Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo và Việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo

Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự là một vấn đề đang được nhiều sự quan tâm. Trước kia, bị can, bị cáo mặc nhiên bị coi là có tội và bị tước phần lớn quyền công dân. Hiện nay, pháp luật TTHS coi bị can, bị cáo là những người chưa có tội nên trong quá trình tố tụng họ có những quyền nhất định cũng như nghĩa vụ phải thực hiện trước pháp luật. Bài viết này sẽ đi vào tìm hiểu những quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS hiện hành, cũng như việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó trên thực tế, từ đó đưa ra những biện pháp hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong TTHS.

doc15 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 23/05/2013 | Lượt xem: 2125 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo và Việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A – LỜI MỞ ĐẦU Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự là một vấn đề đang được nhiều sự quan tâm. Trước kia, bị can, bị cáo mặc nhiên bị coi là có tội và bị tước phần lớn quyền công dân. Hiện nay, pháp luật TTHS coi bị can, bị cáo là những người chưa có tội nên trong quá trình tố tụng họ có những quyền nhất định cũng như nghĩa vụ phải thực hiện trước pháp luật. Bài viết này sẽ đi vào tìm hiểu những quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS hiện hành, cũng như việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó trên thực tế, từ đó đưa ra những biện pháp hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong TTHS. B – NỘI DUNG 1. Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự 1.1 Khái niệm bị can, bị cáo Theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) thì “bị can là người đã bị khởi tố về hình sự”. Khi một người bị khởi tố về hình sự thì họ sẽ trở thành đối tượng bị buộc tội trong vụ án, tuy nhiên điều đó không có nghĩa xác định họ là người có tội. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc. Vì theo quy định tại Điều 72 Hiến pháp 1992 và Điều 9 BLTTHS 2003 thì: Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì bị can là người bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can. Bị can sẽ tham gia vào các giai đoạn điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm. Tư cách tố tụng của bị can sẽ chấm dứt khi cơ quan điều tra đình chỉ điều tra, viện kiểm sát đình chỉ vụ án, Tòa án đình chỉ vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) đối với bị can hoặc Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 BLTTHS 2003 thì: “bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”. Bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Và khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm. Bị cáo cũng không phải là người có tội. Họ chỉ trở thành người có tội nếu sau khi xét xử họ bị Tòa án ra bản án kết tội và bản án đã có hiệu lực pháp luật. 1.2 Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Bị can hay bị cáo chỉ là các tên gọi khác nhau của cùng một người khi ở các giai đoạn tố tụng khác nhau. Do vậy, ngoài những quyền và nghĩa vụ riêng có của từng đối tượng thì họ đều có chung các quyền và nghĩa vụ khi ở các giai đoạn khác nhau. a. Các quyền và nghĩa vụ chung của bị can, bị cáo Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ: pháp luật đã quy định trách nhiệm của người tiến hành tố tụng khi áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người, tạm giữ và tạm giam đều phải giải thích cho đối tượng bị áp dụng các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ. Trong các văn bản áp dụng pháp luật tố tụng hình sự (các lệnh bắt, luyết định tạm giữ hay lệnh tạm giam) đều phải đọc, giải thích rõ cho đối tượng; trong quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ tội danh, điều khoản luật được áp dụng đối với bị can; trong phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo trong thủ tục bắt đầu phiên tòa. Việc đảm bảo quyền này của bị can, bị cáo có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo quyền con người của bị can, bị cáo; giúp họ hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình cũng như cũng như góp phần nhanh chóng kịp thời giải quyết vụ án, xác minh sự thật vụ án. Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu: Theo quy định tại BLTTHS năm 1988 thì bị can, bị cáo có quyền đưa ra “chứng cứ và những yêu cầu”. còn theo quy định mới của BLTTHS 2003 thì bị can, bị cáo có quyền đưa ra “ tài liệu, đồ vật, yêu cầu”. Như vậy đã có sự thay đổi trong quy định của pháp luật từ việc bị can, bị cáo có quyền đưa ra chứng cứ thì nay chuyển thành những tài liệu, đồ vật. Sự thay đổi này trong quy định của pháp luật là hoàn toàn hợp lý, góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật nước ta. Bởi vì khi bị can, bị cáo cung cấp cho Cơ quan điều tra những tài liệu, đồ vật thì không phải mọi tài liệu đồ vật đó đều là chứng cứ trong vụ án. Khi Cơ quan điều tra nhận được các tài liệu, đồ vật đó thì họ phải tiến hành kiểm tra, đánh giá khách quan để xác định các tài liệu đồ vật đó có phải là chứng cứ trong vụ án hay không. Và chỉ khi các tài liệu đồ vật đó đáp ứng được các yêu cầu theo quy định của pháp luật thì chúng mới trở thành chứng cứ trong vụ án. Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo yêu cầu của Bộ luật này (BLTTHS): bị can, bị cáo có quyền đề nghị thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ không thể vô tư trong khi làm nhiệm vụ và việc họ tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng có thể làm cho vụ án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can, bị cáo. Khi các Cơ quan tiến hành tố tụng nhận được yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch của bị can thì cần phải xem xét, giải quyết yêu cầu đó nếu thấy yêu cầu là có căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự (quy định cụ thể tại Điều 42 BLTTHS về những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng). Đây là sự thể hiện nguyên tắc cơ bản trong hoạt động TTHS: “bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng” (Điều 14 BLTTHS). Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa: quyền bào chữa là một tổng thể các quyền và những biện pháp tố tụng cần thiết đảm bảo cho bị can, bị cáo tích cực tham gia TTHS; có khả năng thực tế để bày tỏ thái độ của mình đối với việc buộc tội; lưu ý các cơ quan tiến hành tố tụng về những tình tiết này hay tình tiết khác của vụ án; khả năng nêu ra những tình tiết minh oan hoặc giảm nhẹ tội cho bị can, bị cáo. Quyền bào chữa được hiến pháp quy định và là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS. Theo quy định của BLTTHS, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức pháp luật, kỹ năng bào chữa và có thể đang bị giam giữ nên họ không thể thực hiện được việc tự bào chữa có hiệu quả. Họ cần có người khác có khả năng để bào chữa, do đó, bên cạnh quyền tự bào chữa, pháp luật đã quy định họ có quyền nhờ luật sư, trợ giúp viên pháp lý, bào chữa viên nhân dân bào chữa cho mình. Những người này sẽ tham gia TTHS để nhằm bác bỏ toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ. Tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa là quyền của bị can và bị cáo, không phải là nghĩa vụ của họ. Do vậy, bên cạnh việc quy định các cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật sư phân công luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo thì cũng quy định quyền của những người này và người đại diện hợp pháp của họ được yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa (khoản 2 Điều 57 BLTTHS) Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: không phải trong mọi trường hợp mọi quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đều đúng theo quy định của pháp luật. Do vậy, để đảm bảo thực hiện tốt các quy định của pháp luật cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo thì pháp luật đã cho phép bị can, bị cáo có quyền khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng lên các chủ thể có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật. Các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét và giải quyết khiếu nại theo đúng quy định và thời hạn pháp luật quy định. Kết quả xem xét, giải quyết khiếu nại phải được thông báo bằng văn bản cho bị can, bị cáo biết. Nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát: đây là nghĩa vụ cơ bản của bị can, bị cáo. Khi có giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà bị can, bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải, còn nếu bỏ trốn thì bị truy nã. Đây là một trong các biện pháp ngăn chặn được pháp luật áp dụng nhằm đảm bảo tiến trình tố tụng và ngăn chặn tội phạm. b. Các quyền riêng của bị can Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì: bị can cần phải biết tội danh họ bị khởi tố để họ có thể tự bào chữa để gỡ tội cho mình. Nếu không biết mình bị khởi tố về tội gì thì họ khó có thể đưa ra các chứng cứ gỡ tội cho mình cùng những lời bào chữa, vì mục đích của việc tiến hành các trình tự tố tụng là nhằm xác định một người có phạm tội hay không và nếu phạm tội thì phải chịu hình phạt như thế nào. Bị can phải được giao nhận quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp có sự thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can cũng phải thông báo cho bị can biết. Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì của bị can thể hiện sự công bằng, bình đẳng và tiến bộ của pháp luật Việt nam nói chung và pháp luật xã hội chủ nghĩa vói riêng. Quyền được trình bày lời khai: là một quy định mới của BLTTHS 2003 về các quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự. Theo quy định này thì bị can có quyền trình bày lời khai về những vấn đề liên quan đến vụ án mà họ bị khởi tố. Đây là quyền chứ không phải nghĩa vụ của bị can. Do vậy nhiều khi bị can đã sử dụng quyền này của mình để khai báo những tình tiết có lợi cho mình nhằm chứng minh mình vô tội hoặc là phạm tội ở mức độ nhẹ hơn tội đã bị khởi tố hay đưa ra những tình tiết, lý do để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình. Cũng có trường hợp bị can từ chối không khai báo về hành vi của mình. Tuy nhiên trong những trường hợp mà họ từ chối khai báo hay khai báo gian dối thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó. Và ngược lại, nếu bị can có thái độ khai báo thành khẩn thì đó lại được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. Quyền được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố; các quyết định tố tụng khác theo quy định của bộ luật này: bị can có quyền được nhận các quyết định tố tụng có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Quyết định này nhằm tạo điều kiện cho bị can có thể thực hiện tốt quyền bào chữa cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của mình. b. Các quyền riêng của bị cáo Quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử: là một quyền quan trọng của bị cáo. Dựa vào nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo biết được tội danh họ bị đưa ra xét xử, thời gian, địa điểm mở phiên tòa, tên của người tham gia tiến hành tố tụng, vật chứng cần xem xét tại tòa … Trên cơ sở đó họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Ngoài ra, bị cáo cũng có quyền nhận các quyết định khác có liên quan đến đến quyền và nghĩa vụ của bị cáo như: quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này . Các quyết định này là căn cứ pháp lý để bị cáo thực hiện các quyền và nghĩa vụ có liên quan đến quyết định đó. Quyền được tham gia phiên tòa: đây không những là quyền mà còn là vấn đề có tính nguyên tắc. Chính tại phiên toà, quyền bình đẳng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng được thể hiện rõ nhất. Có thể nói, quyền tham gia phiên toà của bị cáo và quyền bình đẳng trước phiên toà trong việc đưa ra các chứng cứ, yêu cầu và tranh luận giữa kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng, trong đó có bị cáo là hai mặt của một vấn đề. Nếu không thực hiện đúng quy định bình đẳng này thì việc quy định quyền tham gia phiên toà của bị cáo cũng chỉ mang tính hình thức. Quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa: quyền này thể hiện sự dân chủ, công bằng của pháp luật TTHS. Theo đó bị cáo có quyền thể hiện quan điểm của mình trước tòa, đưa ra các ý kiến, những lập luận của mình và đối đáp với những ý kiến không thống nhất của các chủ thể khác, nhằm làm sáng tỏ vấn đề từ đó việc xét xử trở nên khách quan, thuyết phục và đạt được mục đích xét xử. Quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án: Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc tranh hỏi và tranh luận, bị cáo được quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án. Pháp luật quy định quyền này là để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được bày tỏ thái độ và nguyện vọng của mình trước khi Hội đồng xét xử đưa ra những quyết định đối với vụ án. Để bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền được nói lời sau cùng trước khi nghị án, BLTTHS quy định tại Điều 220 với nội dung không hạn chế thời gian đối với bị cáo khi họ trình bày những lời cuối cùng trước khi Toà án nghị án để phán quyết đối với họ. Không được đặt câu hỏi đối với họ. Nếu họ trình bày thêm những tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại phần xét hỏi Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án: kháng cáo là quyền chống lại bản án và quyết định của Tòa án, yêu cầu được xét xử lại. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án và các quyết định đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khi kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét và giải quyết quyền kháng cáo của bị cáo. Để bị cáo có thể yên tam thực hiện quyền kháng cáo mà không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng nào khác thì Tòa án phúc thẩm không có quyền sửa án theo hướng bất lợi hơn cho bị cáo. 2. Việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo 2.1 Đánh giá việc thực hiện quy định của Bộ luật TTHS về bảo đảm quyền của bị can, bị cáo trong TTHS Bộ Luật TTHS là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bị can bị cáo. Tuy nhiên trên thực tế, việc thực hiện quy định về đảm bảo quyền của bị can, bị cáo trong TTHS còn nhiều tồn đọng như: Trên thực tế, việc đảm bảo quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì của bị can vẫn chưa thực sự được đảm bảo. Có thể có nhiều lý do dẫn đến tình trạng trên nhưng lý do chủ yếu nhất vẫn là việc NTHTT vẫn chưa giải thích cụ thể cho bị can biết về quyền và nghĩa vụ của mình cũng như việc nhận thức pháp luật của bị can chưa cao. Điều đó khiến cho bị can nhiều khi đã nhận được quyết định khởi tố bị can nhưng vẫn chưa thực sự nắm rõ mình bị khởi tố về tội gì. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ của bị can cũng như tự bào chữa cho mình gây khó khăn hơn cho công tác điều tra, xác định sự thật vụ án. Trong việc thực hiện quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu của bị can, bị cáo: không ít người trong cơ quan bảo vệ pháp luật chưa thấy hết tầm quan trọng của việc bảo đảm thực hiện đúng quyền này, dẫn đến vi phạm một cách nghiêm trọng như không kiểm tra, xem xét thật khách quan những chứng cứ hay yêu cầu mà bị can, bị cáo đưa ra, mà thường là vội vàng bác bỏ khi thấy không phù hợp với hướng điều tra của mình. Những sai phạm đó có thể thấy ngay trong cách đặt câu hỏi với bị can. Những câu hỏi chỉ có dạng trả lời “có” hay “không” đã không gợi mở và tạo cho bị can cơ hội được đưa ra những chứng cứ và yêu cầu của mình. Thậm chí, sự không tôn trọng quyền của bị can có thể dẫn đến việc mớm cung, bức cung và dùng nhục hình. Không ít cán bộ điều tra đã muốn rằng những lời khai của bị can phải phù hợp với chứng cứ mà họ thu thập được mà không phải là những lời khai phản ánh đúng sự thật vụ án. Nếu chứng cứ mà bị can đưa ra mâu thuẫn với những chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được sẽ khiến cho cơ quan điều tra có thể quy kết bị can quanh co, chối tội gây khó khăn kéo dài vụ án. Về cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bào chữa: Mặc dù pháp luật TTHS đã quy định về quyền bào chữa và cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng thực tiễn áp dụng đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Với phạm vi đối tượng người bào chữa khác nhau như đã đề cập trên, dẫn đến hệ quả là chưa chắc đã đảm bảo chất lượng, tính chuyên nghiệp và khả năng thực tế để họ thực hiện việc bào chữa. Xu hướng người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ đến với các Văn phòng luật sư ngày một nhiều, nhưng số lượng luật sư của Việt Nam còn hạn chế. Cả nước ta hiện nay có hơn 4.000 luật sư nhưng tập trung chủ yếu tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với gần 3.000 luật sư. Số còn lại ở 62 tỉnh, thành phố chỉ có khoảng hơn 1.000 luật sư. 2.2 Những đề xuất hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Có thể nói các quy định về bị can, bị cáo trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 có nhiều điểm mới ưu việt hơn nhiều so với các quy định tương tự trước đây. Tuy nhiên, qua hơn 8 năm thực hiện Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 nói chung và các quy định về bị can, bị cáo nói riêng tôi thấy vẫn cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định đó cho phù hợp với xu thế dân chủ và nhu cầu nâng cao hiệu quả của tố tụng hình sự hiện nay. Để đảm bảo thực hiện được cơ chế bảo vệ quyền của bị can, bị cáo trong TTHS thì cần thừa nhận nguyên tắc tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của BLTTHS với những nội dung cơ bản: Quy định cụ thể các bên tham gia tranh tụng như Công tố viên, người bào chữa, bị cáo, người bị hại...; khẳng định quyền bình đẳng của các bên tham gia tranh tụng trong việc đưa ra các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra các yêu cầu, xét hỏi và tranh luận dân chủ trước Toà án, đồng thời xác định trách nhiệm của Toà án trong việc bảo đảm các bên thực hiện các quyền đó; bản án và quyết định của Toà án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Từ phương diện bảo vệ quyền của bị can, bị cáo trong TTHS, sự ghi nhận nguyên tắc này phải là cơ chế bảo đảm cho việc thực hiện các quyền đó trên thực tế. Mở rộng phạm vi tranh tụng trong giai đoạn điều tra. Đó cũng chính là mở rộng phạm vi quyền bào chữa của bị can, người tạm giữ và mở rộng những đảm bảo cho quyền bào chữa. BLTTHS ghi nhận quyền bào chữa ở thời điểm khi có quyết định tạm giữ và bổ sung một số quyền của người bào chữa tại Điều 58. Mặc dù có những bước tiến bộ về quy định của luật nhưng trong thực tiễn hoạt động TTHS vẫn chưa tạo ra sự thay đổi như mong đợi. Nguyên nhân là những quy định đó không được cụ thể hoá, không có những bảo đảm tố tụng kèm theo nên tính hiện thực hạn chế. Để đảm bảo hơn nữa quyền con người của bị can, mở rộng tính tranh tụng tạo ra sự đột phá trong giai đoạn điều tra, chúng ta nên quy định bổ sung việc tham gia bắt buộc của người bào chữa trong hai thời điểm: tiến hành lấy lời khai đầu tiên sau khởi tố bị can và thời điểm bị can nhận tội. Mọi lời khai của bị can trong hai thời điểm nói trên nếu không có sự hiện diện của người bào chữa thì không được công nhận là chứng cứ. Sự bổ sung này có tính khả thi trong điều kiện hiện nay vì: số lượng luật sư của chúng ta hiện nay còn ít so với lượng án hình sự khởi tố trong năm, nhưng sự cách biệt này hoàn toàn có thể giải quyết bằng nhiều biện pháp về tổ chức và kỹ thuật, kể cả việc mở rộng phạm vi những người có thể tham gia với tư cách là người bào chữa trong TTHS; sẽ loại trừ được hiện tượng trong phiên toà, bị cáo phản cung, phủ nhận toàn bộ hoặc một phần lời khai nhận tội của mình ở giai đoạn điều tra với lý do là những lời khai đó do có sự ép cung, mớm cung từ phía cơ quan điều tra. Trong những trường hợp như vậy, bên buộc tội hoặc Hội đồng xét xử thường yêu cầu bị cáo chứng minh sự kiện ép cung, mớm cung? Điều này thực sự khó khăn và thậm chí là sự thách đố đối với bị cáo vì bên bào chữa có quyền đưa ra các phản bác về chứng cứ của bên buộc tội và không có nghĩa vụ chứng minh tính có căn cứ của những phản bác đó. Nhưng bên buộc tội có nghĩa vụ phải chứng minh tính hợp pháp của những chứng cứ do mình thu thập trong vụ án và bằng cách đó, chứng minh những phản bác của bên bào chữa là không có căn cứ. Về trình tự và thủ tục xét hỏi tại phiên toà: giải pháp trước mắt là tăng cường tính tranh tụng của phiên toà sơ thẩm và coi đây là bước đột phá theo tinh thần Nghị quyết 49/NQ-TW, cụ thể sửa đổi thủ tục xét hỏi tại phiên toà theo hướng tham gia vào thủ tục xét hỏi chỉ có các bên tranh tụng. Bên buộc tội là VKS và người bị hại, nguyên đơn dân sự; Bên bào chữa là ng
Luận văn liên quan