Phát triển Loại hình Du lịch Biển ở Việt Nam

Trong những năm tới đây, Việt Nam chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Sự nghiệp đổi mới sẽ có bước phát triển mạnh hơn, nhằm đưa nền kinh tế Việt Nam từ nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, thành một nước công nghiệp, có nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ hợp lý, trong đó công nghiệp và dịch vụ ngày một chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc dân. Với đặc điểm là một ngành kinh tế tổng hợp, mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, với hiệu quả nhiều mặt, lại được xác định có vai trò ngành kinh tế mũi nhọn, nên ngành du lịch phải đẩy mạnh tốc độ phát triển nhanh hơn và bền vững. Để đạt được mục tiêu đề ra, một trong những nhiệm vụ trước mắt mà ngành du lịch phải thực hiện đó là kích thích việc đa dạng hóa các loại hình du lịch trong nước, đặc biệt là loại hình du lịch biển. Nhận thức được tiềm năng và tầm quan trọng của việc phát triển du lịch biển ở Việt Nam, bài viết này của em tập trung vào tìm hiểu, đánh giá và phân tích thực trạng để xác định những nguyên nhân chủ yếu làm cơ sở đề xuất một vài giải pháp phù hợp. Em chân thành cảm ơn thầy giáo - thạc sỹ Nguyễn Phi Lân và các bạn trong nhóm đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành bản Đề án môn học này.

doc33 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 12/12/2012 | Lượt xem: 2823 | Lượt tải: 26download
Tóm tắt tài liệu Phát triển Loại hình Du lịch Biển ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH BIỂN Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm tới đây, Việt Nam chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Sự nghiệp đổi mới sẽ có bước phát triển mạnh hơn, nhằm đưa nền kinh tế Việt Nam từ nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, thành một nước công nghiệp, có nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ hợp lý, trong đó công nghiệp và dịch vụ ngày một chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc dân. Với đặc điểm là một ngành kinh tế tổng hợp, mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, với hiệu quả nhiều mặt, lại được xác định có vai trò ngành kinh tế mũi nhọn, nên ngành du lịch phải đẩy mạnh tốc độ phát triển nhanh hơn và bền vững. Để đạt được mục tiêu đề ra, một trong những nhiệm vụ trước mắt mà ngành du lịch phải thực hiện đó là kích thích việc đa dạng hóa các loại hình du lịch trong nước, đặc biệt là loại hình du lịch biển. Nhận thức được tiềm năng và tầm quan trọng của việc phát triển du lịch biển ở Việt Nam, bài viết này của em tập trung vào tìm hiểu, đánh giá và phân tích thực trạng để xác định những nguyên nhân chủ yếu làm cơ sở đề xuất một vài giải pháp phù hợp. Em chân thành cảm ơn thầy giáo - thạc sỹ Nguyễn Phi Lân và các bạn trong nhóm đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành bản Đề án môn học này. CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH BIỂN 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN. 1.1.1. Định nghĩa về Du lịch. Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế - chính trị thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp (định nghĩa của Khoa Quản trị Kinh doanh Du lịch và Khách sạn, Đại học Kinh tế Quốc dân). Ngoài ra còn có nhiều định nghĩa khác, như định nghĩa của Micheal Coltman (Mỹ): “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch”. Trong đó, khách du lịch là khách hàng rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đi đến các nơi khác và quay trở lại nhằm thỏa mãn các mục đích khác nhau, trừ mục đích kiếm tiền; nhà cung ứng là các tổ chức kinh tế, đơn vị hành chính sự nghiệp cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho hoạt động du lịch; dân cư sở tại là những người dân ở tại địa phương diễn ra hoạt động du lịch; chính quyền địa phương là cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương tại điểm du lịch. 1.1.2. Các điều kiện để phát triển Du lịch. 1.1.2.1. Các điều kiện để phát triển cầu về du lịch (phát triển hoạt động đi du lịch). Thời gian rỗi: là khoảng thời gian mà con người tham gia vào các hoạt động xã hội, dành cho vực tự học nâng cao hiểu biết và hoạt động sáng tạo, thời gian để nghỉ ngơi tinh thần một cách tích cực,...Sự phân bổ thời gian rỗi hợp lý là điều kiện thực tế để tổ chức hoạt động đi du lịch và nghỉ ngơi của người lao động. Khả năng chi trả: là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch nói chung thành nhu cầu có khả năng thanh toán. Do chi tiêu cho du lịch là chi tiêu trung hạn nên khi khả năng chi trả càng cao thì chi phí của cá nhân dành cho đi du lịch càng nhiều. Trình độ dân trí: nếu trình độ dân trí của người dân một quốc gia được nâng cao thì nhu cầu du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt. Mặt khác, nếu trình độ văn hóa chung của một đất nước cao, thì đất nước đó khi phát triển du lịch sẽ đảm bảo làm hài lòng khách du lịch đến đó. Điều kiện phát triển giao thông vận tải: phải được đảm bảo về mức độ an toàn, mức độ tiện nghi, tốc độ và giá cả. Không khí chính trị trên thế giới hòa bình và ổn định. 1.1.2.2. Điều kiện phát triển hoạt động kinh doanh du lịch (cung du lịch). Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế. Tình hình chính trị hòa bình, ổn định của đất nước và các điều kiện an toàn với du khách. Điều kiện về tài nguyên du lịch: bao gồm tài nguyên nhân văn và tài nguyên tự nhiên. Điều kiện về sự sẵn sàng phục vụ khách du lịch Một số tình hình và sự kiện đặc biệt. 1.1.3. Các loại hình Du lịch. Dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau có thể phân du lịch thành các loại hình du lịch khác nhau và cơ bản có một số tiêu thức như sau: 1.1.3.1. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch: theo tiêu thức này du lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa: Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau - khách du lịch phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch.. Bản thân du lịch Quốc tế được phân thành: Du lịch Quốc tế chủ động: Là hình thức du lịch của những người ở nước ngoài đến một quốc gia nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó. Du lịch Quốc tế thụ động: là hình thức du lịch của công dân một quốc gia nào đó và của những người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ quốc gia đó đi ra nước ngoài du lịch và trong chuyến đi đó họ đã tiêu tiến kiếm ra tai đất nước đang cư trú. Du lịch nội địa: là hình thức đi du lịch điểm xuất phát và điểm đến của du khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia. 1.1.3.2. Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch: theo tiêu thức này du lịch được phân tành các loại sau: Du lịch chữa bệnh: ở loại hình này, khách đi du lịch do nhu cầu điều trị các bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ. Du lịch chữa bệnh lại phân thành: Chữa bệnh bằng khí hậu: khí hậu núi, khí hậu biển. Chữa bệnh bằng nước khoáng: tắm, uống nước khoáng; Chữa bệnh bằng bùn. Chữa bệnh bằng hoa quả. Chữa bệnh bằng sữa (đặc biệt là sữa ngựa). Du lịch nghỉ ngơi, giải trí: là loại hình du lịch có tác dụng làm giải trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát cho con người khỏi công việc hàng ngày. Du lịch thể thao: gồm du lịch thể thao chủ động, du lịch thể thao bị động. Du lịch thể thao chủ động: khách đi du lịch để tham gia trực tiếp vào hoạt động thể thao. Du lịch thể thao chủ động bao gồm: Du lịch leo núi. Du lịch săn bắn; Du lịch câu cá; Du lịch tham gia các loại thể thao: đá bóng, bóng chuyền, bóng rổ, trượt tuyết … Du lịch thể thao thụ động: là những cuộc hành trình đi du lịch để xem các cuộc thi thể thao quốc tế, các thế vận hội Olympic, … Du lịch văn hóa: nâng cao hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa,...cùng phong tục, tập quán của đất nước du lịch. Du lịch văn hóa gồm 2 loại: Du lịch văn hóa với mục đích cụ thể: khách du dịch thuộc thể loại này thường đi với mục đích đã định sẵn. Thường họ là cán bộ khoa học, sinh viên và các chuyên gia. Du lịch văn hóa với mục đích tổng hợp: gồm đông đảo những người ham thích mở mang kiến thức về thế giới và thỏa mãn những tò mò của mình. Du lịch công vụ: nhằm thực hiện mục đích chính là thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó. Du lịch thương gia: mục đích chính là đi tìm hiểu thị trường, nghiên cứu dự án đầu tư, ký kết hợp đồng,.v.v. Du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương Du lịch quá cảnh: nảy sinh do nhu cầu đi qua lãnh thổ của một quốc gia nào đó trong một thời gian ngắn để đến một quốc gia khác. 1.1.3.3. Căn cứ vào đối tượng khách du lịch: Du lịch thanh thiếu niên; Du lịch dành cho những người cao tuổi; Du lịch dành cho phụ nữ, du lịch gia đình. 1.1.3.4. Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi Du lịch theo đoàn: các thành viên tham dự đi theo đoàn và thường có chuẩn bị chương trình du lịch từ trước, trong đó đã định ra những nơi sẽ đến thăm, nơi lưu trú và ăn uống. Du lịch theo đoàn có thể được tổ chức theo 2 hình thức sau: Du lịch theo đoàn có thông qua tổ chức du lịch: đoàn du lịch được các tổ chức trung gian (các doanh nghiệp lữ hành), các tổ chức vận tải (thường là các hãng hàng không), hoặc các tổ chức du lịch khác (khách sạn),…tổ chức cuộc hành trình. Các tổ chức đó chuẩn bị và thỏa thuân trước chuyến hành trình và lịch đi cho đoàn. Mỗi thành viên trong đoàn được thông báo trước chương trình của chuyến đi. Du lich theo đoàn không thông qua tổ chức du lịch: đoàn du lịch tự chọn chuyến hành trình, tự xác định thời gian đi, số ngày đi, những nơi sẽ đến thăm,…có thể đoàn đã được thỏa thuận trước hoặc tới nơi mới tìm cơ sở lưu trú, ăn uống,… Du lịch cá nhân: Du lịch cá nhân có thông qua tổ chức du lịch: cá nhân đi du lịch theo kế hoạch định trước của các tổ chức du lịch, tổ chức công đoàn hay tổ chức xã hội khác. Khách du lịch không phải đi cùng đoàn mà chỉ tuân theo những điều kiện đã được thông báo và chuẩn bị trước. Du lịch cá nhân không thông qua tổ chức du lịch (đi tự do). 1.1.3.5. Căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành: Du lịch bằng xe đạp; Du lịch bằng xe máy; Du lịch bằng ôtô;… 1.1.3.6. Căn cứ vào phương tiện lưu trú được sử dụng. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành: Du lịch ở khách sạn (Hotel); Du lịch ở khách sạn ven đường (Motel - khách sạn bên lề những chặng đường dài dành cho khách du lịch đi bằng ôtô); Du lịch ở lều trại (Camping); Du lịch ở làng du lịch (Tourism village). 1.1.3.7. Căn cứ vào thời gian du lịch. Theo tiêu thức này du lịch được phân thành. Du lịch dài ngày; Du lịch ngắn ngày (thường gọi là du lịch cuối tuần - Weekend holiday). 1.1.3.8. Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch. Theo tiêu thức này du lịch được phân thành. Du lịch nghỉ núi; Du lịch nghỉ biển, sông, hồ; Du lịch thành phố; Du lịch đồng quê. 1.1.4. Du lịch biển và tài nguyên du lịch biển. Du lịch biển có thể hiểu là loại hình du lịch được phát triển ở khu vực ven biển nhằm phục vụ nhu cầu của khách du lịch về nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, khám phá, mạo hiểm,... trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch biển bao gồm: tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Tài nguyên du lịch biển: Tài nguyên tự nhiên: là các điều kiện về địa hình, mà cụ thể là cảnh quan thiên nhiên ven biển; quần thể sinh vật trên cạn, dưới nước như cây cỏ, tôm, cá,...; khí hậu (số ngày mưa, số giờ nắng trung bình, nhiệt độ trung bình của không khí vào ban ngày, nhiệt độ trung bình của nước biển, cường độ gió, hướng gió). Tài nguyên nhân văn: là tổng thể các giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch biển như các viện bảo tàng hải dương học, các làng xã ven biển với nghề thủ công đặc trưng, các di tích đặc trưng của một triều đại hoặc một nền văn minh cổ xưa,... 1.2.TIỀM NĂNG DU LỊCH BIỂN CỦA VIỆT NAM. 1.2.1. Vị trí địa lý, dân cư, xã hội. Việt Nam có vị trí địa lý chiến lược thuận lợi về biển. Lãnh thổ đất liền của Việt Nam được bao bọc bởi đường bờ biển Đông trải dài trên 3.200 km trên 3 hướng: Đông, Nam và Tây Nam. Trung bình cứ 100 km2 diện tích đất liền Việt Nam thì có 1 km bờ biển, tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ trung bình của thế giới (600 km2 mới có 1 km bờ biển). Vùng ven biển Việt Nam hiện gồm 29 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với diện tích tự nhiên là 140.413 km2, dân số 41,5 triệu bằng 41,5% diện tích và 53,4% dân số cả nước (theo số liệu điều tra năm 2000). Lãnh thổ Du lịch biển là nơi hội tụ của nhiều điểm thuận lợi và nguồn tài nguyên tự nhiên đa dạng và phong phú cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch bởi trên vùng lãnh thổ này hiện tập trung toàn bộ 6 di sản thế giới ở Việt Nam; phần lớn các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên; nhiều di tích lịch sử - văn hóa;.v.v. 1.2.2. Hệ thống tài nguyên du lịch biển (nguồn Tổng cục Du lịch). Vùng biển Việt Nam có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lơi cho phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch biển. Đặc điểm địa hình tạo nên nhiều cảnh quan đẹp và hấp dẫn du trên dọc chiều dài 3.260 km bờ biển như Đèo Ngang, Đèo Cả, vịnh Nha Trang (được công nhận là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới, nơi có khoảng 125 bãi cát lớn nhỏ khác nhau),.v.v.Trong số các bãi biển, có bãi biển dài tới 15 - 18 km với chất lượng tốt có giá trị hình thành các khu du lịch tầm cỡ quốc tế. Ở vùng nước ven bờ, nơi tập trung tới 2.773 hòn đảo, có nhiều đảo có giá trị du lịch như Quan Lạn, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc,.v.v.Đặc biệt vịnh Hạ Long là nơi tập trung 2.000 đảo đá vôi lớn nhỏ là hình thái địa hình karst ngập nước với cảnh quan thiên nhiên đặc biệt hấp dẫn đã được UNESCO hai lần công nhận là di sản thiên nhiên của thế giới. Vùng ven biển Việt Nam còn là nơi có nhiều hệ sinh thái điển hình, với tính đa dạng cao, trong đó có nhiều loại đặc hữu, quý hiếm. Những giá trị sinh thái tập trung chủ yếu ở hệ thống 13/28 vườn quốc gia; 22/55 khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó có 2 khu bảo tồn biển là Hòn Mun (Khánh Hòa) và Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và 17/34 khu rừng văn hóa lịch sử và môi trường ở vùng ven biển và hải đảo ven bờ trong đó tiêu biểu là vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới; rừng ngập mặn Cần Giờ là Khu dự trữ sinh quyển thế giới,.v.v. Bên cạnh giá trị tự nhiên, các yếu tố nhân văn giàu bẳn sắc văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc như Kinh, Hoa, Khơ Me, Chăm,.v.v.ở vùng ven biển cũng có ý nghĩa to lớn đối với phát triển du lịch biển. Hiện nay có tới 950/2509 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng quốc gia nằm ở vùng ven biển, đặc biệt trong số đó có 4 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận: Phố cổ Hội An, Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn và. Nhiều lễ hội dân gian truyền thống, tiêu biểu là lễ hội Nghinh Ông hay lễ cúng cá Ông (cá voi); nhiều làng nghề truyền thống;.v.v. là những giá trị văn hóa hấp dẫn khách du lịch. 1.2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội phát triển Du lịch biển ở Việt Nam . 1.2.3.1. Hệ thống đô thị ven biển. Hệ thống đô thị Việt Nam tập trung chủ yếu ở ven biển với 43 đô thị từ cấp thị xã trở lên, trong đó có 1 đô thị đặc biệt (Thành phố Hồ Chí Minh); 3 đô thị loại 1 (bao gồm cả Thành phố Huế mới được công nhận năm 2004); 5 đô thị loại 2; 7 đô thị loại 3 và 27 thị xã (đô thị loại 4). Hệ thống đô thị có vị trí đặc biệt quan trọng trong tổ chức hoạt động du lịch theo lãnh thổ, trong đó các đô thị đặc biệt và đô thị loại 1 đều là các trung tâm vùng du lịch. Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống vùng ven biển hiện nay sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của du lịch biển. 1.2.3.2. Cơ sở hạ tầng du lịch biển. Đường bộ: Hệ thống giao thông đường bộ, đặc biệt là tuyến quốc lộ xuyên Việt (quốc lộ 1A) được nâng cấp cùng việc xây dựng quốc lộ 10, tạo điều kiện gắn kết các địa phương vùng ven biển trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng. Một số đường quốc lộ như quốc lộ 18, quốc lộ 51B, .v.v. đã được nâng cấp tạo gắn kết hoạt động du lịch của 2 Trung tâm quan trọng nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh với du lịch biển. Từ các đô thị, cảng biển, hệ thống quốc lộ Đông Tây, nối liền vùng ven biển Việt Nam với những lãnh thổ phía Tây đất nước và xa hơn với các nước trong khu vực, góp phần vào sự phát triển của du lịch biển. Đường sắt: Quan trọng nhất và có ý nghĩa du lịch là tuyến đường sắt Thống Nhất Bắc - Nam từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Tuyến đường này sẽ góp phần đẩy mạnh sự phát triển của du lịch biển khi nó được hòa vào hệ thống đường sắt xuyên Á. Đường biển: Trên chiều dài 3.260 km bờ biển từ mũi Ngọc (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), hiện có 73 cảng biển lớn nhỏ, phần lớn tập trung ở miền Trung và Đông Nam Bộ, trong đó có một số cảng biển đã đón tàu du lịch Columbus, Europa (Đức), Arion (Autralia),… cập bến như Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh, Phú Quốc. Hiện có nhiều tuyến đường biển trong nước và quốc tế đang hoạt động như tuyến Hải Phòng - Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng - Đà Nẵng; Thành phố Hồ Chí Minh - Rạch Giá…và các tuyến quốc gia như Thành phố Hồ Chí Minh - Vladivostoc, Hồng Kông, Singapore, Băng Cốc; Hải Phòng đi Hồng Kông, Manila, Tôkyô,… Đường hàng không: Cả nước hiện nay có khoảng 14/18 sân bay, trong đó có 2/3 sân bay quốc tế đang được khai thác ở vùng ven biển, đó là: Cát Bi (Hải Phòng); Vinh (Nghệ An); Đà Nẵng; Phù Cát (Bình Định); Tuy Hòa (Phú Yên); Nha Trang, Cam Ranh (Khánh Hòa); Vũng Tàu, Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tầu); Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh); Cà Mau (Cà Mau); Rạch Giá, Phú Quốc (Kiên Giang). Trong số các sân bay trên có nhiều máy bay mới được nâng cấp và mở rộng như sân bay Phú Bài, Côn Đảo, Phú Quốc,.v.v.góp phần quan trọng góp phần thúc đẩy du lịch biển phát triển. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN Ở VIỆT NAM. 2.1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH BIỂN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1995-2004. 2.1.1. Nhóm chỉ tiêu về khách du lịch. 2.1.2.1. Khách du lịch quốc tế. Vùng ven biển hàng năm thu hút trên 73% số lượt khách du lịch quốc tế đến các địa phương tăng trưởng với tốc độ trung bình khoảng 15,2%/năm. Năm 1997 số lượng khách du lịch quốc tế đến vùng ven biển đạt 2.127 ngàn, năm 2000 là 3.299 ngàn và đến năm 2002 các tỉnh ven biển đã đón gần 5,3 triệu lượt khách quốc tế. Năm 2003, do ảnh hưởng của dịch SARS, lượng khách du lịch quốc tế đến vùng ven biển có hơi giảm so với năm 2002, tuy nhiên năm 2004 lại tăng trở lại cùng với việc tăng số lượng khách quốc tế đến Việt Nam (Bảng 1). Số liệu trên thống kê ở phạm vi toàn vùng ven biển Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2004 cho thấy số lượt khách du lịch quốc tế đến các khu vực trọng điểm du lịch vùng ven biển tăng nhanh với tốc độ bình quân khoảng 12,6%/năm. Riêng khu vực Quảng Ninh - Hải Phòng và Huế - Đà Nẵng có tốc độ tăng khá cao (trên 41%/năm ); tiếp đến là Nha Trang - Khánh Hòa (2,5%/năm), Bà Rịa - Vũng Tàu (12,6%/năm). Khách du lịch quốc tế đến vùng ven biển Việt Nam phân bố không đồng đều theo lãnh thổ. Có 4 khu vực thu hút khách nhiều nhất đó là: Tp Hồ Chí Minh, Vũng Tàu (hơn 40% tổng lượng khách quốc tế đến vùng ven biển), Quảng Ninh - Hải Phòng (trên 25%); Huế - Đà Nẵng (12%) và Nha Trang - Khánh Hòa (xấp xỉ 4%). Bốn khu vực trọng điểm này đã thu hút tới 80% tổng số khách quốc tế đến nghỉ ngơi tham quan trong toàn vùng ven biển. Đây là những khu vực có những đô thị lớn với điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tương đối tốt, đồng thời là những nơi tập trung nhiều tài nguyên du lịch có giá trị. Khách du lịch Việt Nam và vũng ven biển ngày càng tăng và hiện đang chiếm tỷ lệ cao nhất (27% tổng số khách quốc tế), sau đó là Việt kiều, khách Mỹ (12%), Nhật Bản (>6%). Khách du lịch đường biển chủ yếu từ các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc và một số nước Tây Âu tăng nhanh trong thời gian qua. Năm 1993 mới có 18.414 khách (chiếm 3,07% thị phần) đến năm 2001 đã tăng lên 284.612 khách (chiếm 12,2% thị phần khách khách quốc tế; và khoảng 1- 2% thị phần thu nhập), tốc độ tăng bình quân 40,5%/năm. Bảng 1: Số lượt khách du lịch quốc tế đến các tỉnh ven biển giai đoạn 1995 - 2004 Đơn vị: 1.000 lượt Năm  1995  1996  1997  1998  1999  2000  2001  2002  2003  2004   Tổng số lượt khách  1.865  2.208  2.127  1.973  2.246  3.299  4.092  5.299  4.720  5.960   Tỷ lệ đến vùng Bắc Bộ(%)  10,97  9,46  10,44  12,22  14,83  21,37  20,59  21,37  23,40  22,56   Tỷ lệ đến vùng Bắc Trung Bộ (%)  11,67  11,85  11,46  11,28  10,84  12,20  13,66  14,21  16,75  17,21   Tỷ lệ đến vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ (%)  50,15  56,10  51,66  48,09  45,71  39,93  39,56  38,17  32,10  34,15   Tỷ lệ so với cả nước (%)  72,79  77,41  73,56  71,59  71,38  73,50  73,81  73,75  72,25  73,92   Nguồn: Tổng cục Du lịch, Viện NCPT Du lịch 2.1.2.2. Khách du lịch nội địa. Vùng ven biển Việt Nam là nơi luôn thu hút tới trên 50% số lượt khách du lịch nội địa đi lại giữa các vùng trong cả nước với tốc độ tăng trung bình thời kỳ 1995 - 2004 là 12,5%/năm. Năm 1997 toàn vùng đón 5.742 ngàn lượt khách; năm 2000 đón được 7.465 ngàn lượt khách; và năm 2002 đạt 1