Quá trình thâm nhập thị trường Australia của công ty LS – VINA Cable

Mặc dù nhu cầu thế giới đối với mặt hàng dây,cáp điện chỉ ở mức khoảng 3% năm nhưng tính từ năm 2001 đến nay hoạt động xuất khẩu mặt hàng này đang ngày càng phát triển mạnh mẽ đem lại một nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia. Năm 2005, trị giá xuất khẩu dây và cáp điện của Việt Nam đạt 523,3 triệu USD và vươn lên trở thành mặt hàng đứng thứ 9 trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tính chung giai đoạn 2001 – 2005 xuất khẩu mặt hàng này xấp xỉ 1,5 tỷ USD với tốc độ tăng bình quân gần 35%/năm. Điều này đã phản ánh được vai trò quan trọng cũng như tiềm năng to lớn từ việc xuất khẩu mặt hàng này trên thị trường quốc tế. Các thị trường mục tiêu cho mặt hàng này của Việt Nam là Nhật Bản, Australia. Dự báo đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu dây và cáp điện Việt Nam sang Nhật Bản sẽ đạt hơn 800 triệu USD, sang Australia đạt trên 60 triệu USD. Là một công ty đứng đầu cả nước trong lĩnh vực sản xuất cáp điện, công ty LS – VINA Cable đã sớm nhận biết xu hướng cũng như cơ hội từ việc xuất khẩu mặt hàng này nên đã chủ động triển khai tìm hiểu, thâm nhập thị trường nước ngoài để xuất khẩu sản phẩm từ năm 2001 và đã nhanh chóng gặt hái được nhiều thành công. Trong những thị trường mà công ty đã lựa chọn để xuất khẩu cáp điện thì thị trường Australia luôn giữ vị trí chiến lược chiếm tới gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty. Lý do là vì công ty đã có một quá trình tìm hiểu kỹ càng về thị trường Úc trước khi thâm nhập từ đó đưa ra chiến lược kinh doanh đúng đắn và hiệu quả.

doc30 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 15/12/2012 | Lượt xem: 2873 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Quá trình thâm nhập thị trường Australia của công ty LS – VINA Cable, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Mặc dù nhu cầu thế giới đối với mặt hàng dây,cáp điện chỉ ở mức khoảng 3% năm nhưng tính từ năm 2001 đến nay hoạt động xuất khẩu mặt hàng này đang ngày càng phát triển mạnh mẽ đem lại một nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia. Năm 2005, trị giá xuất khẩu dây và cáp điện của Việt Nam đạt 523,3 triệu USD và vươn lên trở thành mặt hàng đứng thứ 9 trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tính chung giai đoạn 2001 – 2005 xuất khẩu mặt hàng này xấp xỉ 1,5 tỷ USD với tốc độ tăng bình quân gần 35%/năm. Điều này đã phản ánh được vai trò quan trọng cũng như tiềm năng to lớn từ việc xuất khẩu mặt hàng này trên thị trường quốc tế. Các thị trường mục tiêu cho mặt hàng này của Việt Nam là Nhật Bản, Australia. Dự báo đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu dây và cáp điện Việt Nam sang Nhật Bản sẽ đạt hơn 800 triệu USD, sang Australia đạt trên 60 triệu USD. Là một công ty đứng đầu cả nước trong lĩnh vực sản xuất cáp điện, công ty LS – VINA Cable đã sớm nhận biết xu hướng cũng như cơ hội từ việc xuất khẩu mặt hàng này nên đã chủ động triển khai tìm hiểu, thâm nhập thị trường nước ngoài để xuất khẩu sản phẩm từ năm 2001 và đã nhanh chóng gặt hái được nhiều thành công. Trong những thị trường mà công ty đã lựa chọn để xuất khẩu cáp điện thì thị trường Australia luôn giữ vị trí chiến lược chiếm tới gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty. Lý do là vì công ty đã có một quá trình tìm hiểu kỹ càng về thị trường Úc trước khi thâm nhập từ đó đưa ra chiến lược kinh doanh đúng đắn và hiệu quả. Vì vậy, em chọn “Quá trình thâm nhập thị trường Australia của công ty LS – VINA Cable” làm đề án môn học.Kết cấu của đề án gồm ba chương: CHƯƠNG I:Quá trình thâm nhập thị trường Australia của công ty LS – VINA Cable Đây là phần mô tả tình huống của đề tài. Phần này đi vào giới thiệu về công ty liên doanh cáp điện LS – VINA và quá trình thâm nhập thị trường Australia của công ty. CHƯƠNG II:Phân tích quá trình thâm nhập thị trường Australia của công ty LS – VINA Cable Đây là phần phân tích tình huống đã đưa ra bằng việc phân tích thị trường Australia, những thuận lợi và khó khăn khi thâm nhập thị trường và đánh giá quá trình thâm nhập thị trường Australia của công ty. CHƯƠNG III: Bài học kinh nghiệm và các giải pháp nhằm giúp công ty LS – VINA Cable thành công hơn nữa trên thị trường Australia. Phần này đưa ra một số bài học kinh nghiệm về quá trình thâm nhập thị trường Australia của công ty LS – VINA Cable và một số giải pháp giúp công ty thành công hơn nữa trong việc thâm nhập thị trường này. CHƯƠNG I QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG AUSTRALIA CỦA CÔNG TY LS – VINA CABLE I/ Khái quát chung về công ty liên doanh cáp điện LS - VINA Thành lập ngày 25/11/1996, LG -VINA Cable là một công ty liên doanh với một đối tác nước ngoài có tiếng là công ty TNHH LG Cable của Hàn Quốc. Sau khi tập đoàn LG (Hàn Quốc) thực hiện chương trình cải tổ, trong đó công ty LG Cable Ltd trở thành một đơn vị hạch toán độc lập và đổi tên thành LS Cable Ltd. Là bên nước ngoài trong công ty liên doanh cáp điện LG – VINA, UBND Thành phố Hải Phòng đã chấp thuận kiến nghị của công ty liên doanh và Bộ Kế hoạch và Đầu tư CHXHCN Việt Nam đã ban hành giấy phép đầu tư sửa đổi số 148/GPSD5 ngày 30/05/2005 cho phép công ty liên doanh đầu tư nâng cao năng lực sản xuất mở rộng lĩnh vực hoạt động đồng thời đổi tên thành: Công ty liên doanh cáp điện LS – VINA Tên tiếng Anh: LS – VINA CABLE JOINT VENTURE COMPANY Viết tắt là: LS – VINA Cable Tổng giám đốc hiện nay của công ty là ông Seon Kook Kim - người Hàn Quốc. Địa chỉ của công ty ở phường Sở Dầu - Quận Hồng Bàng - Thành phố Hải Phòng. Công ty LS – VINA Cable tiếp tục thực hiện mọi nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi pháp lý và kinh tế của công ty LG – VINA Cable trước đây và sử dụng logo mới, con dấu mới và tên gọi mới của công ty liên doanh từ 13/06/2005. Các mặt hàng sản xuất kinh doanh chính của công ty là: Cáp hạ thế ; Cáp trung thế ; Cáp cao thế ; Dây đồng; OPGW; Cáp trần; Cáp điều khiển; Cáp chống cháy; Cáp vặn xoắn trung thế và các sản phẩm khác. Công ty đã xuất khẩu sản phẩm sang rất nhiều nước và khu vực trên thế giới. Các thị trường xuất khẩu chính của công ty là Australia, Singapore, Lào, Campuchia, Bangladesh, Philippin, Hồng Kông, Newziland, châu Phi... Thành lập từ năm 1996 nhưng trong 5 năm công ty mới chỉ dừng lại ở việc sản xuất các sản phẩm theo hợp đồng của công ty ở Hàn Quốc và cung cấp sản phẩm cho thị trường nội địa mà chưa xuất khẩu. Cùng với thời gian, công ty đã ngày càng vững mạnh trên thị trường nội địa. Với việc Việt Nam mở cửa nền kinh tế và hợp tác kinh tế theo xu hướng quốc tế hoá thì bắt đầu từ năm 2001, công ty đã chủ động tìm đường xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài nhằm nắm bắt cơ hội hội nhập kinh tế, tạo điều kiện phát triển bền vững cho công ty. Tính từ khi bắt đầu hoạt động xuất khẩu, tổng doanh thu của công ty liên tục tăng với tốc độ khá cao. Nếu năm 2001 doanh thu đạt 26,5 triệu USD thì năm 2004 đã là 42 triệu USD, năm 2005 là 54 triệu USD tăng 28,6% so với năm 2004. Trong đó thì doanh thu từ hoạt động xuất khẩu cũng khá cao và chiếm tỷ trọng trung bình trong tổng doanh thu là 22%. Qua các năm, kim ngạch xuất khẩu của công ty liên tục tăng với tốc độ trung bình từ 25% - 28%. Cụ thể là: Năm 2001 kim ngạch xuất khẩu là 4,3 triệu USD, năm 2004 là 9,37 triệu USD, năm 2005 là 14,9 triệu USD. Sắp tới công ty sẽ tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động xuất khẩu ở các thị trường cũ và mở rộng xuất khẩu sang các thị trường mới như châu Âu và châu Mỹ với mục tiêu nâng tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu lên 30% - 35%. Với nhiều nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, khẳng định uy tín và thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế, công ty liên doanh cáp điện LS – VINA đã trở thành doanh nghiệp đứng đầu cả nước nếu chỉ tính riêng trong lĩnh vực sản xuất dây cáp điện và là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cáp điện lớn nhất của Việt Nam, đóng góp rất nhiều vào sự phát triển chung của cả nước. II/ Quá trình thâm nhập thị trường Australia của công ty LS - VINA Theo số liệu thống kê thì nhu cầu thế giới đối với mặt hàng dây điện, cáp điện chỉ ở mức khoảng 3%/năm nên việc lựa chọn thị trường để xuất khẩu là một vấn đề rất quan trọng để đảm bảo thành công. Tính cho đến đầu năm 2006, ở Việt Nam có khoảng trên 100 doanh nghiệp tham gia sản xuất và xuất khẩu dây điện, cáp điện trong đó có nhiều công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài để đầu tư sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này với quy mô lớn và có dây chuyền công nghệ hiện đại như: Công ty cổ phần Dây và cáp điện Taya VN, Công ty Funikawa Automotive Parts VN, Công ty Yazaki Edds VN, Công ty điện tử Asti... Khối các doanh nghiệp trong nước cũng xuất hiện nhiều doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh với quy mô lớn, đặc biệt là công ty dây và cáp điện Việt Nam (Cadivi). Các chuyên gia cho rằng, thị trường nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng này của Việt Nam chủ yếu là Nhật Bản (chiếm 90%), Hàn Quốc, Australia, Hồng Kông và các thành viên nước Asean. Các thị trường mục tiêu vẫn là Nhật Bản và Australia. Vậy tại sao công ty lại quyết định lựa chọn thị trường Australia để thâm nhập mà không phải thị trường Nhật Bản? Đó là do các nguyên nhân cơ bản sau: Thứ nhất, giai đoạn 1996 – 2001, xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài vào sản xuất mặt hàng dây cáp điện khá mạnh mẽ nên thi trường nội địa sẽ dần bị bão hòa do tính chất cạnh tranh khốc liệt hơn và khả năng các doanh nghiệp sẽ tìm đường xuất khẩu ra nước ngoài là tất yếu. Đoán trước được xu hướng này nên công ty đã mạnh dạn chủ động tìm kiếm thị trường để xuất khẩu sản phẩm nhằm đi trước đón đầu, tạo tiền đề cho sự phát triển sau này. Thứ hai, vào thời điểm những năm 2000 – 2001, Việt Nam đã mở cửa kinh tế một cách sâu rộng hơn, có nhiều chính sách ưu đãi cho hoạt động hợp tác kinh doanh quốc tế nhằm mục đích hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh đó, công ty cũng không thể đứng ngoài cuộc mà phải tự tìm đường phát triển cho mình bằng cách thâm nhập các thị trường nước ngoài. Thứ ba, công ty LS – VINA Cable có ưu thế lớn về chất lượng và thương hiệu sản phẩm vì công ty liên doanh với một công ty đứng thứ 10 thế giới trong lĩnh vực sản xuất cáp điện nên được hỗ trợ rất nhiều về công nghệ, kỹ thuật, đặc biệt là thương hiệu đã được khẳng định và được biết đến ở nhiều nước trên thế giới. Thứ tư, Úc và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 26/2/1973. Sau gần 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ Việt – Úc đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên hầu hết các lĩnh vực. Trao đổi thương mại giữa 2 nước liên tục tăng từ 32 triệu USD năm 1990 lên 74,5 triệu USD năm 2000. Úc là một quốc gia có nền kinh tế tư bản thịnh vượng sánh ngang với các nước công nghiệp châu Âu, lại có quan hệ ngoại giao cũng như thương mại khá tốt với Việt Nam nên đây được xác định là một thị trường xuất khẩu nhiều tiềm năng. Đặc biệt, thị trường Úc có những đặc điểm về địa lý,dân cư, kinh tế rất phù hợp cho việc triển khai hoạt động xuất khẩu sản phẩm cáp điện của công ty như: Mật độ dân số thưa, phân bố địa lý rộng, các ngành công nghiệp điên năng, công nghệ thông tin và viễn thông rất phát triển nên nhu cầu sử dụng cáp điện rất cao, trong khi đó ngành sản xuất các sản phẩm này lại chưa đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu trong nước. Vì vậy, Úc phải nhập khẩu khá nhiều từ các nước khác. Những thị trường nhập khẩu chủ yếu của Úc là từ các nước công nghiệp phát triển, tuy nhiên thời gian gần đây Úc đang có xu hướng chuyển sang nhập khẩu sản phẩm từ các nước Đông Á trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó, khoảng cách địa lý từ Việt Nam tới Úc cũng không quá xa so với các nước châu Âu và Nhật Bản nên điều kiện giao hàng cũng tương đối thuận lợi. Thứ năm, Nhật Bản là một trong những nước xuất khẩu hàng công nghiệp như máy móc, linh kiện điện tử, ôtô, máy tính.... hàng đầu thế giới nhưng cũng là nước nhập khẩu gần như hoàn toàn về nguyên vật liệu để sản xuất các mặt hàng đó. Nhật Bản đang có nhu cầu nhập khẩu mặt hàng dây cáp điện của Việt Nam với số lượng ngày càng tăng mạnh. Do đó, đa số các doanh nghiệp sản xuất dây cáp điện ở Việt Nam đều cố gắng tìm cách thâm nhập thị trường này. Trong 5 năm gần đây (2000 – 2005) Nhật Bản luôn là thị trường nhập khẩu chủ yếu của sản phẩm cáp điện Việt Nam, chiếm hơn 90% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Tuy thị trường Nhật Bản đầy tiềm năng như vậy nhưng công ty LS – VINA lại không chọn đây là thị trường mục tiêu để thâm nhập vì ở thị trường này có quá nhiều đối thủ cạnh tranh cả trong và ngoài nước. Trong khi đó thị trường Úc cũng có nhu cầu rất cao về sản phẩm cáp điện (chỉ đứng sau Nhật Bản) nhưng các doanh nghiệp khác lại chưa tập trung đứng mức vào thị trường này. Vì vậy, công ty đã chủ động tìm cách thâm nhập thị trường này. Nắm được những thuận lợi này cũng như tận dụng cơ hội để hội nhập kinh tế quốc tế, công ty LS – VINA Cable đã đầu tư tìm hiểu, liên hệ và thâm nhập thị trường Úc bắt đầu từ năm 2001. Để tìm hiểu về thị trường Úc, công ty đã thông qua sự hỗ trợ của Đại sứ quán Việt Nam tại Úc, tham tán thương mại Việt Nam, hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam tại Úc.Từ đó công ty đã nắm được những đặc điểm cơ bản về kinh tế, chính trị, xã hội Úc và rút ra những thuận lợi, khó khăn cho hoạt động thâm nhập thị trường của mình. Sau khi tìm hiểu đặc điểm thị trường Úc và đánh giá năng lực của bản thân, công ty quyết định lựa chọn thâm nhập thị trường Úc bằng phương thức xuất khẩu. Lý do vì công ty đủ vốn cũng như kinh nghiệm để có thể đầu tư trực tiếp ở Úc. Mặt khác, công ty cũng đã có một thời gian sản xuất kinh doanh và đứng vững trên thị trường nội địa, những mặt hàng của công ty sản xuất có chất lượng tốt, uy tín cao nên có thể tự mình vươn ra thị trường nước ngoài bằng xuất khẩu trực tiếp mà không cần thông qua hình thức chuyển nhượng hoặc gia công. Thời gian đầu, công ty chủ yếu giới thiệu sản phẩm của mình qua các hội chợ triển lãm sản phẩm Việt – Úc hay các hội chợ triển lãm ngành của hai nước như: Australian Wine Industry Suppliers Trade Show; ACE; AUSPACK... Với thế mạnh là một công ty liên doanh với công ty LS Cable của Hàn Quốc - một công ty rất có tiếng, đứng thứ 10 thế giới về sản xuất cáp điện nên chất lượng sản phẩm của công ty khá tốt. Toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh và sản phẩm của công ty được quản lý theo hệ thống quản lý chất lượng ISO và tiêu chuẩn chất lượng công nghệ Hàn Quốc. Công ty luôn ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới nhằm đảm bảo chất lượng tốt nhất của các sản phẩm cung cấp cho khách hàng. Công ty đã đạt chứng chỉ KS cho sản phẩm cáp hạ thế do KSA (Hàn Quốc) cấp năm 2000 và đạt chứng chỉ ISO 9001: 2000 do tổ chức chứng nhận Globle vương quốc Anh cấp. Bên cạnh đó, thương hiệu của công ty cũng được nhiều quốc gia trên thế giới biết đến nhờ ảnh hưởng từ sự nổi tiếng của công ty LG Hàn Quốc. Đây là những yếu tố ban đầu rất quan trọng tạo sự tin cậy cho việc thiết lập mối quan hệ làm ăn với các đối tác ở Úc của công ty được dễ dàng hơn. Trong quá trình giới thiệu sản phẩm qua các hội chợ, triển lãm ngành của hai bên, công ty đã chủ động làm quen và trực tiếp ký kết được hợp đồng với những khách hàng tham gia hội chợ, triển lãm này. Bên cạnh đó, công ty tích cực tìm kiếm bạn hàng qua các nguồn thông tin hỗ trợ từ Thương vụ Việt Nam tại Úc, Bộ Công nghiệp Úc và các thông tin từ các trang web có uy tín như: Mạng thông tin kinh tế thương mại tìm đối tác, thị trường mới (www.asemtranet.com); Danh bạ các nhà xuất nhập khẩu thế giới (www.e-worldcom.net); Mạng cung cấp thông tin chính thức của Bộ Thương mại (www.vinanet.com.vn). Sau khi xác định được một số khách hàng tiềm năng, công ty tiến hành chào hàng, giới thiệu sản phẩm tận nơi, từ đó tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh. Tháng 10/2001, sau một thời gian tìm hiểu thị trường Úc và thiết lập quan hệ với một số đối tác của Úc, công ty đã bắt đầu xuất khẩu sản phẩm của mình vào thị trường này. Hệ thống chính sách của Úc đối với việc xuất khẩu mặt hàng này khá thuận lợi do nhu cầu cần nhập nhiều mặt hàng dây cáp điện, mức thuế áp dụng cho các sản phẩm này cũng thấp hơn một số nước khác. Bên cạnh những thuận lợi từ phía thị trường Úc, công ty không chỉ chú trọng vào chất lượng sản phẩm, các hoạt động dịch vụ sau khách hàng cũng được công ty quan tâm như thăm hỏi, hướng dẫn sử dụng sản phẩm... tạo được sự yên tâm và hài lòng từ phía khách hàng. Trong quá trình xuất khẩu, công ty đảm bảo chất lượng sản phẩm, giao hàng đúng hẹn, không chỉ có vậy các hoạt động dịch vụ sau bán hàng cũng được công ty quan tâm như thăm hỏi, hướng dẫn sử dụng sản phẩm... tạo được sự yên tâm và hài lòng từ phía khách hàng. Tóm lại, hoạt động xuất khẩu cáp điện giữa hai bên diễn ra khá thuận lợi, công ty đã ký kết được nhiều hợp đồng có giá trị lớn, thường xuyên và dài hạn. Không chỉ dừng ở đó, công ty rất chú trọng đầu tư vào nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến và tạo ra các sản phẩm ưu việt hơn. Năm 2004, công ty đã vinh dự đạt giải nhì Giải thưởng Chất lượng quốc tế châu Á - Thái Bình Dương theo đánh giá của giải thưởng chất lượng Malcom Baldrige (USA). Điều này đã phần nào nói lên những nỗ lực vượt bậc của công ty và tạo điều kiện cho quan hệ hợp tác giữa công ty và các đối tác Úc ngày càng phát triển. Tất cả các yếu tố trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu của công ty sang Úc đạt được nhiều kết quả đáng kể. Thị trường Úc vẫn luôn là thị trường xuất khẩu chủ lực của công ty, tính trung bình giai đoạn 2001 – 2005 kim ngạch xuất khẩu cáp điện sang Úc luôn chiếm tới gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả công ty. Bảng số 1: KNXK sang thị trường Úc của công ty LS – VINA Cable (Đơn vị: Triệu USD) Năm  KNXK của thị trường Úc  Tổng KNXK  % so với tổng KNXK   2001  3.4  4.3  79   2002  4.1  5.15  79.6   2003  5.2  6.56  79.3   2004  7.5  9.37  80   2005  11.9  14.9  79.8   (Nguồn: Công ty liên doanh cáp điện LS – VINA) Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng cao qua các năm. Năm 2005 tăng 58,6% so với năm 2004. Tốc độ tăng trưởng trung bình là 37,5 %/ năm. Như vậy, có thể thấy công ty LS – VINA Cable đã hoàn toàn đúng đắn khi lựa chọn xuất khẩu sản phẩm cáp điện sang thị trường Úc và đã thành công trong việc tiếp cận cũng như thâm nhập thị trường nhiều tiềm năng này. CHƯƠNG II PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG AUSTRALIA CỦA CÔNG TY LS – VINA CABLE I/ Phân tích việc lựa chọn thị trường của công ty. 1. Khái quát về thị trường Úc. Úc là quốc gia duy nhất trên thế giới đồng thời cũng là một lục địa và là nước có diện tích lớn thứ 6 trên thế giới sau Nga, Canada, Trung Quốc, Mỹ và Brazil. Úc nằm ở châu Đại dương, là lục địa ở giữa Ấn Độ dương và Nam Thái Bình dương. Diện tích: 7.686.850 km2 Dân số: 20.090.000 người (2005) Thủ đô: Canberra Quốc khánh: 1/1/1901 Các thành phố lớn: Sydney, Melboune, Newcastle, Darwin Đơn vị tiền tệ: Đồng Đôla Australia (AUD) Cơ cấu chính quyền: Theo chế độ quân chủ lập hiến, là thành viên khối liên hiệp Anh. Mặc dù là một quốc gia độc lập, nữ hoàng Anh Elizabeth 2 cũng là nữ hoàng của Australia. Hệ thống pháp luật: Dựa trên hệ thống pháp luật chung Anh quốc. Ngành tư pháp cũng có 2 cấp liên bang và tiểu bang. Cơ sở hạ tầng kinh tế: Úc có hệ thống hạ tầng CNTT, bưu chính viễn thông và thông tin liên lạc hiện đại trên thế giới. Lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông của Úc cung cấp những dịch vụ rất đáng tin cậy và giá cả rất cạnh tranh. Các chỉ tiêu xã hội: Tốc độ tăng trưởng dân số 0,87% Mật độ dân cư 2,6 người/km2 Các chỉ tiêu kinh tế: GDP 631,3 tỷ USD (2004) Tăng trưởng GDP 3% GDP bình quân/người 31.423 USD/người/năm Tăng trưởng GDP/người 1,8% Lạm phát 2,3% Cơ cấu ngành: - Công nghiệp 28,2% - Nông nghiệp 3,4% - Dịch vụ 68,4% Các chỉ tiêu thương mại: Kim ngạch xuất khẩu 86.582 triệu USD Mặt hàng xuất khẩu chính Than, vàng, thịt lợn, len, nhôm, quặng sắt, lúa mì, máy móc và thiết bị vận tải Các đối tác xuất khẩu chính Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Niu Dilân, Ấn Độ, Anh. Kim ngạch nhập khẩu 107.763 triệu USD Mặt hàng nhập khẩu chính Máy móc và thiết bị vận tải, máy tính và các loại máy văn phòng, các thiết bị và các phụ tùng viễn thông, dầu thô và các sản phẩm xăng dầu,... Các đối tác nhập khẩu chính Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Singapore, Anh. Thành viên các tổ chức: ANZUS, APEC, ARF, AsDB, ASEAN (Đối tác đối thoại), Nhóm châu Đại Dương, BIS, FAO, IAEA, IBRD, ICAO, ICC, IDA, IEA, IFAD, IMF, IMO, IOC, MIGA, OECD, OPCW, PCA, UN, UNCTAD, UNESCO,UPU, WHO, WIPO, WTO, WToO, ZC Quan hệ kinh tế với Việt Nam: Úc lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ ngày 26/2/1973. Một số hiệp định quan trọng liên quan đến thương mại giữa hai nước đã được ký kết như: Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại (6/1990); Hiệp định khuyến khích và bảo vệ đầu tư (3/1991); Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (4/1992); Thỏa thuận hợp tác phát triển (5/1993). Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam: Dầu thô, hàng thuỷ sản đông lạnh, giày dép, hàng dệt may, sản phẩm gỗ... Sau hơn 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ Việt – Úc đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên hầu hết các lĩnh vực. Trao đổi thương mại giữa hai nước liên tục tăng từ 32 triệu USD năm 1990 lên 1,7 tỷ USD năm 2003 và gần 2,3 tỷ USD năm 2004. Hiện nay Úc là đối tác thương mại lớn thứ 7 và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam (sau Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc). 2. Những thuận lợi và khó khăn khi thâm nhập thị trường Úc 2.1 Thuận lợi Qua việc tìm hiểu và đánh giá đặc điểm thị trường Úc cũng như năng lực của công ty, chúng ta có thể rút ra một số thuận lợi trong quá trình thâm nhập thị trường của công ty LS – VINA Cable như sau: - Nước Úc là nước có diện tích lớn thứ 6 trên thế giới là 7.686.800 km2 nhưng dân số chỉ có 20.090.000 người do đó mật độ dân số rất thưa khoảng 2,6 người/km2. Mức độ tăng trưởng dân số cũng rất chậm nên hiện tại và trong tương lai đây vẫn là quốc gia có phân bố địa
Luận văn liên quan