Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đảng trong nhiệm kỳ 2006-2010

Một là, trước những khó khăn thách thức.Đảng ta đã giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, kiên định chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; Kiên trì đường lối đổi mới; Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Hai là, Đảng có bước phát triển về tư duy; Đề ra và lãnh đạo đường lối đổi mới đúng đắn. Nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân của Đảng đã đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng. Đảng và nhà nước đã tích lũy được thêm nhiều kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý xã hội trong điều kiện mới. Ba là, dân chủ trong Đảng, trong xã hội, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc có nhiều tiến bộ. Đa số cán bộ, Đảng viên phát huy vai trò tiên phong, làm nòng cốt trong công cuộc đổi mới. Bốn là, thực hiện tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được nhân dân đồng tình. Đảng lãnh đạo xây dựng nhà nước, phát huy quyền làm chủ XHCN có tiến bộ. Vai trò của mặt trận và các đoàn thể nhân dân được nâng lên. Qui chế dân chủ ở cơ sở, quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân được phát huy.

doc32 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 27/02/2013 | Lượt xem: 4221 | Lượt tải: 10download
Tóm tắt tài liệu Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đảng trong nhiệm kỳ 2006-2010, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I - CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG 5 NĂM QUA VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUA 20 NĂM ĐỔI MỚI 1 - Khái quát một số nét về tình hình Đảng: a - Ưu điểm: Một là, trước những khó khăn thách thức...Đảng ta đã giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, kiên định chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; Kiên trì đường lối đổi mới; Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Hai là, Đảng có bước phát triển về tư duy; Đề ra và lãnh đạo đường lối đổi mới đúng đắn. Nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân của Đảng đã đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng. Đảng và nhà nước đã tích lũy được thêm nhiều kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý xã hội trong điều kiện mới. Ba là, dân chủ trong Đảng, trong xã hội, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc có nhiều tiến bộ. Đa số cán bộ, Đảng viên phát huy vai trò tiên phong, làm nòng cốt trong công cuộc đổi mới. Bốn là, thực hiện tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được nhân dân đồng tình. Đảng lãnh đạo xây dựng nhà nước, phát huy quyền làm chủ XHCN có tiến bộ. Vai trò của mặt trận và các đoàn thể nhân dân được nâng lên. Qui chế dân chủ ở cơ sở, quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân được phát huy. b - Khuyết điểm, yếu kém: Một là, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng còn nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu; chậm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận; chậm cụ thể hóa, thể chế hóa một số quan điểm lớn; tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu. Hai là, dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm; kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm; đoàn kết ở không ít cấp ủy còn yếu; quan hệ Đảng- nhân dân có lúc, có nơi bị xói mòn. Ba là, không ít tổ chức Đảng yếu kém, nhất là ở cơ sở, thậm chí bị tê liệt, mất sức chiến đấu. Bốn là, một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên yếu kém cả về phẩm chất và năng lực. Thoái hóa biến chất về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn ra nghiêm trọng, kéo dài làm giảm lòng tin của nhân dân. Đó là nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ. 2 - Công tác xây dựng Đảng a - Ưu điểm: Một là, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng được coi trọng. Đẩy mạnh hơn công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực hiện. - Từng bước đổi mới công tác giáo dục tư tưởng chính trị. - Nâng cao nhận thức của cán bộ, Đảng viên, nâng cao lòng tin của nhân dân, tạo sự nhất trí trong Đảng và sự đồng thuận trong XH. Hai là, quan tâm xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức. - Từng bước sắp xếp tổ chức, bộ máy, biên chế cơ quan Đảng, nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân. - Tập trung xây dựng Đảng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng. - Công tác phát triển Đảng viên được quan tâm chỉ đạo và thu được một số kết quả. - Công tác cán bộ có một số đổi mới về nội dung và cách làm. Triển khai tương đối đồng đều các khâu đánh giá, qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ. Ba là, công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm chỉ đạo và thực hiện góp phần bảo vệ Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Bốn là, thực hiện cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng theo nghị quyết TW 6 ( Lần 2) Khóa VIII và kết luận hội nghị TW 4 Khóa IX về đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí đã đạt một số kết quả nhất định. Năm là, BCH TW và các cấp ủy đã quan tâm hơn việc kiểm tra chấp hành đường lối, chủ trương, điều lệ Đảng và công tác cán bộ. Sáu là, từng bước cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các cơ quan nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Kết quả, thành tựu xây dựng Đảng bộ quân đội: - Tập trung xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng; tăng cường bản chất giai cấp công nhân; giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng trong quân đội. - Coi trọng kiện toàn các cấp ủy, tổ chức Đảng, xây dựng đội ngũ Đảng viên; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; năng lực lãnh đạovà sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên. - Đã có nhiều biện pháp giải quyết số lượng và nâng cao chất lượng toàn diện, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng sự phát triển của yêu cầu nhiệm vụ. - Triển khai thực hiện nghiêm túc cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng theo nghị quyết TW 6 ( Lần 2) Khóa VIII và kết luận hội nghị TW 4 Khóa IX bước đầu đạt kết quả. - Công tác kiểm tra đã bám sát nhiệm vụ chính trị, yêu cầu công tác xây dựng Đảng và cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp có chuyển biến về nhận thức và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra. - Phương pháp, phong cách lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức Đảng có sự đổi mới. b - Khuyết điểm, yếu kém: Một là, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy, tổ chức Đảng chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa tạo được sự chuyển biến cơ bản để ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Hai là, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng còn nhiều hạn chế thiếu sót; thiếu chủ động và sắc bén trong đấu tranh chống “ Diễn biến hòa bình” . Công tác nghiên cứu lý luận còn yếu, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới. Trong chỉ đạo, quản lý, hoạt động của báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật còn yếu kém, khuyết điểm. Ba là, công tác tổ chức trên một số mặt còn yếu - Chưa thực hiện đầy đủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. - Chậm xây dựng, hoàn thiện tổ chức và cơ chế giám sát trong Đảng, trong hệ thống chính trị và của nhân dân. - Còn thiếu những qui định cụ thể để thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ. - Một số cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ lãnh đạo thiếu tôn trọng và phát huy quyền Đảng viên, cán bộ lãnh đạo ở một số nơi gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức. - Tổ chức cơ sở Đảng chưa được quan tâm chỉ đạo đúng mức. Không ít cơ sở Đảng yếu kém, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thấp. Bốn là, nhiều khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục, nhất là việc quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thực hành dân chủ và chế độ trách nhiệm trong công tác. - Chậm đổi mới cơ chế, phương thức đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. - Chưa kiên quyết sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ, thay thế kịp thời những cán bộ yếu kém. - Chưa có chính sách đủ hiệu lực để thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng. - Chậm khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín, hẫng hụt cán bộ ở địa phương, ngành. Năm là, công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn nhiều hạn chế, nhất là trong việc xem xét, giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay. Chậm bổ sung một số điểm không còn phù hợp trong Qui định 75- QĐ/TW; tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác bảo vệ chậm được kiện toàn. Sáu là, công tác kiểm tra trong đảng còn yếu, chất lượng, hiệu quả chưa cao. Bảy là, đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng chậm và lúng túng. Những thiếu sót, khuyết điểm của công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội. Công tác tư tưởng còn biểu hiện chủ quan, đơn giản thiếu chiều sâu, thiếu vững chắc. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ vẫn là khâu yếu. Năng lực quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết còn hạn chế. Một số Đảng viên chưa phát huy vai trò tiên phong gương mẫu; mơ hồ, mất cảnh giác, để lộ bí mật, thiếu tin vào khả năng tổ chức thực hiện đường lối. Tính chiến đấu trong sinh hoạt của đảng chưa cao. Cá biệt có Đảng viên suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống. Một số cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nhiệm vụ công tác kiểm tra. Xem xét, giải quyết một số việc thiếu kiên quyết, triệt để. Tiếp thu, sửa chữa khuyết điểm chưa nghiêm túc. Tình trạng che dấu khuyết điểm, phô trương hình thức chưa được khắc phục. Chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống quan liêu, tham nhung, lãng phí. Công tác nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược chưa tốt. Để thiếu cán bộ cơ sở...tỷ lệ trung đội trưởng đào tạo ngắn hạn còn cao, xây dựng và thực hiện qui hoach cán bộ chủ trì chưa tốt, còn hẫng hụt nguồn cán bộ. Biến động cấp ủy quá tỷ lệ qui định. Chưa phát hiệnvà có giải pháp khắc phục kịp thời những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ. c - Nguyên nhân của những khuyết điểm, yếu kém: - Nguyên nhân khách quan: + Những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của tình hình thé giới; sự tấn công của các thế lực thù địch; mặt trái của cơ chế thị trường...tác động đến nhiều mặt công tác xây dựng Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên. + Xây dựng Đảng trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN... là những vấn đề mới, khó khăn, phức tạp cả về lý luậnvà thực tiễn. - Nguyên nhân chủ quan: + Chậm đổi mới tư duy về công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới; chưa cụ thể hóa và tổ chức thực hiện kịp thời một số quan điểm lớn về xây dựng Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm; tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương và xây dựng Đảng chưa nghiêm; công tác kiểm tra còn nhiều hạn chế; kiện toàn tổ chức, đổi mới công tác cán bộ thiếu kiên quyết, hiệu quả thấp; chưa quan tâm đúng mức đến công tác bảo vệ Đảng. + Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức và năng lực, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, không hoàn thành nhiệm vụ. 3 - Bài học kinh nghiệm chủ yếu qua 20 năm đổi mới về công tác xây dựng Đảng. Một là, phải kiên trì đường lối đổi mới, đổi mới toàn diện, có nguyên tắc và sáng tạo; trong quá trình đổi mới phải luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, không đa nguyên, đa Đảng. Hai là, Đảng phải được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu; đổi mới công tác xây dựng Đảng. Ba là, Đảng phải chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, Đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn. Bốn là, Đảng phải mạt thiết gắn bó với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân. Năm là, Đảng phải tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của mặt trận, các đoàn thể và các cơ quan thông tin đại chúng. Sáu là, Đảng phải đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo nhất là phương thức lãnh đạo nhà nước, phát huy hiệu lực quản lý của nhà nước, tính chủ động, sáng tạo của các đoàn thể nhân dân. II - NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG. 1 - Về bản chất của Đảng và cách diễn đạt về Đảng. - Điều lệ Đại hội VI diễn đạt về bản chất giai cấp công nhân, tính tiên phong của Đảng: “ Đảng công sản Việt nam là Đảng của giai câp công nhân Việt nam, là đội tiền phong, bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân Việt nam. Đảng đại biểu trung thích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc”. Trong quá trình chuẩn bị cho Đại hội VII, nhiều ý kiến cán bộ, đảng viên cho rằng: hiện nay Đảng ta là Đảng cầm quyền, Đảng không những chăm lo cho lợi ích của giai cấp công nhân mà còn phải chịu trách nhiệm trước lợi ích và vận mệnh của toàn dân tộc. Đảng phải là của toàn dân tọc. Nói Đảng của giai cấp công nhân là rơi vào chủ nghĩa biẹt phái, tách Đảng khỏi dân tộc. Cần khẳng định rõ giai cấp công nhân, tính tiên phong, tính đại biểu lợi ích của Đảng. Đại hội VII thảo luận kỹ vấn đề này và sửa đổi cách diễn đạt về bản chất của Đảng. Điều đó khẳng định sự phát triển tư duy về Đảng và công tác xây dựng Đảng. - Điều lệ Đại hội VII; Đại hội VIII; Đại hôi IX phát triển, hoàn thiện và diễn đạt: “ Đảng cộng sản Việt nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”. Trong điều kiện mới, có nhiều ý kiến đề nghị cần thể hiện đầy đủ hơn, phản ánh sát thực hơn bản chất vốn có của Đảng công sản Việt nam- một Đảng ra đời từ phong trào công nhân và phong trào yêu nước. - Báo cáo bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng trình Đại hội X đề xuất: “ Đảng cộng sản Việt nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động dân tộc” ( 76,83% đại biểu tán thành; Ban chấp hành TW Khoá IX biểu quyết với 78,7%; Đại hội cấp tỉnh, thành phố có 72% số đại biểu tán thành). Cần khẳng định và làm rõ những vấn đề sau: Một là, khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng, Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, là đội tiên phong của giai cấp công nhân. - Hiện nay Đảng ta đang lãnh đạo xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN...vì vậy càng phải chăm lo giữ vững, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Nếu không nhận thức sâu sắc bản chất giai cấp công nhân thì rất dễ mơ hồ, dẫn đến phai nhạt lý tưởng, làm biến chất Đảng.Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định rõ vấn đề này. - Thực tế lịch sử xây dựng và hạot động của Đảng ta, dù tên gọi là Đảng cộng sản hay Đảng lao động thì Đảng ta vẫn luôn mang bản chất giai cấp công nhân. - Bản chất giai cấp công nhân của Đảng được thể hiện ở: mục tiêu lý tưởng; nền tảng tư tưởng; nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng; quan điểm; đường lối, nguyên tắc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng; quan điểm, nguyên tắc quan hệ quốc tế của Đảng. Hai là, cần thể hiện rõ hơn mối quan hệ giữa Đảng với giai cấp và dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh. - Ở nước ta, quyền lợi của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc là thống nhất. Sức mạnh của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp cách mạng bắt nguồn từ việc Đảng đã giải quyết hài hoà lợi ích và kết hợp chặt chẽ vấn đề giai cấp với dân tộc. - Sự gắn kết máu thịt giữa Đảng với giai cấp và dân tộc được thể hiện ngay từ nguồn gốc, qui luật ra đời của Đảng ta. Đây là đặc thù của Việt nam, là sáng tạo của Chủ tịch Hồ CHí Minh. Nhiều lần Hồ Chí Minh đã khẳng định Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiền phong của dân tộc. Ba là, vấn đề lợi ích. - Đảng ta không có mục đích nào khác ngoài mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân và của dân tộc. Đảng đại biểu trung thành và chăm lo cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc. Trong cách mạng dân tộc, dân chủ, Đảng ta nêu khẩu hiệu và thực hiện, bảo vệ lợi ích “độc lập dân tộc” và “ Người cày có ruộng”. Trong giai đoạn hiện nay Đảng đề ra mục tiêu: dân giàu, nước mạnh,, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Đó là sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc. Đảng có uy tín sâu rộng, được toàn dân tộc thừa nhận là lãnh tụ chính trị, là “Đảng ta”, Đảng của dân tộc. - Hồ Chí Minh luôn giải quyết đúng đắn, kết hợp chặt chẽ lợi ích nhân dân lao động và toàn dân tộc, không chỉ là lãnh tụ của Đảng mà còn là lãnh tụ của nhân dân, của dân tộc. - Trong điều kiện Đảng cầm quyền, (duy nhất cầm quyền) phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc thì Đảng càng phải chịu trách nhiệm, chăm lo cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Bốn là, diễn đạt như trên vừa thể hiện rõ bản chất giai cấp công nhân, không lẫn lộn bản chất Đảng, vừa khẳng định rõ vai trò lãnh tụ chính trị, mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với giai cấp và toàn dân tộc. Điều đó thể hiện sự trung thành của Dảng ta đối với nguyên lý xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác- Lê nin, đồng thời thể hiện sự phát triển sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tế, đặc thù của Việt nam, đáp ứng tình cảm, nguyện vọng của nhân dân. 2 - Vấn đề Đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đây là vấn đề nhạy cảm, hệ trọng,liên quan đến quan điểm, đường lối, mục tiêu lý tưởng của Đảng, được đặt ra từ nhiều năm nay. TW đã chỉ đạo Hội đồng lý luận TW, các cơ quan nghiên cứu, điều tra khảo sát, tổng kết, hội thảo, trao đổi ý kiến với nhiều đồng chí lãnh đạo ở các địa phương. Riêng BCH TW đã thảo luận qua 4 kỳ Hội nghị.Tuy nhiên, đây là vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, cho nên có những ý kiến khác nhau, sự lo lắng của một số cán bộ, đảng viên về sự tha hoá, biến chất của Đảng là chính đáng, rất cần lưu tâm. Theo yêu cầu của Hội đồng lý luận TW, Trung tâm nghiên cứu dư luận XH, Ban Tư tưởng – Văn hoá TW đã tiến hành thăm dò dư luận XH về “vấn đề đảng viên làm kinh tế tư bản, tư nhân”. Đối tượng điều tra là: Cán bộ lãnh đạo, quản lý ( Chủ yếu từ cấp vụ trở lên) ở một số cơ quan TW, thành phố Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh; chủ doanh nghiệp tư nhân; cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoa học; cán bộ hưu trí. Kết quả cho thấy: - 98% cho rằng hành động làm giàu đúng pháp luật, đóng góp nhiều của cải cho đất nước, giải quyết nhiều công ăn việc làm cho XH đang có sức lôi cuốn mọi người noi theo. - 72% cho rằng làm chủ doanh nghiệp tư nhân, kể cả tư bản tư nhân mà chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Nhà nước, không áp bức người lao động thì không phải là bóc lột. - 67% cho rằng làm kinh tế tư bản tư nhân đã được coi trọng dưới góc độ pháp luật nhưng cần được coi trọng cả dưới góc độ đạo đức, không nên coi làm kinh tế tư bản tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là bóc lột. - 64% cho rằng đạo đức và pháp luật trong chế độ XHCN là thống nhất với nhau, cái gì hợp pháp, cái đó hợp đạo đức. Cần đổi mới quan niệm đạo đức về kinh tế tư bản tư nhân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. - 77% cho rằng việc Đảng cộng sản Trung quốc cho phép kết nạp vào Đảng những người là chủ doanh nghiệp tư nhân là bước đổi mới, phát triển tư duy lý luận quan trọng của Đảng cộng sản Trung quốc. - 70% cho rằng việc Đảng cộng sản Trung quốc cho phép kết nạp vào Đảng những người là chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ đẩy nhanh quá trình phát triển trở thành cường quốc thế giới của Trung quốc. - 72% cho rằng nên cho phép Đảng viên làm kinh tế tư nhân nhưng ngoài việc chấp hành các qui định pháp luật, phải chấp hành thêm một số điều kiện khác do Đảng qui định. Đại hội khẳng định chủ trương: “ Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành điều lệ và qui định của BCH TW” ( có 87,6% đại biểu tán thành; BCH TW Khoá IX 88,35%; Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh, thành có 85% số đại biểu tán thành). Cần thống nhất nhận thức trên những vấn đề sau: - Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đất nước còn nghèo, phải tập trung phát triển lực lượng sản xuất, làm ra nhiều của cải cho XH. Muốn thế phải huy động mọi nguồn lực, khai thác mọi tiềm nắng, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, của mọi thành phần kinh tế, tất cả vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng viên phải lãnh đạo và gương mẫu thực hiện chủ trương này. - Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN do Đảng cộng sản lãnh đạo, chúng ta không xem kinh ấê tư nhân là gắn với chủ nghĩa tư bản mà Đảng lanhzx đạo kinh tế tư nhân phát triển theo định hướng XHCN. Vì vậy, Đảng viên có thể làm kinh tế tư nhân trên cơ sở chấp hành pháp luật, điều lệ Đảng và qui định của BCH TW. - Hiện nay số Đảng viên làm chủ doanh nghiệp tư nhân ở nước ta còn ít, qui mô rất nhỏ. Phần đông họ đã từng làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, bộ đội, công an đã về hưu, về mất sức được Đảng, Nhà nước đào tạo, bồi dưỡng. Dư luận XH chưa băn khoăn nhiều về đảng viên làm chủ doanh nghiệp tư nhân. Vì họ đã giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân, làm tăng của cải cho XH, đóng góp ngân sách cho nhà nước, đối xử tốt với người lao động. - Theo luật pháp hiện hành, những cán bộ, đảng viên trong biên chế Nhà nước, tại chức, tại ngũ không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân. - Cho Đảng viên làm kinh tế tư nhân, nhưng với những qui định bảo đảm vừa phát huy khả năng làm kinh tế của đảng viên, vừa giữ được tư cách đảng viên không làm biến chất Đảng, không chỉ làm theo pháp lu
Luận văn liên quan