên vật liệu trang trải chi phí trong quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất là một quá trình được xem như việc sử dụng các nguồn lực để chuyển đổi vật liệu hoặc những sản phẩm dở dang thành sản phẩm, dịch vụ hoàn chỉnh để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng. Quá trình nuôi cá cũng diễn ra như vậy từ những yếu tố đầu vào trọng lượng hàng hóa, đó chính là những vật nuôi cung cấp sản xuất cho toàn xã hội. 2.1.3. Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển Kinh tế hộ trong quá trình phát triển nông hộ của nhiều nước có vai trò hết sức quan trọng. Ở Mỹ - nước có nền nông nghiệp phát triển cao, phần lớn nông sản vẫn là do nông trại gia đình sản xuất bằng lao động của chính chủ trang trại và các thành viên trong gia đình. Động lực thúc đẩy sản xuất ở nông trại gia đình là lợi ích kinh tế cả các thành viên trong gia đình. Ở Việt Nam, kinh tế nông hộ mặc dù còn ở quy mô sản xuất nhỏ và phân tán, nhưng có vai trò hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp. Kinh tế nông hộ đã cung cấp cho xã hội khoảng 90% sản lượng rau quả, góp phần tăng nhanh số lượng lương thực, thực phẩm, cho công nghiệp và xuất khẩu, góp phần sử dụng tốt hơn đất đai, lao động, tiền vốn, tăng thêm việc làm cho nông thôn và tăng thêm thu nhập cho nhân dân. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã tạo ra sự thay đổi lớn trong nông thôn. Nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân luôn là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn Dân. 2.1.4. Khái niệm về nghề nuôi trồng thủy sản Là thuật ngữ sử dụng để chỉ chỉ việc nuôi, trồng tất cả sinh vật có trong môi trường nước. Tuy nhiên cũng có thể hiểu nuôi trồng thủy sản là tất cả những tác động của con người có ảnh hưởng tới sinh vật và môi trường sống của sinh vật. Nuôi trồng thủy sản là hoạt động lấy đối tượng tác động là những sinh vật sống trong môi trường nước đề tạo ra sản phẩm phục vụ con người. Nuôi trồng thủy sản mang nhiều điểm giống với sản xuất nông nghiệp. Tính mùa vụ của nuôi trồng thủy sản thể hiện rõ. 2.1.5. Một số khái niệm cơ bản trong kinh tế a) Chi phí Chi phí nói chung là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh với mong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định. Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất của nông hộ nhằm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợi nhuận. Chi phí nuôi cá là tất cả những chi phí bỏ ra để thu được sản phẩm thịt cá tra. Chi phí nuôi bao gồm chi phí đào và cải tạo ao, chi phí cống cấp và thoát nước, chi phí con giống, chi phí thức ăn, chi phí thuê nhân công, chi phí thuốc thú y và phòng bệnh, chi phí lãi vay ngân hàng, chi phí mua dụng cụ và sửa chữa lặt vặt trong năm và các khoản chi phí khác. Chi phí nhân công được thuê mướn làm đất và nuôi cá được tính như sau: Số lượng thuê x giá thuê/tháng x số tháng thuê Chi phí nhân công = Số lượng cá thu hoạch Chi phí nuôi cá được chia ra thành hai loại đó là định phí và biến phí Biến phí là những chi phí thay đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động của đơn vị. Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản xuất ra, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy vận hành, tỷ lệ có thể là tỷ lệ thuận trong mức độ hoạt động. Chúng ta lưu ý rằng xét về tổng số biến phí thay đổi tỷ lệ thuận, ngược lại nếu xem xét trên một mục đích hoạt động ( 1 sản phẩm, 1 giờ máy chạy) biến phí là hằng số. Đối với nuôi cá tra, biến phí của việc nuôi cá tra bao gồm: chi phí mua giống, chi phí thức ăn, chi phí thuốc thú y, chi phí thuê mướn,… Định phí là những mục chi phí ít thay đổi hoặc không thay đổi theo mức hoạt động của 1 đơn vị. Nếu xét trên tổng chi phí, định phí không thay đổi, ngược lại nếu quan sát chúng trên 1 mức độ hoạt động thì định phí tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động. Định phí trong nuôi cá bao gồm chi phí đào ao, chi phí mua công cụ dụng cụ… b) Doanh thu Doanh thu là tổng các khoản thu nhập của nông hộ từ hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Doanh thu = Sản lượng * Giá bán c) Lợi nhuận Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của việc sản xuất kinh doanh đó chính là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động nuôi cá tra. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Thu nhập ròng = Tổng Doanh thu – Tổng Chi phí d) Hiệu quả kinh tế Tiêu chí về hiệu quả thực ra là giá trị. Có nghĩa là, khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có giá trị và ngược lại thì sẽ không có hiệu quả. Hay hiệu quả kinh tế là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa kết quả lượng sản phẩm tiêu thụ được với lượng sản phẩm tiêu thụ được với lượng vốn bỏ ra. 2.1.6. Các chỉ số tài chính chủ yếu Thu nhập/ chi phí: là chỉ số được tính bằng cách lấy tổng thu nhập chia cho tổng chi phí. Tỉ số này cho biết một đồng chi phí đầu tư, chủ thể đầu tư sẽ thu lại được bao nhiêu đồng thu nhập. Được tính như sau: Thu nhập/ chi phí = Tổng thu nhập/ Tổng chi phí Lợi nhuận/ chi phí : là tỉ số được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận chia cho tổng chi phí. Tỉ số này nói lên một đồng chi phí bỏ ra, thì chủ thể đầu tư sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Được thể hiện bởi công thức sau: Lợi nhuận/ chi phí = Tổng lợi nhuận/ Tổng chi phí Lợi nhuận /thu nhập: là tỉ số được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận chia cho tổng thu nhập. Tỉ số này thể hiện một đồng thu nhập có bao nhiêu đồng lợi nhuận, nó phản ánh mức lợi nhuận so với tổng chi phí. Công thức: Lợi nhuận/ thu nhập = Tổng Lợi nhuận/ Tổng thu nhập 2.1.7. Các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc nuôi cá tra thịt trong ao a) Công trình ao: Bao gồm ao nuôi, bờ bao, hệ thống cống cấp và thoát nước, đèn chiếu sáng. Hệ thống ao nuôi phải thoáng, sạch sẽ, có nhiều nắng để cung cấp đủ lượng năng lượng ánh sáng và oxy cho cá, bờ ao phải lớn, vững chắc, phải có đủ hệ thống cống cấp và thoát nước cho ao nuôi. Khi thiết kế và đào ao phải tính đến vị trí, địa thế, số lượng giống định thả nuôi. Hệ thống ao nuôi phải gần sông, kênh gạch để thuận tiện cho việc cấp và thoát nước cho ao. Trước khi thả cá nuôi ta phải rải hóa chất, vôi, muối và phơi ao từ 3- 4 ngày để tiêu diệt mầm bệnh trong ao. b) Chọn con giống Công tác chọn con giống là việc rất quan trọng và cần thiết trong nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá tra nói riêng. Công tác chọn giống nhằm mục đích biết được nguồn gốc của con giống, các đặc tính về sức sống, khả năng thích nghi với điều kiện sống hiện tại ở địa phương. Con giống có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất. Nếu con giống tốt, khỏe mạnh, có tỷ lệ sống cao sẽ cho năng suất cao. Do đó làm cho kết quả thu hoạch được nhiều hơn và người nuôi cá sẽ có thu nhập cao hơn. Hiện nay cá giống cá tra đã hoàn toàn được cung cấp từ nguồn sinh sản nhân tạo là chủ yếu. Cá thả nuôi cần được lựa chọn cẩn thận đảm bảo phẩm chất cá tăng trưởng tốt trong quá trình nuôi. Cá khỏe mạnh, không bị nhiễm bệnh, kích cỡ đồng đều, màu sắc đẹp, nhiều nhớt và bơi lội nhanh nhẹn. Cá giống mới đưa về, trước khi thả xuống ao nên tắm bằng nước muối 2-3% trong 4-5 phút để loại trừ hết các ký sinh và chống nhiễm trùng vết thương trên thân cá. c) Thuốc thú y thủy sản Bao gồm các loại thuốc phòng và trị bệnh. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ đàn cá nuôi khi xảy ra dịch bệnh. Kích thích cá nuôi mau lớn để rút ngắn hơn chu kỳ nuôi so với không sử dụng thuốc. Sử dụng thuốc thú y đúng cách là yêu cầu cần thiết cho việc nuôi trồng thủy sản. Do đó hộ, cơ sở nuôi trước khi dùng thuốc phải tham khảo những người có kinh nghiệm, tốt nhất là tham khảo ý kiến của cán bộ thủy sản, trung tâm khuyến ngư tại địa phương để được hướng dẫn thêm. d) Nguồn nước Nước là điều kiện cần thiết và là môi trường sống không thể thiếu đối với đàn cá. Vì vậy, Chúng ta cung cấp nước đủ và hợp lý, thay nước thường xuyên và đặc biệt nguồn nước sạch mầm bệnh thì rất tốt tạo điều kiện thuận lợi cho đàn cá phát triển. Nuôi cá tra trong ao hồ có mật độ cao thì yêu cầu nguồn nước phải sạch và phải thay nước thường xuyên. Nếu nguồn nước bị ô nhiễm thì các loài vi khuẩn sẽ phát triển mạnh và cá dễ bị nhiễm các bệnh như gan, thận có mủ, sốt huyết, ký sinh trùng, trắng gan, trắng mang…… Để nuôi cá tra thịt trong ao đạt hiệu quả, thì các chỉ chủ yếu của môi trường ao cần đạt như sau: + Nhiệt độ nước 26 - 300C. + PH thích hợp 7-8 + Hàm lượng o- hòa tan >3mg/lít Nguồn nước cấp cho ao nuôi cần phải sạch, thể hiện ở chỉ số các chất ô nhiễm chính dưới mức giới hạn cho phép: +NH3-N:                                < 1mg/lít +Coliform:                             < 10.000 MPN/100ml +Chì (Kim loại nặng) :          0,002-0,007 mg/lít Mặc dù cá tra có khả năng sống rất cao trong điều kiện khắc nghiệt của môi trường, nhưng khi nuôi thâm canh có mật độ cao, thức ăn cho cá nhiều và chất thải ray cũng làm cho môi trường ao bị nhiễm bẩn rất nhanh do đó cần phải thay nước mới hàng ngày, lượng nước được thay vào chiếm khoảng 30 - 40% lượng nước trong, tùy vào diện tích ao mà ta thay lượng nước phù hợp. Nguồn nước cho nuôi cá chủ yếu là từ các các sông lớn, sông nhánh và kênh rạch. Tuy nhiên, việc nuôi cá tra cũng ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, đặc biệt ô nhiễm nguồn nước một một cách trầm trọng, do sử dụng quá nhiều thuốc thú y và cạn bả của thức ăn. e) Mật độ thả Mật độ thả có ảnh hưởng rất lớn đến việc sinh trưởng, phát triển và cả năng suất của đàn cá. Nếu thả quá thưa sẽ lãng phí diện tích ao và làm giảm hiệu quả kinh tế. Hiện nay, do việc nuôi cá tra mang lại nhiều lợi nhuận nên cơ sở nuôi thả nuôi với mật độ rất dày đã làm cho việc quản lý và chăm sóc đàn cá rất khó khăn. Mặt khác cơ sở nuôi phải tốn chi phí con giống và tiền xử lý nước trong ao nuôi rất lớn. Do đó hộ nuôi phải tính diện tích ao của hộ mình để có mật độ thả nuôi thích hợp để làm tăng hiệu quả kinh tế nuôi. f) Thức ăn Trong việc nuôi cá cung cấp đầy đủ nguồn thức ăn là vấn đề rất quan trọng. Thức ăn nuôi cá tra bao gồm nhiều loại như thức ăn đạm động, thực vật hay thức ăn năng lượng, thức ăn lipid, thức ăn protein, các thức ăn vitamin…… Thức ăn có vai trò đặc biệt quan trọng giúp cho cá phát triển tốt và nhanh chóng, do đó việc đảm bảo đủ về lượng và chất cho cá nhằm năng cao hiệu quả trong việc nuôi cá tra. Vì vậy thức ăn có chất lượng và được sử dụng có hiệu quả sẽ là điều quan trọng trong việc hạ giá thành trong nuôi cá. Ngày nay, thức ăn công nghiệp đáp ứng một phần nào đó trong tăng năng suất, rút ngắn thời gian nuôi, hạ chi phí trong việc nuôi cá. g) Vệ sinh phòng bệnh Hiện nay việc nuôi cá tra một cách ồ ạt và