Thực trạng ô nhiễm môi trường của Việt Nam hiện nay, nguyên nhân và giải pháp

Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai. Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của mỗi chúng ta và của toàn xã hội. Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn. Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất.

docx7 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 08/08/2014 | Lượt xem: 24125 | Lượt tải: 41download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng ô nhiễm môi trường của Việt Nam hiện nay, nguyên nhân và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP Mở Đầu Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai. Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của mỗi chúng ta và của toàn xã hội. Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn. Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất. Thực trạng ô nhiễm môi trường của việt nam hiện nay Ô nhiễm môi trường nước Hiện Nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trọng việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, những tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra khá nhanh và sự gia tang dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề càng ngày bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. Tính đến năm 2012, cả nước có 289 khu công nghiệp, khu chế xuất, còn có gần 900 cụm công nghiệp. Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Ví dụ nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, lượng NH3, chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các điểm xả, hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần, chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần… Ví dụ khác ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất gấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng song Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,9-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/l, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu… Tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở nước ta hiện nay không thể thiếu sự “đóng góp tích cực” từ các đô thị, thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố , nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương,…). Mặt khác, có rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải; phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được…là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nguồn nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng. Thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000 m3/ngày; lượng rác thải sinh hoạt chưa được thu gom khoảng 1.200 m3/ngày đang xả vào các khu đất ven hồ, kênh, mương trong nội thành. Thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4000 tấn/ngày; 24/142 cơ sở y tế lớn là có hệ thống xử lý nước thải. Không chỉ ở 2 thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, Đồng Nai… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý, độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam đa số dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn rác thải sinh hoạt và các chất thải của gia súc không được xử lý, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến các nguồn nước ở sông, mương, ao, hồ bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến lớn môi trường sông của động vật và sức khỏe của con người. Ngoài ra, một số làng nghề như sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhộm cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn mét khối trên ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực. Đây là vấn đề rất khó giải quyết khi mà đây chỉ là những làng nghề thủ công, rất là tốn kém và lãng phí nếu như đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải ở những làng nghề như thế này. Ô nhiễm môi trường không khí Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay. Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khỏe của con người, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và biến đổi khí hậu,… Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị hóa càng phát triển thì nguồn khí thải gây ô nhiễm môi trường không khí ngày càng nhiều, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng. Ta có thể chia việc ô nhiễm không khí thành các loại: Ô nhiễm bụi: Ở hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm, nhiều nơi ô nhiễm bụi trầm trọng, tới mức báo động. Ô nhiễm bụi chủ yếu là do các hoạt đông giao thông và xây dựng gây ra. Nồng độ bụi trung bình của các khu dân cư cạnh đường giao thông lớn và các khu công nghiệp đều vượt trị số TCCP từ 1,5-3 lần, các trường hợp cá biệt gần nhà máy nhiệt điện, nhà máy gạch đều vượt quá từ 5-8 lần. Còn lại các khu dân cư xa đường giao thông lớn, các cơ sở sản xuất hay các khu công nghiệp đều xấp xỉ tri số TCCP (trung bình 1 ngày là 0,2 mg/m3). Ô nhiễm chì (Pb) và các loại khí độc hại: Việc ô nhiễm chì chủ yếu là do các phương tiện giao thông chạy xăng pha chì gây ra. Ô nhiễm chì trong không khí ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Theo tiêu chuẩn chất lượng không khí ở Việt Nam, nồng độ chì trong không khí không được vượt quá 0,005mg/m3. Nồng độ khí SO2, CO2, NO2, CO ở một số khu công nghiệp, các nút giao thông lớn thì vượt quá mức độ cho phép nhiều lần. Lấy ví dụ, tại Hà Nội mỗi năm phải tiếp nhận khoảng 80.000 tấn khói bụi, 9.000 tấn khí SO2, 46.000 tấn khí CO từ hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp, đó là chưa kể khói của hơn 100 ngàn ôtô và hơn 1 triệu xe máy. Ô nhiễm môi trường đất Đất là tài nguyên quý giá nhất, là tư liệu sản xuất đặc biệt, yếu tố quyết định cấu thành các hệ sinh thái. Do nhiều nguyên nhận đất chia làm nhiều loại khác nhau như sa mạc, núi rừng, đất nông nghiệp và đất đô thị. Tùy thuộc vào mức độ đối xử của con người với đất mà có thê phất triển theo chiều hướng tốt cũng có thể phát triển theo chiều hướng xấu đi. Nhưng hiện nay ở nước ta mức độ ô nhiễm môi trường đất đang diễn ra hết sức nghiêm trọng mà chủ yếu do các nguyên nhân sau: Ô nhiễm môi trường đất do nước bị ô nhiễm: Đất và nước luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau nên việc môi trường nước bị ô nhiễm cũng đã trực tiếp gây ra những hậu quả xấu cho môi trường đất nước ta. Ô nhiễm môi trường đất do chất thải rắn tạo ra: Cùng với sự phát triển của công nghiệp, đời sống của nhân dân ngày càng tăng lên và đô thị hóa nhanh chóng, lượng chất thải rắn cũng ngày càng tăng. Theo thống kê của Cục Hạ tầng Kỹ thuật (Bộ Xây dựng), tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên cả nước hiện (năm 2013) vào khoảng 61.500 tấn/ngày. Đáng lưu tâm nhất là hiện cả nước chỉ có khoảng 26,8% số bãi chôn lấp chất thải rắn là đảm bảo vệ sinh, trong tổng gần 460 bãi chôn lấp được giám sát. Các thành phần của chất thải rắn bao gồm: giấy carton, vải, gỗ, rác hữu cơ, lá cây, thực phẩm, chất dẻo, cao su, nilon, kim loại, thủy tinh, vật liệu xây dựng... Lượng chất thải chưa được thu gom thì bị đổ trực tiếp ra sông ngòi hoặc được chôn lấp sơ sài do nhiều người dân chưa có ý thức bảo vê môi trường nên gây ra những hiểm họa tiềm tàng về môi trường và cho sức khỏe của mọi người. Nguyên nhân Tình trạng ô nhiễm môi trường nêu trên có nhiều nguyên nhân khác nhau, song tập trung ở các nguyên nhân chủ yếu sau đây: Thứ nhất, nhiều người vô tư vứt rác bừa bãi (cả công khai lẫn lén lút) bất kể địa điểm, thậm chí cả ở nơi có biển “cấm đổ rác”… Tệ hại hơn họ còn coi đó là điều bình thường, không hề cảm thấy xấu hổ. Ý thức của nhiều người dân về bảo vệ môi trường còn kém, chưa hiểu rõ hết tác hại của những hành động ấy tác động đến môi trường xung quanh như thế nào. Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia gìn giữ và bảo vệ môi trường. Thứ hai, quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Các cở sở pháp lí, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường. Rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lí hình sự; còn các biện pháp xử lí khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉnh hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết, doanh nghiệp trây ỳ nên cũng không có hiệu quả. Thứ ba, các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường. Công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất dường như vẫn mang tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ biến. Công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức, qua loa đại khái cho đủ thủ tục, dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao. Thứ tư, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm tra chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Do đó, trong nhiều trường hợp, đoàn kiểm tra không thể phát hiện được những thủ đoạn tinh vi của doanh nghiệp thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường. Thứ năm, những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế... trong việc bảo vệ môi trường. Giải pháp Bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp và của mọi công dân. Để ngăn chặn, khắc phục và xử lí có hiệu quả những hành vi gây ô nhiễm môi trường, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau đây: Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết giữa tự nhiên - con người - xã hội. Hai là, tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường (thường xuyên, định kỳ, đột xuất); phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, nhất là giữa lực lượng thanh tra môi trường với lực lượng cảnh sát môi trường các cấp, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lí kịp thời, triệt để những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân. Đồng thời, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác môi trường; trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại để phục vụ có hiệu quả hoạt động của các lực lượng này. Ba là, chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề, các đô thị, đảm bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp; tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo. Bốn là, chú trọng và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn tham mưu chính xác cho cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc cấp hay không cấp giấy phép đầu tư. Thực hiện công khai, minh bạch các quy hoạch, các dự án đầu tư và tạo điều kiện để mọi tổ chức và công dân có thể tham gia phản biện xã hội về tác động môi trường của những quy hoạch và dự án đó. Năm là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó những chế tài xử phạt (cưỡng chế hành chính và xử lí hình) phải thực sự đủ mạnh để đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm. Bên cạnh đó, cần xây dựng đồng bộ hệ thống quản lí môi trường trong các nhà máy, các khu công nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tổ chức giám sát chặt chẽ nhằm hướng tới một môi trường tốt đẹp và thân thiện hơn với con người.
Luận văn liên quan