Qui mô và một số giải pháp phát triển kinh tế biển ở Việt Nam

Tính cấp thiết Việt Nam là một quốc gia có biển lớn trong vùng Biển Đông với chỉ số biển khoảng 0,01, gấp 6 lần giá trị trung bình biển thế giới. Biển Việt Nam dài và đẹp, lại chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng với trữ lượng lớn, quy mô thuộc loại khá, cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng. Kinh tế biển đã và đang đóng góp một phần lớn cho nền kinh tế nước nhà

ppt11 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 16/11/2013 | Lượt xem: 1628 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Qui mô và một số giải pháp phát triển kinh tế biển ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Khoa Kinh Tế Và Phát Triển Nông Thôn Môn Kinh tế tài nguyên Bài 5: TS. Phạm Thị Thanh Bình- Trao đổi về phát triển kinh tế biển ở Việt Nam- Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 16(102)-trang 7-9. Giáo Viên Hướng Dẫn: PGS_TS Nguyễn Văn Song Sinh viên thực hiện : Nhóm 16 I. Mở đầu Mục Lục: *Tính cấp thiết *Mục tiêu *Nội dung nghiên cứu -Quy mô kinh tế biển -Thách thức -Một số giải pháp phát triển kinh tế biển ở Việt Nam *Kết luận I. Mở đầu Tính cấp thiết Việt Nam là một quốc gia có biển lớn trong vùng Biển Đông với chỉ số biển khoảng 0,01, gấp 6 lần giá trị trung bình biển thế giới. Biển Việt Nam dài và đẹp, lại chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng với trữ lượng lớn, quy mô thuộc loại khá, cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng. Kinh tế biển đã và đang đóng góp một phần lớn cho nền kinh tế nước nhà I. Mở đầu * Mục tiêu nghiên cứu Phân tích quy mô kinh tế biên ở Việt Nam, nhìn nhận những thách thức và đưa ra những giải pháp cho phát triển kinh tế biển ở Việt Nam II. Nội dung 2.1 Quy mô kinh tế biển Quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam đạt khoảng 47 – 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt 20 – 22% tổng GDP cả nước. Trong đó đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí hàng hải, du lịch biển. Các ngành liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tầu biển, chế biến dầu khí…đang bước đầu phát triển Gần đây nhờ một số chính sách mà kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển Tuy vậy có thể nhận định một cách khái quát rằng, sự phát triển của kinh tế biển còn quá nhỏ bé và nhiều yế kém 2.1 Quy mô kinh tế biển Quy mô kinh tế biển Việt Nam chỉ đạt 10 tỷ USD; trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước đạt 1.300 tỷ USD, Nhật Bản đạt 46 tỷ USD; Hàn Quốc đạt 33 tỷ USD. Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu. Hệ thống cảng biển còn nhỏ bé manh mún, nhìn chung thiết bị còn lạc hậu chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp Đến nay Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển nối liền các thành phố, khu kinh tế. Hệ thống các cơ sở khoa học, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển, các cơ sở quan trắc, dự báo cảnh báo thời tiết, thiên tai.. Còn hạn chế thô sơ Du lịch biển là một tiềm năng kinh doanh lớn tuy nhiên ngành du lịch thiếu những sản phẩm dịch vụ biển – đảo đặc sắc có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế 2.1 Quy mô kinh tế biển Các lĩnh vực liên quan trục tiếp đến biển như chế biến sản phẩm dầu, khí, chế biến thủy hải sản, đóng và sửa chữa tầu biển… chủ yếu mới đang ở mức bắt đầu xây dựng, hình thành, quy mô còn nhỏ Trình độ khai thác biển của nước ta vẫn đang ở tình trạng lạc hậu nhất khu vực Việt Nam tuy là một quốc gia biển, song đến nay chúng ta vẫn chưa thực sự dựa vào biển để phát triển đúng tiềm năng và thế mạnh 2.2 Thách thức Lịch sử phát triển cho thấy những những bước đột phá hầu hết bắt đầu từ các quốc gia có biển. Tình trạng khan hiếm nguyên liệu, năng lượng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, dẫn tới cạnh tranh thị trường, tranh chấp lãnh thổ và xung đột quốc gia thường xuyên và gay gắt 2.2 Thách thức Chính vì lẽ đó mà luận điểm “thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương” xuất hiện và được nhất trí cao trên toàn thế giớ việt nam cũng đang trong xu thế đó Tài nguyên biển thuộc dạng tài nguyên chia sẻ chứa đựng “yếu tố không gian” là tiền đề phát triển đa ngành, song việc quản lý biển – đảo đến nay vẫn theo cách tiếp cận mở “ điền tư, ngư chung” chủ yếu quản lý théo ngành Khu vực biển đông đang tranh chấp gay gắt, nên việc hợp tác và hội nhập quốc tế để phát triển kinh tế ở khu vực này gặp không ít khó khăn Ngoài ra nước ta là một trong những nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao. Đến nay chưa có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề này cũng như chưa có giải pháp hiệu quả 2.3 Một số giải pháp phát triển kinh tế biển ở Việt Nam Điểm mấu chốt trong chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam là hội nhập quốc tế Việt Nam cần triển khai hàng loạt các giải pháp nghiên cứu về biển cả chiến lược, chính sách lẫn khoa học-công nghệ bao gồm: Thứ nhất phát triển mạnh giao thông vận tải để đáp ứng nhu cầu xuất, nhập khẩu hàng hóa Thứ hai tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, huấn luyện thuyền viên Thứ ba tập trung phát triển du lịch đảo và du lịch ven biển 2.3 Một số giải pháp Thứ tư tăng cường khai thác năng lượng, khoáng sản, thủy sản biển. Đẩy mạnh sản xuất muối biên trên cơ sở thâm canh, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất các đồng muối hiện có Thứ năm phát triển cơ cấu hạ tầng trên cơ sở đầu tư nâng cấp các cụm cảng, đáp ứng nhu cầu xuât nhập khẩu III. KẾT LUẬN Việt Nam là một quốc gia có biển lớn trong vùng biển Đông, biển Việt Nam dài và đẹp chứa đựng nhiều nguần tài nguyên phong phú và đa dạng với trữ lượng lớn quy mô thuộc loại khá,cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế quan trọng. Tuy nhiên việc quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên trên biển còn gặp nhiều khó khăn, việc tranh chấp chủ quyền trên biển Đông đang diễn ra gay gắt ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển, Việt Nam còn nhiều yếu kém về phát triển kinh tế biển – đảo như cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được, trình độ khoa học kỹ thuật còn kém. Nhưng kinh tế biển đã và đang đóng góp một phần lớn cho nền kinh tế nước nhà.
Luận văn liên quan