Thực trạng và một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành ở huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng

Thực tập là một giai đoạn rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường. Sau một quá trình học tập và rèn luyện ở trường chúng em đã học rất nhiều kiến thức. Và thực tập là quá trình để mỗi sinh viên cần trải qua để có thể tốt nghiệp ra trường. Quá trình thực tập giúp mỗi sinh viên củng cố nâng cao kiến thức đã học qua khảo sát thực tiễn sản xuất kinh doanh và quản lý ở cơ sở thực tập. Và quá trình thực tập giúp sinh viên rèn luyện phương pháp công tác, tác phong của người cán bộ, quan điểm thái độ lao động, ý thức phục vụ, năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn để mỗi sinh viên tự tin với những kiến thức của mình trước khi ra trường. Để thực hiện quá trình thực tập và để hoàn thành tốt những yêu cầu mà thực tập đề ra. Và dựa trên những yêu cầu của quá trình thực tập em đã chọn về Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Vĩnh Bảo- Hải Phòng. Em xét thấy thực tập ở Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn ở huyện rất hữu ích cho em. Tại Phòng em có thể tiếp xúc được với thực tiễn hoạt động ở địa phương. Trong quá trình thực tập tổng hợp tại cơ sở thực tập em đã chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp chuyển dịch cơ cấ

doc22 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 12/01/2013 | Lượt xem: 2124 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng và một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành ở huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Thực tập là một giai đoạn rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường. Sau một quá trình học tập và rèn luyện ở trường chúng em đã học rất nhiều kiến thức. Và thực tập là quá trình để mỗi sinh viên cần trải qua để có thể tốt nghiệp ra trường. Quá trình thực tập giúp mỗi sinh viên củng cố nâng cao kiến thức đã học qua khảo sát thực tiễn sản xuất kinh doanh và quản lý ở cơ sở thực tập. Và quá trình thực tập giúp sinh viên rèn luyện phương pháp công tác, tác phong của người cán bộ, quan điểm thái độ lao động, ý thức phục vụ, năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn để mỗi sinh viên tự tin với những kiến thức của mình trước khi ra trường. Để thực hiện quá trình thực tập và để hoàn thành tốt những yêu cầu mà thực tập đề ra. Và dựa trên những yêu cầu của quá trình thực tập em đã chọn về Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Vĩnh Bảo- Hải Phòng. Em xét thấy thực tập ở Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn ở huyện rất hữu ích cho em. Tại Phòng em có thể tiếp xúc được với thực tiễn hoạt động ở địa phương. Trong quá trình thực tập tổng hợp tại cơ sở thực tập em đã chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành ở huyện Vĩnh Bảo_ Hải Phòng”. PHẦN I: CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TỔ CHỨC CỦA PHÒNG NÔNG NGHIỆP THUỘC UBND CẤP HUYỆN. Căn cứ các Quyết định: số 38/2005/QDD-UB ngày 06/5/2005, số 109/2004/QD-UB ngày 06/7/2004, số 106/2003/QD-UB ngày 09/10/2003, số 68/2005/QD-UB ngày 10/6/2005 của UBND tỉnh, về việc ban hành qui định chức năng, nhiệm vụ,quyện hạn, tổ chức bộ máy của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Thương mại và Du lịch tỉnh: Để bảo đảm cho Phòng Nông nghiệp thuộc UBND huyện, thị xã,( sau đây gội chung là UBND cấp huyện) có căn cứ triển khai, tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, xây dựng tổ chức bộ máy theo qui định của pháp luật, phù hợp với đặc điểm cụ thể của địa phương, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả cao, liên ngành: Sở Nội vụ- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn- Sở Công nghiệp- Sở Khoa học và Công nghệ- Sở Thương mại và Du lịch hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Phòng Nông nghiệp, thuộc UBND cấp huyện như sau: Vị trí, chức năng: Phòng kinh tế là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp-phát triển nông thôn, khoa học- công nghệ, công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, thương mại và du lịch. Phòng Kinh tế chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp về tổ chức, biên chế và công tác cảu UBND cấp huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp, Sở Khoa học và Công nghệ, SỞ Thương mại và Du lịch. Nhiệm vụ và quyền hạn: 1. Nhiệm vụ và quyền hạn chung đối với các lĩnh vực công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng quản lý: 1.1, Xây dựng và trình UBND cấp huyện ban hành các văn bản tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi, hợp tác xã, định canh, định cư, kinh tế mới, khoa học- công nghệ, tiểu thủ công nghiệp, điện, thương mại, du lịch ở địa phương, tổ chức chỉ đạo, thục hiện sau khi được UBND cấp huyện ban hành; 1.2, Xây dựng và trình UBND cấp huyện về quy hoạch, kế hoạch dài 1.2, Xây dựng và trình UBND cấp huyện về quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 5 năm, hàng năm thuộc các lĩnh vực theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý của Phòng, do UBND cấp huyện giao; tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt; 1.3, Xây dựng và trình UBND cấp huyện chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước thuộc chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp và phát triển nông thôn, công nghiệp, khoa học và công nghệ, thương mại và du lịch; 1.4, Hướng dẫn việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách; tuyên truyền, phổ biến thông tin, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực quản lý của Phòng; 1.5, Giúp UBND cấp huyện chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ đối với UBND cấp xã trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về các lĩnh vực công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng quản lý; 1.6, Tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ ; xây dựng hệ thống thông tin để phục vu công tác quản lý nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ của Phòng; 1.7, Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện việc kiểm tra, thanh tra đối với các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật và phân công của UBND cấp huyện trong các lĩnh vực nông nghiệp, khoa học công nghệ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, điện, thương mại, du lịch; 1.8, Tổng hợp, báo cáo định lỳ và đột xuất với UBND cấp huyện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Thương mại và Du lịch về tình hình thực hiện các nhiệm vụ được giao trong các lĩnh vực công tác Phòng quản lý; 1.9, Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức, tài chính, tài sản của Phòng được giao theo quy định của pháp luật và sự phân công của UBND cấp huyện; 1.10; Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của UBND cấp huyện. 2. Nhiệm vụ và quyền hạn riêng đối với lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn: 2.1, Tổ chức bảo vệ đê điều, các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ, công trình cấp, thoát nước nông thôn, công trình phòng, chống lũ lụt, bão; quản lý mạng lưới thuỷ nông trên địa bàn theo qui định của pháp luật; 2.2, Đầu mối phối hợp tổ chức và hướng dẫn thực hiện nội dung liên quan đến phát triển nông thôn; tổng hợp tình hình, báo cáo UBND cấp huyện việc xây dựng và phát triển nông thôn trên địa bàn huyện về các lĩnh vực: - Phát triển kinh tế hộ, trang trại, kinh tế hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp; - Phát triển ngành, nghề, làng nghề nông thôn; - Khai thác và sử dụng nước sạch nông thônn; -Chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản; 2.3, Thống kê diễn biến đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, diện tích nuôi trồng thuỷ sản, diễn biến tài nguyên rừng; 2.4, Quản lý các hoạt động dịch vụ phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiêp, thuỷ sản, vật tư nông lâm nghiệp, phân bón và thức ăn chăn nuôi, thức ăn thuỷ sản trên địa bàn huyện; 2.5, Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và các dự án phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và phát triển nông thôn trên địa bàn huyện; 2.6, Phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra và thanh tra việc thi hành pháp luật; tham mưu cho UBND cấp huyện giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và phát triển nông thôn theo quy định của pháp luật; 2.7, Thực hiện nhiệm vụ thường trực Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão của huyện; đề xuất phương án, biện pháp và tham gia chỉ đạo việc phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai về lũ lụt, bão, hạn hán, úng ngập, chua phen, dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi trên địa bàn huyện. III- Tổ chức và biên chế: 1, Tổ chức: 1.1, Lãnh đạo phòng: Gồm có Trưởng phòng và các phó trưởng phòng. - Trưởng phòng : Là người đứng đầu và chịu trách nhiệm trước UBND, Chủ tịch UBND cấp huyện và pháp luật về thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Phòng. - Phó Trưởng phòng: Là người giúp Trưởng phòng chỉ đạo một số mặt công tác; chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng và pháp luật về nhiệm vụ được phân công. Khi trưởng phòng vắng mặt, một phó Trưởng phòng được Trưởng phòng uỷ nhiệm điều hành các hoạt động của phòng. - Việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, cho từ chức, thực hiện chế độ, chính sách đối với Trưởng phòng và Phó phòng được thực hiện theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý cán bộ của UBND tỉnh. 1.2, Các công tác chuyên môn, nghiệp vụ: - Công tác chuyên môn, nghiệp vụ làm việc tại Phòng được bố trí tương xứng với nhiệm vụ và số lượng biên chế được giao. - Công chức chuyên môn, nghiệp vụ chịu sự quản lý, điều hành của Trưởng phòng; thực hiện trức trách, nhiệm vụ, quyền hạn do Trưởng phòng phân công; chịu trách nhiệm trước Trưởn phòng và pháp luật về các lĩnh vực công việc được phân công đảm nhiệm. 2, Biên chế: Biên chế của Phòng do CHủ tịch UBND cấp huyện quyết định trong tổng biên chế quản lý hành chính nhà nước của UBND cấp huyện được Chủ tịch UBND tỉnh giao hàng năm. IV. Chế độ làm việc và trách nhiệm của Trưởng phòng : 1, Phòng làm việc theo chế độ thủ trưởng; 2, Trưởng phòng căn cứ các quy định của pháp luật và phân công của UBND cấp huyện xây dựng qui chế làm việc, chế độ thông tin báo cáo của cơ quan và chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện qui chế đó; 3, Trưởng phòng chịu trách nhiệm về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan mình và các công việc được UBND, Chủ tịch UBND cấp huyện phân công hoặc uỷ quyền; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm khi để xảy ra tình trạng tham nhũng, gây thiệt hại trong tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý của mình; 4, Trưởng phòng có trách nhiệm báo cáo với UBND, Chủ tịch UBND cấp huyện và SỞ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp, Sở Khoa học và công nghệ, Sở Thương mại về tổ chức, hoạt động của Phòng, xin ý kiến về những vấn đề vượt quá thẩm quyền và báo cáo công tác trước HĐND và UBND cùng cấp khi được yêu cầu; phối hợp với thủ trưởng các cơ quan chuyên môn, các tổ chức chính trị- xã hội cùng cấp giải quyết các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. V- Tổ chức thực hiện: Căn cứ qui định của pháp luật và hướng dẫn tại văn bản này, UBND cấp huyện qui định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Phòng, đảm bảo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng địa phương; đồng thời chỉ đạo Phòng triển khai, tổ chức thực hiện, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, đảm bảo đúng qui địn của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả, xây dựng cơ quan trong sạch vững mạnh. Trong quá trình triển khai, thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị UBND cấp huyện tổng hợp, báo cáo về liên Sở để xem xét giải quyết. PHẦN II: TỔNG KẾT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP NĂM 2007 VÀ NGHIỆM VỤ NĂM 2008. Kết quả sản xuất nông nghiệp năm 2007 Sản xuất nông nghiệp năm 2007, bên cạnh những điều kiện thuận lợi, gặp không ít khó khăn về thưòi tiết, sâu bệnh hại cây trồng, dịch bệnh cúm gia cầm, bệnh LMLM gia súc, dịch bệnh tai xanh ở lợn luôn diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát. Song được sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện và các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể quần chúng từ huyện đến các xã, thị trấn, sự quan tâm của thành phố và sự nỗ lực của toàn dân khắc phục mọi khó khăn trong sản xuất. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển, đã giành nhiều kết quả thắng lợi trên các lĩnh vực. Giá trị sản xuất nông nghiệp- thuỷ sản ước đạt 570.081 trđ, bằng 94,3% kế hoạch và tăng 5,4% so với năm 2006. Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp: trồng trọt 54,5%; chăn nuôi- thuỷ sản 45,5%; giá trị sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản đạt 47,45 triệu đồng/ha. Về trồng trọt: Giá trị sản lượng trồng trọt đạt 335.995 triệu đồng, đạt 95,2% kế hoạch, tăng 5,0% so năm 2006. Tổng sản lượng lương thực đạt 120.250 tấn, tăng 0,5% kế hoạch, bằng 99,2% so với năm 2006. Đối với sản xuất lúa: Diện tích gieo cấy lúa cả năm: 19.760,06 ha, tăng 0,3% kế hoạch, bằng 99,3% so với năm 2006; năng suất lúa trung bình đạt 57,53 tạ/ha, bằng 94,7% kế hoạch, bằng 98,6% so với năm 2006; sản lượng thóc đạt 113.680 tấn, bằng 95,0% kế hoạch và bằng 97,9% so với năm 2006. Đối vớí sản xuất rau màu: tổng diện tích rau màu các loại: 5205,4ha tăng 5,5% so với năm 2006. Cây công nghiệp : 1041,6ha, bằng 91,85% kế hoạch bằng 94,0% so với năm 2006. Trong đó thuốc lào: 849ha, bằng 85,84% so với kế hoạch, bằng 92,5% so với năm 2006, sản lượng 1.443 tấn. Đỗ tương: 93,1ha, cói 34,5ha, cây khác là 65ha. Toàn huyện có 28/30 xã, thị trấn xây dựng và thực hiện mô hình cánh đồng 50tr/ha/năm, với diện tích 720ha, tăng so với năm 2006 là 120ha. Các công thức luân canh cây trồng có giá trị kinh tế cao nhân ra diện rộng như bí đỏ, ớt xuất khẩu, ngô lai F1, lúa lai F1, khoai tây, và mô hình luân canh với cây thuốc lào truyền thống. Tổ chức khảo nghiệm, trình diễn nhiều giống lúa mới ở cả vụ xuân và vụ mùa có hiệu quả, giúp cho việc lựa chọn các giống có năng suất, chất lượng, giá trị cao đưa vào sản xuất. 2. Về chăn nuôi: - Giá trị sản xuất chăn nuôi: 180.411triệu đồng, bằng 97,8% so với kế hoạch, tăng 2,8% so với năm 2006. Trong đó: đàn lợn tổng số 85470 con, đàn trâu 2345 con, đàn gia cầm các loại: 1425 nghìn con. Các loại gia súc khác được quan tâm phát triển đầu tư như đàn dê có 2094 con, thỏ 6716 con. - Kinh tế trang trại và gia trại được quan tâm thực hiện, phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô trang trại, gia trại, sản phẩm hàng hoá được sản xuất tập trung, có khối lượng lớn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tạo điều kiện cho ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. 3. Về thuỷ sản: - Diện tích nuôi trồng thuỷ sản: 1.042,5ha. Giá trị sản xuất là 50.521 triệu đồng. - Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản cho 13 xã với tổng diện tích là 277,41ha trong đó đã thực hiện nuôi trồng thuỷ sản hướng dẫn các xã Hùng Tiến, Trung Lập, Cổ Am hoàn tất các thủ tục phê duyệt quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản. Đánh giá chung Sản xuất trong nông nghiệp- thủy sản năm 2007, trong điều kiện gặp nhiều khó khăn, song sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triểt và chuyển dịch tích cực đúng hướng. Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi, thủy sản chiếm 45,5%, giảm tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt chiếm 54,5%. Trong trồng trọt đã đạt được những tiến bộ tích cực về chuyển dịch cơ cấu giống, thời vụ gieo cấy, kỹ thuật gieo trồng và phòng trừ sâu bệnh…Đặc biệt trong vụ mùa năm 2007 đã có sự chuyển dịch rõ nét về cơ cấu giống, với các giống ngắn ngày có năng suất chất lượng, giá trị cao, trong đó các giống lúa đặc sản chiếm 27,7% diện tích, cơ bản đã loại bỏ giống lúa dài ngày, giống lúa lai bắc ưu 903, bắc ưu 253 trong vụ mù, thay thế vào đó là tập đoàn giống lúa mới chiếm 40% diện tích. Thời vụ gieo cấy lúa mùa được gieo cấy sớm và tập trung là những yếu tố tích cực cho vụ mùa năm 2007b đạt năng suất cao. Năng suất lúa cả năm đạt 57,3 ta/ha (11,46 tấn/ha/năm), tuy chưa đạt kế hoạch đề ra, nhưng là kết quả thể hiện sự quyết tâm, cố gắng lớn của Đảng bộ và nhân dân trong toàn huyện và là huyện dẫn đầu năng suất lúa toàn thành phố. Các cây rau màu lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp được mở rộng cả về quy mô và giá trị, đã hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung như vùng sản xuất cât xuất khẩu ở các xã phía bắc huyện, sản xuất hoa giống và hoa thương phẩm ở Thị trấn, Vĩnh Long, sản xuất lúa lai F1 ở Tân Liên, Thanh Lương … Trong chăn nuôi- thủy sản tập trung cao công tác nuôi dưỡng và phòng chống dịch bệnh, đàn lợn giảm, nhưng đàn bò, đàn gia cầm tăng nhanh. Chăn nuôi từng bước được chuyển đổi sang nuôi quy mô gia trại, trang trại tập trung, quy mô lớn và hướng công nghiệp, bán công nghiệp. Đã hình thành vùng quy hoạch chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản tập trung. Các nhiệm vụ khác phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn như thủy lợi, HTX nông nghiệp, kinh tế mới, nước sạch vệ sinh môi trường được quan tâm và tổ chức thực hiện tốt. Tồn tại: Một số chỉ tiêu chính chưa đạt kế hoạch đề ra như năng suất lúa cả năm, đàn lợn giảm. Chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng, thời vụ có chuyển biến nhưng còn chậm và chưa đạt yêu cầu. Đặc biệt là cơ cấu giống lúa trong vụ xuân, trà lúa xuân sớm còn chiếm tỷ lệ cao chiếm 21% diện tích. Một số xã có tỷ lệ gieo cấy xuân sớm nhiều như Vĩnh Long 60% diện tích, Đồng Minh 69,8% diện tích, Hưng Nhân 66,5% diện tích, Vinh Quang 41,5% diện tích, Vĩnh Phong 30% diện tích, Thắng Thủy 58% diện tích. Việc thực hiện thời vụ gieo cấy chưa đồng bộ giữa các xã trong huyện và trong từng xã, trà lúa xuân muộn ở các xã phía bắc huyện Hưng Nhân, Vĩnh Phong… gieo cây quá sớm so lịch thời vụ, lúa trỗ trong tháng 4, ảnh hưởng ngiêm trọng đến năng suất và là nguyên nhân chính là giảm năng suất vụ xuân. Vụ lúa mùa cơ cấu giống đã chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn một số nơi chưa loại bỏ dứt điểm giống lúa dài ngày. Thời vụ gieo cấy lúa mùa một số nơi trà lúa mùa sớm, mùa trung cấy muộn và chậm. Đã hình thành vùng sản xuất hàng hóa, cây xuất khẩu, cây có giá trị kinh tế cao nhưng chỉ tập trung ở một số xã và việc phá vỡ hợp đồng sản xuất tiêu thụ sản phẩm còn xảy ra phố biến ở các xã. Công tác quy hoạch và phát triển trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản được quan tâm nhưng một số nơi chưa quan tâm đúng mức, không phát triển hoặc phát triển chậm. II- Nguyên nhân thắng lợi và những tồn tại cần khắc phục. 1. Nguyên nhân thắng lợi Trước hết: do có sự tập trung cao lãnh đạo, chỉ đạo của huyện ủy, HĐND, UBND và các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành xã, thị trấn, sự phối kết hợp của các ngành, đoàn thể quần chúng, sự nỗ lực của toàn dân, sự quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ của thành phố, việc đề xuất các giải pháp, biện pháp và tổ chức thực hiện có hiệu quả của các cơ quan chuyên môn đã khai thác thực hiện , áp dụng đồng bộ các giải pháp, biện pháp trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản cũng như các nhiệm vụ phát triển nông nghiệp nông thôn. -Trong trồng trọt đã tập trung cao cho công tác làm đất chuyển đổi cơ cấu giống, mùa vụ, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và tiếp thu các cây trồng xuất khẩu, cây trồng có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. - Trong chăn nuôi đã tập trung cao, quyết liệt cho công tác phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là phòng chống dịch cúm gia cầm, bệnh tai xanh, bệnh LMLM cho đàn gia súc, khống chế có hiệu quả dịch bệnh, hạn chế tới mức thấp nhất do dịch bệnh gây ra, ổn định chăn nuôi, thủy sản tập trung. Phát triển đàn trâu bò, đàn dê, đàn thỏ, đàn gia cầm, ứng dụng ngày càng rộng rãi các TBKT về giống nuôi công nghiệp, bán công nghiệp để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm chăn nuôi- thủy sản. - Các cơ chế hỗ trợ sản xuất được xây dựng và ban hành sớm, tạo điều kiện cho nông dân tiếp thu vào sản xuất có hiệu quả. 2- Nguyên nhân tồn tại * Nguyên nhân khách quan - Thời tiết diễn biến phức tạp và bất thường ở cả vụ xuân và vụ mùa, thời tiết ấm trong vụ xuân đã rút ngắn thời gian sinh trưởng các trà lúa, lúa trổ sớm ảnh hưởng cơn bão số 4,5 vào tuần cuối tháng 9 đã làm đổ rạp trên 500 ha lúa mùa đang trong thời kỳ vào chín đỏ đuôi, làm giảm năng suất. - Sâu bệnh hại cây trồng phát sinh phát triển trên diện rộng, dịch bệnh gia súc, gia cầm. Đặc biệt là bệnh tai xanh trên đàn lợn phát sinh và lan nhanh ở nhiều nơi và nhiều hộ chăn nuôi nhất là lợn nái làm giảm đàn lợn nái và tổng đàn lợn trên toàn huyện. Dịch bệnh LMLM , dịch cúm gia cầm luôn có nguy cơ bùng phát. - Trong q
Luận văn liên quan