Tiểu luận Chiến lược marketing - mix với việc phát triển thị trường tiêu thụ ô tô du lịch nhập khẩu của doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện

Giữ vững và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường là một điều rất khó khăn, đòi hỏi doanh nghiệp phải có các biện pháp tiếp cận thị trường một cách chủ động và sẵn sàng đối phó với mọi nguy cơ, đe doạ, cũng như áp lực cạnh tranh từ thị trường. Để làm được điều này, doanh nghiệp phải thực hiện sản xuất kinh doanh hướng theo thị trường, theo khách hàng và phải áp dụng các hoạt động Marketing vào thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường, trong đó việc xây dựng và hoàn thiện một chính sánh Marketing-mix với những chiến lược và biện pháp cụ thể sẽ là một trong những công cụ cạnh tranh sắc bén và hiệu quả của doanh nghiệp để đi đến thành công. Từ nhận thức trên, qua quá trình tìm hiểu về tình hình tiêu thụ sản phẩm ô tô bốn chỗ nhập khẩu tại thị trường Hải Phòng và miền Bắc của doanh nghiệp Tư nhân Trọng Thiện, Hải Phòng, kết hợp với những kiến thức tiếp thu được, tôi xin mạnh dạn chọn đề tàii “Chiến lược Marketing-mix với việc phát triển thị trường tiêu thụ ô tô du lịch nhập khẩu của Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện”. Mục tiêu của đề tài là phân tích thực trạng ứng dụng chính sách Marketing-mix trong Doanh nghiệp để tìm ra được các tồn tại và các nguyên nhân hạn chế của nó để từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chính sách Marketing-mix nhằm thực hiện chiến lược mở rộng thị trường của Doanh nghiệp. Biện pháp Marketing-mix tập trung vào các yếu tố sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến thương mại đối với sản phẩm ô tô tải hạng nhẹ nhập khẩu của Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện. Những biện pháp đưa ra là sự kết hợp của các chiến lược phát triển thị trường theo ma trận cặp sản phẩm/thị trường của Ansoff áp dụng vào phương pháp Marketing mix. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp thu thập số liệu và các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Kế thừa các tài liệu, báo cáo, phỏng vấn trực tiếp cán bộ công nhân viên Doanh nghiệp. - Phương pháp xử lý phân tích: + Phương pháp phân tích tổng hợp, mô hình, sơ đồ. + Kết hợp với các phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp, phỏng vấn để thực hiện đề tài. Nội dung tiểu luận gồm 4 chương: Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Một số vấn đề lý luận chung về biện pháp Marketing – Mix nhằm phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Chương 3: Kết quả đánh giá, phân tích tình hình thị trường và hoạt động Marketing – Mix tại Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện. Chương 4: Giải pháp Marketing – Mix nhằm phát triển thị trường tiêu thụ ô tô du lịch nhập khẩu của Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện.

doc41 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 23/02/2013 | Lượt xem: 777 | Lượt tải: 7download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Chiến lược marketing - mix với việc phát triển thị trường tiêu thụ ô tô du lịch nhập khẩu của doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Giữ vững và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường là một điều rất khó khăn, đòi hỏi doanh nghiệp phải có các biện pháp tiếp cận thị trường một cách chủ động và sẵn sàng đối phó với mọi nguy cơ, đe doạ, cũng như áp lực cạnh tranh từ thị trường. Để làm được điều này, doanh nghiệp phải thực hiện sản xuất kinh doanh hướng theo thị trường, theo khách hàng và phải áp dụng các hoạt động Marketing vào thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường, trong đó việc xây dựng và hoàn thiện một chính sánh Marketing-mix với những chiến lược và biện pháp cụ thể sẽ là một trong những công cụ cạnh tranh sắc bén và hiệu quả của doanh nghiệp để đi đến thành công. Từ nhận thức trên, qua quá trình tìm hiểu về tình hình tiêu thụ sản phẩm ô tô bốn chỗ nhập khẩu tại thị trường Hải Phòng và miền Bắc của doanh nghiệp Tư nhân Trọng Thiện, Hải Phòng, kết hợp với những kiến thức tiếp thu được, tôi xin mạnh dạn chọn đề tàii “Chiến lược Marketing-mix với việc phát triển thị trường tiêu thụ ô tô du lịch nhập khẩu của Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện”. Mục tiêu của đề tài là phân tích thực trạng ứng dụng chính sách Marketing-mix trong Doanh nghiệp để tìm ra được các tồn tại và các nguyên nhân hạn chế của nó để từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chính sách Marketing-mix nhằm thực hiện chiến lược mở rộng thị trường của Doanh nghiệp. Biện pháp Marketing-mix tập trung vào các yếu tố sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến thương mại đối với sản phẩm ô tô tải hạng nhẹ nhập khẩu của Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện. Những biện pháp đưa ra là sự kết hợp của các chiến lược phát triển thị trường theo ma trận cặp sản phẩm/thị trường của Ansoff áp dụng vào phương pháp Marketing mix. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp thu thập số liệu và các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Kế thừa các tài liệu, báo cáo, phỏng vấn trực tiếp cán bộ công nhân viên Doanh nghiệp. - Phương pháp xử lý phân tích: + Phương pháp phân tích tổng hợp, mô hình, sơ đồ. + Kết hợp với các phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp, phỏng vấn để thực hiện đề tài.   Nội dung tiểu luận gồm 4 chương: Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Một số vấn đề lý luận chung về biện pháp Marketing – Mix nhằm phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Chương 3: Kết quả đánh giá, phân tích tình hình thị trường và hoạt động Marketing – Mix tại Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện. Chương 4: Giải pháp Marketing – Mix nhằm phát triển thị trường tiêu thụ ô tô du lịch nhập khẩu của Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện. . CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG I- Giới thiệu tổng quan về thị trường kinh doanh ô-tô tại Việt Nam trong những năm gần đây. Trong những năm gần đây, đặc biệt là giai đoạn 2007 – 2009, ngành kinh doanh ô tô nói chung và kinh doanh ô tô 4 chỗ (dòng xe du lịch) nói riêng có nhiều khởi sắc. Thống kê của Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) đã cho thấy sự tăng trưởng khá mạnh mẽ của thị trường kinh doanh xe ô-tô tại Việt Nam. Theo thống kê của VAMA, riêng trong tháng 10/2009, tổng sản lượng bán hàng của các thành viên thuộc Hiệp hội đạt 11.762 xe, tăng nhẹ so với tháng 9 nhưng gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái (tăng 103%), trong đó, dòng xe 5 chỗ vẫn là tâm điểm trong các dòng xe bán ra; dòng xe du lịch được người tiêu dùng phía Bắc ưa chuộng hơn thị trường phía Nam. Trong 3 tháng trở lại đây, tổng sản lượng bán hàng của các thành viên Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) liên tục tăng, trong đó tập trung mạnh ở dòng xe du lịch và đa dụng. Tình hình nhập khẩu xe nguyên chiếc cũng diễn biến theo chiều hướng tương tự khi trong nước, nhiều hãng, nhiều cửa hàng thông báo "cháy hàng". Nhờ lợi thế  về giá, GM Daewoo có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất, với mức tăng 276% so với cùng kỳ năm ngoái bằng việc bán ra 1.636 xe và dẫn đầu thị  trường trong danh sách 5 mẫu xe du lịch. Tiếp đến là Ford Việt Nam bán được 1.040 xe, tăng 191% so với cùng kỳ năm ngoái; Mercedes Benz đạt 334 xe, tăng 80%; Toyota đạt 3.017 xe, tăng 77%; Honda đạt 431 chiếc, tăng 51%. Tính từ đầu năm đến nay, tổng sản lượng bán hàng của các thành viên VAMA đã đạt 92.134 xe, trong đó phân khúc xe du lịch chiếm ưu thế, đạt 25.032 xe. Diễn biến bán hàng khả  quan của các liên doanh, hãng xe trong nước tỷ lệ  thuận với tình hình nhập khẩu xe nguyên chiếc trong vòng 3 tháng trở lại đây. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, số lượng xe nhập về Việt Nam đã có sự gia tăng mạnh mẽ. Nếu như tháng 8, cả nước nhập 7.300 ôtô nguyên chiếc, trị giá 105 triệu USD thì tháng 9, con số trên lần lượt là 8.000 chiếc, tương ứng 132 triệu USD và tháng 10 lượng xe nhập khẩu lên tới 9.000 chiếc, trị giá 140 triệu USD. Tính chung 10 tháng, cả nước nhập khẩu 56.600 chiếc, trị giá 903 triệu USD, tăng 20,7% về lượng nhưng giảm 3,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong 9 tháng đầu năm 2009, Việt Nam đã nhập khẩu mặt hàng này từ 14 thị trường. Hàn Quốc là thị trường Việt Nam nhập khẩu ôtô nhiều nhất với 29.261 chiếc, trị giá 296,5 triệu USD chiếm 0,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước, tăng 39,6% về lượng và 39,4% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Đứng thứ hai sau thị trường Hàn Quốc là Hoa Kỳ với lượng nhập trên 5 nghìn chiếc, trị giá 132,93 triệu USD, giảm 44,7% về lượng và giảm 41% so với cùng kỳ năm ngoái. Tiếp theo là các thị trường Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan với lượng nhập lần lượt là 4,2 nghìn chiếc, 3 nghìn chiếc và 1,8 nghìn chiếc, đạt trị giá 112,2 triệu USD, 106,6 triệu USD và 31,3 triệu USD. Thị trường nhập khẩu ôtô 9 tháng đầu năm 2009: Thị trường  Lượng (Chiếc)  Trị giá (USD)   Hàn Quốc  29.261  296.529.279   Hoa Kỳ  5.048  132.939.695   Nhật bản  4.269  112.266.604   Trung Quốc  3.061  106.605.873   Thái Lan  1.848  31.398.848   Đức  694  24.290.478   Đài Loan  2.138  21.808.767   Canada  369  10.007.894   Anh  56  3.223.444   Indonesia  148  2.335.801   Nga  34  1.780.707   Thuỵ Điển  2  228.000   Ôxtrâylia  32  486.000   Tây Ban Nha  4  55.146   Hàng sản xuất trong nước, hàng nhập gia tăng, nhưng thời điểm này thị trường ôtô, nhất là phân khúc xe du lịch (xe ô-tô 4 chỗ), xe đa dụng vẫn ở trong tình trạng "khan hàng". Xe nhập khẩu cũng đã được điều chỉnh nâng giá bán ít nhất 5%. Theo lý giải của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, ngoài chi phí nhập xe tăng, từ đầu tháng 10, theo quy định của Bộ Tài chính, trong danh mục quản lý rủi ro về giá, ôtô nhập khẩu các loại sẽ áp giá tính thuế cao hơn so với trước 3 - 20%. Giá bán xe do vậy tăng từ 1.000 USD đến 5.000 USD/xe. Nhưng dù giá tăng, lượng khách tìm mua xe vẫn đông hơn rất nhiều so với tháng trước. Theo dự báo của giới kinh doanh xe ôtô, trong tháng 11 và 12 thị trường sẽ rất sôi động, nhất là dòng xe nguyên chiếc nhập khẩu, bởi đây là cao điểm của mùa mua sắm cuối năm, cũng là thời điểm người tiêu dùng tranh thủ mua xe để "chạy thuế" trước khi có thay đổi chính sách ưu đãi về thuế (thuế trước bạ tăng từ 6% lên 12% từ ngày 1/1/2010). II- Giới thiệu về Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện 1. Quá trình hình thành và phát triển của Doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện ra đời năm 1992 với 20 nhân viên tại địa chỉ số 1248 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hải Phòng. Lúc đầu doanh nghiệp chỉ kinh doanh xe môtô, sửa chữa và bảo dưỡng ô tô. Đến đầu năm 2007, với sự phát triển của Doanh nghiệp và xu hương kinh tế thị trường, Doanh nghiệp chuyển đổi sang chuyên kinh doanh ô tô du lịch nhập khẩu (dòng xe 4 chỗ) để đáp ứng nhu cầu thị trường về ô tô trong lĩnh vực kinh doanh tương đối mới mẻ và khá non trẻ này của Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung. Điện thoại: 0313 614 168 Email: Trongthien.auto@gmail.com 2. Chức năng, nhiệm vụ và phạm vi kinh doanh của Doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh các loại ô tô, bảo dưỡng và sửa chữa ô tô, cung cấp các thiết bị ô tô chính hãng. Các sản phẩm chính của doanh nghiệp là xe ô tô 4 chỗ, xe ô tô 7 chỗ; tuy nhiên, sản phẩm chính của đơn vị là phân khúc xe ô tô du lịch dòng 4 chỗ nhập khẩu. Bộ máy quản lý của doanh nghiệp: được thực hiện theo phương thức quản lý trực tuyến tham mưu để giám đốc nắm được tình hình kinh doanh một cách kịp thời, tạo điều kiện giúp giám đốc thấy rõ thực trạng của doanh nghiệp mình để đưa ra những quyết định chính xác và nhanh chóng. Sơ đồ bộ máy doanh nghiệp ( xem phụ lục số 1) Các phòng ban trong doanh nghiệp đều có những chức năng và nhiệm vụ riêng nhưng liên hệ mật thiết với nhau, phối hợp cùng phân xưởng để thực hiện các nhiệm vụ của doanh nghiệp. Phòng kinh doanh đặc biệt là bộ phận Marketing của phòng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Nắm bắt kịp thời những diễn biến thị trường, phản hồi của khách hàng về nhu cầu sản phẩm của doanh nghiệp, đồng thời nhận diện các đối thủ cạnh tranh để có biện pháp né tránh, tấn công đúng lúc. Đặc điểm nguồn nhân lực: Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện có 75 nhân viên tính đến thời điểm tháng 12/2009. Trong đó lao động trực tiếp chiếm 85 %, lao động gián tiếp chiếm 15%. Trình độ đại học 80%, Trình độ cao đẳng 10%, trung cấp 10%. Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp: Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện là doanh nghiệp có qui mô nhỏ. Trong 15 tồn tại và phát triển đã từng bước khẳng định mình. Doanh thu hoạt động kinh doanh của hàng năm đạt tốc độ tăng trưởng 20% / năm. Đến nay, với kinh nghiệm, bản lĩnh và niềm đam mê kinh doanh, bà Trương Thị Nga – Giám đốc doanh nghiệp đã tạo ra cho doanh nghiệp một vị thế vững chắc trên thị trường ô tô Hải Phòng. Hải Phòng là một thị trường sôi động mới mẻ và hứa hẹn nhiều tiềm năng. Vì thế, việc tìm ra biện pháp nhằm phát triển kinh doanh ô tô du lịch nhập khẩu và mở rộng thị trường là một hướng đi đúng đắn trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái trong năm 2009 của Doanh nghiệp tư nhân Trọng Thiện. III. Lý do và mục tiêu nghiên cứu đề tài Bộ Tài chính liên tục điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc cũng như linh kiện, phụ tùng ô tô, khiến giá cả xe trong nước lẫn ngoại nhập đều tăng mạnh. Thị trường kinh doanh ô tô trở nên đầy thách thức và có những diễn biến khó kiểm soát. Từ tháng 4/2008, thuế nhập khẩu ô tô đã tăng thêm 23%, từ mức 60% lên 70%, rồi 83%. Trong khi đó, từ ngày 20/6/2008, thuế nhập khẩu đối với linh kiện ô tô cũng đồng loạt tăng lên mức 15%, thay cho các mức 3%, 5% và 10% trước đó. Đây là những chính sách của Bộ Tài chính nhằm hạn chế nhập siêu. Bên cạnh đó, giới kinh doanh ô tô nhập khẩu còn phải tuân thủ quy định mới: làm thủ tục đăng ký ngay khi xe cập cảng 1 ngày, thay vì sau 30 ngày như trước đây. Quy định này đồng nghĩa với việc chủ xe phải đóng thuế ngay khi xe vừa về đến Việt Nam. Chỉ có doanh nghiệp dài vốn mới đáp ứng được quy định trên, còn các doanh nghiệp nhỏ phải “nhờ” ngân hàng bảo lãnh mới đủ điều kiện giải quyết thủ tục. Những khó khăn trên càng khiến cho việc nghiên cứu các biện pháp Marketing- mix nhằm phát triển thị trường tiêu thụ ô tô du lịch nhập khẩu càng trở nên quan trọng. Tăng doanh số bán, mở rộng thị trường là mục tiêu lâu dài để phát triển và đứng vững trên thị trường. Không những thế, doanh nghiệp còn cần phải tạo được vị thế tốt để mở rộng qui mô kinh doanh. Biện pháp Marketing – Mix tập trung vào chính sách sản phẩm, chính sách giá, chiến lược phân phối, chiến lược xúc tiến hỗn hợp nhằm thực hiện tốt nhất các yêu cầu trên. CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP MARKETING-MIX NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP I. Những vấn đề cơ bản về phát triển thị trường của doanh nghiệp và Marketing của doanh nghiệp 1. Những khái niệm cơ bản về thị trường của doanh nghiệp Khái niệm về thị trường của doanh nghiệp Có rất nhiều khái niệm về thị trường, ví dụ “ Thị trường là nơi người bán và người mua gặp nhau”. Theo quan niệm này thì: Thị trường là địa điểm gặp gỡ giữa cung và cầu, là nơi trao đổi hàng hóa. Còn theo quan điểm Marketing thì có thể tiếp cận khái niệm thị trường theo hai cách sau: Theo góc độ vĩ mô: Thị trường xã hội tổng thể là một tập các phức hợp và liên tục các nhân tố của môi trường kinh doanh và các quan hệ trao đổi thương mại được hấp dẫn và thực hiện trong một khoảng không gian mở, hữu hạn các chủ thể cung cầu và phương thức tương tác giữa chúng nhằm tạo thành các điều kiện tồn tại và phát triển cho sản xuất kinh doanh hàng hóa. Theo góc độ vi mô: Thị trường được hiểu là “ tập các khách hàng, và những người cung ứng hiện thực và tiểm năng cùng có nhu cầu thị trường về những mặt hàng của hàng hóa mà doanh nghiệp có dự án kinh doanh trong mối quan hệ với các nhân tố môi trường kinh doanh và tập người bán – đối thủ cạnh tranh của nó”. Phân loại thị trường Có nhiều cách phân loại thị trường khác nhau tùy theo tiêu thức lựa chọn nhưng tiêu thức tổng quát thì thị trường của doanh nghiệp bao gồm: Thị trường đầu ra và thị trường đầu vào. + Thị trường đầu ra: là thị trường tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. + Thị trường đầu vào: là thị trường cung cấp đầu vào cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm thị trường nguyên vật liệu, thị trường lao động, thị trường vốn… Ở đây chúng ta nghiên cứu sâu hơn về thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp vì nó là điều kiện để phát triển doanh nghiệp. 2. Những khái niệm cơ bản về Marketing - Định nghĩa Marketing (Anh): “Marketing là các chức năng của công ty về mặt tổ chức quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể đến việc đưa hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận dự kiến”. - Định nghĩa của Ủy ban các hiệp hội Marketing (Hoa Kỳ): “Marketing là việc tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận chuyển hàng hóa dịch vụ từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng”. - Định nghĩa theo Philip Kotler (Hoa Kỳ): “Marketing là hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn thông qua các tiến trình trao đổi”. 3. Marketing – Mix (Marketing hỗn hợp): Trong sự biến động của nền kinh tế thị trường, thì giải pháp Marketing hỗn hợp được coi là phù hợp nhất đối với một nhà quản trị doanh nghiệp. Trong Marketing không có một công thức tiêu chuẩn nào cho một sự kết hợp các nhân tố của Marketing để đạt thành công. Các chiến lược Marketing hỗn hợp khác nhau đối với từng doanh nghiệp, từng sản phẩm và từng tình huống cụ thể, cần áp dụng một cách hợp lý nhất. Khái niệm về Marketing – Mix (Marketing hỗn hợp) “Marketing – Mix là tập hợp những công cụ Marketing mà công ty sử dụng để theo đuổi những mục tiêu Marketing của mình trên thị trường mục tiêu”. Trong Marketing – Mix có nhiều công cụ khác nhau, mỗi công cụ là một biến số có thể điều khiển được và phân loại thep 4 yếu tố (4P) là: sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place ), xúc tiến hỗn hợp (Promotion). II. Một số lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 1. Các quan điểm phát triển thị trường của doanh nghiệp Ngày nay, kinh tế thị trường phát triển mở ra cho doanh nghiệp nhiều cơ hội mới, thách thức mới. Do vậy doanh nghiệp cần phát triển thị trường để tìm kiếm cơ hội phát triển cho doanh nghiệp mình. Phát triển thị trường là việc tăng doanh số bán của doanh nghiệp về cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Tăng doanh số bán trên thị trường hiện tại và cả thị trường mới bằng các nỗ lực Marketing hỗn hợp. Vì vậy nên phát triển thị trường giúp cho doanh nghiệp tăng được doanh số bán ra, tăng doanh thu và đạt được hiệu quả trong kinh doanh. Theo quan điểm chung phát triển thị trường của một doanh nghiệp có thể được tiến hành theo hai hướng, phát triển thị trường theo chiều rộng và phát triển thị trường theo chiều sâu. + Phát triển thị trường theo chiều rộng: Phát triển hay mở rộng về mặt phạm vi địa lý, phạm vi không gian tiêu thụ sản phẩm. + Phát triển thị trường theo chiều sâu: Tức là phát triển thông qua phân đoạn thị trường và thỏa mãn tốt nhu cầu của từng lớp người tiêu dùng, thực hiện đa dạng hóa kinh doanh. Theo mô hình chiến lược dựa trên cặp sản phẩm/ thị trường của Ansoff thì có thể xác định 4 chiến lược để phát triển thị trường là: chiến lược thâm nhập thị trường, chiến lược phát triển sản phẩm, chiến lược mở rộng thị trường, chiến lược phát triển đa dạng hóa. Ansoff xác định 4 khả năng doanh nghiệp có thể xem xét để xác định mục tiêu Marketing: Bán sản phẩm hiện có vào thị trường hiện hữu. Tức là thâm nhập thị trường hữu hiệu hơn. Chẳng hạn mở thêm nhiều điểm bán hàng. Mở rộng sản phẩm hiện có ra thị trường mới. Tức là khai phá thêm thị trường mới nhưng cũng chỉ với sản phẩm hiện có. Phát triển sản phẩm mới vào thị trường hiện hữu. Có nghĩa là tăng thêm số lượng sản phẩm thêm vào số lượng sản phẩm hiện có để phục vụ cho thị trường hiện đang có. Phát triển sản phẩm mới để mở thị trường mới. Tức là đa dạng hoá hoạt động kinh doanh. Khả năng nầy tạo ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp phát triển kinh doanh, nhưng cũng hàm chứa nhiều rủi ro do doanh nghiệp nhảy vào một lĩnh vực hoàn toàn mới. Vậy, có thể nói, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm là một quá trình mang tính chất lâu dài và gắn liền với sự phát triển của doanh nghiệp. 2. Vai trò của việc phát triển hoạt động Marketing với việc mở rộng thị trường - Marketing – trung gian kết nối giữa doanh nghiệp với thị trường (khách hàng). Marketing là nhân tố trung tâm kết nối giữa các nhân tố: tài chính, sản xuất, nhân sự của doanh nghiệp, để thực hiện chiến lược hướng tới khách hàng của doanh nghiệp, giúp hòa nhập doanh nghiệp với các thị trường của nó. - Marketing có vai trò kích thích và phát triển nhu cầu thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến việc phát triển nhu cầu của thị trường về các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. - Marketing giúp cho doanh nghiệp dần mở rộng và phát triển thị trường lên các bậc thị trường cao hơn Nói một cách cơ bản, Marketing bao gồm bốn việc: bán đúng sản phẩm đến thị trường đang cần nó, bán sản phẩm với một giá được xác định theo nhu cầu, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và tạo ra lợi nhuận cho nhà sản xuất. Vì vậy, có thể dễ dàng nhận ra rằng: nếu doanh nghiệp có những hoạt động Marketing hiệu quả thì doanh nghiệp có thể dần phát triển, mở rộng thị trường tiêu thụ của mình, chiếm lĩnh thị trường hiện hữu, vươn đến các thị trường tiềm năng và thu hút được khách hàng của các đối thủ cạnh tranh. Như vậy, chỉ có Marketing mới có vai trò quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường – nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh. 3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động Marketing nhằm phát triển thị trường của doanh nghiệp 3.1. Nhân tố bên trong doanh nghiệp Các nhân tố bên trong doanh nghiệp nói lên tiềm lực thực tế của doanh nghiệp như các tiềm lực về tài chính, nhân sự, uy tín của doanh nghiệp … Tiềm lực của doanh nghiệp phản ánh các yếu tố mang tính chất chủ quan của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể kiểm soát được các tiềm lực của doanh nghiệp có thể thay đổi trong quá trình sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì thị trường của doanh nghiệp ngày càng được mở rộng và phát triển. Do vậy, thị trường của doanh nghiệp là thước đo sự phát triển của doanh nghiệp. Tiềm lực của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới các thị trường của doanh nghiệp. Doanh nghiệp càng phát triển thì có cơ cấu thị trường ngày càng lớn. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp của doanh nghiệp gồm có: + Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Tài chính của doanh nghiệp là nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp, được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, doanh thu, lợi nhuận, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, các tỉ lệ và khả năng sinh lời … + Nhân lực của doanh nghiệ