Tiểu luận Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập – liên hệ thực tiễn các đại học công lập Việt Nam

Trong hơn 20 năm đổi mới, cải cách và mở cửa, các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế đã có những bước trưởng thành đáng kể, trong đó có sự góp phần không nhỏ của việc được tự chủ tài chính. Cái “mạch” chung của công cuộc cải cách kinh tế là mở rộng quyền tự chủ, đã và đang dẫn đến nhiều kết quả tốt đẹp thấy rõ, góp phần giải phóng sức sản xuất. Tác dụng tích cực của cơ chế tự chủ tài chính ai cũng thấy rõ: Sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã thực sự khơi dậy tính năng động sáng tạo không chỉ trong kinh tế mà còn trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội. Trong khi đó, quyền tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập nóichung, đại học công lập Việt Nam nói riêng vẫn đang trong tình trạng tụt hậu và thấp kém. Các trường Đại học công lập đang và sẽ “đối mặt” với thực tế đi sau các trường dân lập. Bởi, các trường dân lập, tư thục mới mở không chịu sức ép từ phía các cơ quan quản lý, họ tự quyết với mức thu học phí cao nên trả lương giảng viên cao. Do vậy, nếu các trường công không có chế độ đãi ngộ chính đáng thì sẽ bị chảy máu chất xám. Hơn nữa, muốn có chất lượng đào tạo thì đi đôi với nó phải có chi phí đào tạo tương ứng. Chi phí hiện nay cho đào tạo rất thấp, vì thế nên chất lượng đào tạo giáo dục đại học của chúng ta hiện nay còn thấp. Việc duy trì quá lâu cơ chế bao cấp từ ngân sách Nhà nước đã làm cho các cơ sở đại học, nhất là Đại học công lập mất sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc tạo nguồn và sử dụng tài chính của chính mình để rồi phải chấp nhận là Đại học nghèo khó và xơ cứng trong đời sống vật chất. Thiếu quyền tự chủ, mọi hoạt động sáng tạo của công dân trong tất cả mọi ngành nghề đều sẽ bị bóp nghẹt hoặc không thể phát huy đúng mức, điều này lại càng đúng hơn khi đem áp dụng vào phạm vi, môi trường đại học, nơi đòi hỏi có nền học thuật cao nhất nước vốn dĩ chỉ có thể xây dựng được trên cơ sở tổng hợp kết quả học tập - nghiên cứu khách quan của những chủ thể hoạt động hoàn toàn tự do.

pdf47 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 20/08/2014 | Lượt xem: 3713 | Lượt tải: 30download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập – liên hệ thực tiễn các đại học công lập Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước Tiểu luận CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP – LIÊN HỆ THỰC TIỄN CÁC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM 1 Nhóm 4 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề Trong hơn 20 năm đổi mới, cải cách và mở cửa, các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế đã có những bước trưởng thành đáng kể, trong đó có sự góp phần không nhỏ của việc được tự chủ tài chính. Cái “mạch” chung của công cuộc cải cách kinh tế là mở rộng quyền tự chủ, đã và đang dẫn đến nhiều kết quả tốt đẹp thấy rõ, góp phần giải phóng sức sản xuất. Tác dụng tích cực của cơ chế tự chủ tài chính ai cũng thấy rõ: Sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã thực sự khơi dậy tính năng động sáng tạo không chỉ trong kinh tế mà còn trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội. Trong khi đó, quyền tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập nóichung, đại học công lập Việt Nam nói riêng vẫn đang trong tình trạng tụt hậu và thấp kém. Các trường Đại học công lập đang và sẽ “đối mặt” với thực tế đi sau các trường dân lập. Bởi, các trường dân lập, tư thục mới mở không chịu sức ép từ phía các cơ quan quản lý, họ tự quyết với mức thu học phí cao nên trả lương giảng viên cao. Do vậy, nếu các trường công không có chế độ đãi ngộ chính đáng thì sẽ bị chảy máu chất xám. Hơn nữa, muốn có chất lượng đào tạo thì đi đôi với nó phải có chi phí đào tạo tương ứng. Chi phí hiện nay cho đào tạo rất thấp, vì thế nên chất lượng đào tạo giáo dục đại học của chúng ta hiện nay còn thấp. Việc duy trì quá lâu cơ chế bao cấp từ ngân sách Nhà nước đã làm cho các cơ sở đại học, nhất là Đại học công lập mất sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc tạo nguồn và sử dụng tài chính của chính mình để rồi phải chấp nhận là Đại học nghèo khó và xơ cứng trong đời sống vật chất. Thiếu quyền tự chủ, mọi hoạt động sáng tạo của công dân trong tất cả mọi ngành nghề đều sẽ bị bóp nghẹt hoặc không thể phát huy đúng mức, điều này lại càng đúng hơn khi đem áp dụng vào phạm vi, môi trường đại học, nơi đòi hỏi có nền học thuật cao nhất nước vốn dĩ chỉ có thể xây dựng được trên cơ sở tổng hợp kết quả học tập - nghiên cứu khách quan của những chủ thể hoạt động hoàn toàn tự do. 2 Nhóm 4 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước Vấn đề “tự chủ đại học”, nhất là tự chủ tài chính đã được nêu lên từ nhiều năm trước nhưng hiện thực tự chủ đại học ở Việt Nam cho đến hiện nay đã đạt được đến đâu, nhất là khi so với bảng xếp hạng chung của các đại học trên thế giới? Tuy hãy còn chưa đủ cơ sở, nhất là những so sánh có tính định lượng để có được lời giải hoàn toàn chuẩn xác, nhưng phần lớn những người am hiểu và tâm huyết trong giới đại học đều cho rằng về “tự chủ đại học” ở Việt Nam đang còn đứng ở vị trí rất thấp, trong số các đại học ở “top” sau cùng. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố Dự thảo Chiến lược giáo dục 2009-2020, tập trung vào 2 giải pháp chính là đổi mới quản lí giáo dục và xây dụng đội ngũ nhà giáo,cán bộ quản lý. Dưới góc độ vi mô cho thấy, giáo dục đại học trong chiến lược giáo dục chỉ thành công khi trường đại học là những trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất, chuyển giao công công nghệ và xuất khẩu tri thức; hay nói cách khác, mỗi trường phải có thương hiệu về tri thức cho riêng mình. Để thực hiện mục tiêu trên, nhà trường cần có đủ nguồn lực tài chính, đặc biệt là phải có cơ chế tự chủ tài chính linh hoạt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm cụ thể, huy động được tối đa các nguồn lực tham gia vào quá trình tự đổi mới, tự xây dựng thương hiệu nhà trường. Tự chủ tài chính hiện đang là vấn đề bức thiết đối với đại học công lập Việt Nam. Việc đổi mới quản trị đại học, cơ chế tự chủ tài chính đại học cần có sự nghiên cứu thực tiễn và học hỏi kinh nghiệm từ các nước. Nghiên cứu vấn đề tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có đại học công lập là cần thiết. Chính vì lẽ đó, nhóm chúng em chọn đề tài “CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP – LIÊN HỆ THỰC TIỄN CÁC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu các quy định, nguyên tắc liên quan đến cơ chế tự chủ tài chính đối với sự nghiệp công lập nói chung, đại học công lập nói riêng. 3 Nhóm 4 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước Nghiên cứu, phân tích thực trạng của cơ chế tự chủ tài chính tại các đại học công lập Việt Nam. Dựa trên những điều kiện thực tế của Việt Nam, kinh nghiệm tự chủ tài chính của đại học các nước trên thế giới để từ đó nhóm nêu lên một số kiến nghị nhằm thúc đẩy hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính ở các đại học công lập Việt Nam. 1.3 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ chế tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó đi sâu vào thực tiễn tự chủ tài chính ở các đại học công lập Việt Nam 1.4 Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn và phương pháp thảo luận nhóm. Các số liệu sử dụng trong đề tài là số liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn trên báo, tạp chí, internet. Dựa trên các số liệu thu thập được, ý kiến của các chuyên gia, nhóm tiến hành chia thành các nhóm nhỏ thảo luận các vấn đề còn tồn tại trong cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập từ đó nêu lên một số kiến nghị. 1.5 Kết cấu đề tài Kết cấu của đề tài gồm 3 chương Chương 1: Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Chương 2: Thực trạng vấn đề tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công – Liên hệ đại học công lập Việt Nam Chương 3: Một số kiến nghị đối với vấn đề tự chủ tài chính ở các đại học công lập Việt Nam 4 Nhóm 4 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước KẾT LUẬN Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường Đại học đã được hầu hết các nước, trước hết là các nước có trình độ phát triển cao thực hiện, chứng tỏ là một chủ trương phù hợp để quản lý có hiệu quả nền giáo dục đại học. Thời gian chỉ ủng hộ nếu chúng ta đi đúng hướng và có lộ trình thích hợp. Đúng hướng bây giờ vẫn chưa đủ, vì đúng hướng nhưng đi quá chậm thì cũng thất bại. Vấn đề hiện nay không phải là có trao quyền tự chủ cho các trường đại học hay không, mà là ở chỗ lộ trình của công việc này phải như thế nào để vừa đủ thận trọng và nghiêm túc vừa không làm trì trên hơn nữa sự phát triển của nền giáo dục đại học trong bối cảnh hội nhập kinh tế trong “thế giới phẳng”. Như đi trên một đoàn tàu thì chúng ta đang ở trên một toa nằm ở cuối đoàn tàu, cách quá xa những toa phía trước, thậm chí rất xa những toa của các nước phát triển ở mức độ trung bình. Những khuyết tật của sự lạc hậu và bất cập của nền giáo dục đại học đang dần dần lọ diện và e rằng những điều xã hội đang nhìn nhận là tiêu cực cũng chỉ là phần nổi của tảng băng yếu kém và lạc hậu. Nhưng chuyện to lớn nhất, cấp bách nhất là năng lực của nền giáo dục đại học quá thấp, chất lượng của sản phẩm tạo ra có quá nhiều mặt yếu kém, bất cập để có thể phục vụ có hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học đã được hầu hết các nước, trước hết là các nước có trình độ phát triển cao, chứng tỏ là một chủ trương phù hợp để quản lý có hiệu quả nền giáo dục đại học . Nó không phải chỉ toàn là hay, là tốt, nhưng chắc chắn hay và tốt là chủ yếu, và nó hay, tốt nhiều hay ít còn phụ thuộc vào chủ quan những tổ chức và cá nhân thực thi. Xin đề nghị các cơ quan quản lý giáo dục, trước hết là Bộ GD-ĐT, có quyết tâm cao và những quyết sách phù hợp nhất với yêu cầu trong việc theo đuổi một lộ trình có khả năng dẫn chúng ta vượt qua trì trệ và lạc hậu sớm nhất có thể được. 5 Nhóm 4 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 25 tháng 04 năm 2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. 2. Thông tư số 71/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 09/08/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập 3. Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 09/08/2006 và Bộ nội vụ hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo. 4. Đề án đổi mới tài chính giai đoạn 2009-2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo 5. Các website: www.vietnamnet.vn www.vietbao.vn www.moet.gov.vn www.laodong.com.vn 6 Nhóm 4 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước DANH MỤC BẢNG BIỂU Tên bảng Trang Bảng 2.1: Số đơn vị hành chính, sự nghiệp công lập ở Việt Nam năm 2007........... 9 Bảng 2.2: Mức tăng thu nhập cuả một số đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh ....................... 11 Bảng 2.3: Quy mô sinh viên bậc đại học ..................................................................... 16 Bảng 2.4: Chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục ...................................................... 23 Bảng 2.5: Cơ cấu chi Ngân sách nhà nước theo cấp học và trình độ đào tạo.......... 24 Bảng 2.6 : Tỷ lệ chi của Nhà nước và người dân cho đại học và sau đại học ........ 25 Bảng 3.1: Những vấn đề cần quan tâm đối với các mô hình phát triển tài chính đại học ........................................................................................................................................... 38 7 Nhóm 4 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước MỤC LỤC Mở đầu Chương 1: Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập .......................................................................................... 1 1.1 Khái niệm cơ bản .................................................................................................... 1 1.1.1 Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ......................... 1 1.1.2 Đơn vị sự nghiệp công lập ..................................................................................... 1 1.2 Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ... 2 1.3 Vai trò của cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập............... 2 1.4 Các nguyên tắc cơ bản về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ................................................................................................................... 4 1.5 Khái quát những quy định cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ................................................................................................................... 4 Chương 2: Thực trạng vấn đề tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công – Liên hệ Đại học công lập Việt Nam ............................................................................................... 9 2.1 Khái quát thực trạng tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập .............. 9 2.2 Cơ chế tự chủ tài chính ở các đại học công lập Việt Nam ................................. 13 2.2.1Vài nét về hệ thống đại học ở Việt Nam ............................................................... 13 2.2.2 Kinh nghiệm tự chủ tài chính ở các đại học trên thế giới .................................. 17 2.2.3 Thực trạng vấn đề tự chủ tài chính ở các đại học công lập Việt Nam hiện nay 22 Chương 3: Một số kiến nghị đối với vấn đề tự chủ tài chính ở các trường đại học công lập Việt Nam ..................................................................................................................... 32 3.1 Quan điểm định hướng .......................................................................................... 32 3.2 Điều kiện để đại học công lập Việt Nam có thể tự chủ tài chính ..................... 34 3.3 Một số kiến nghị đối với vấn đề tự chủ tài chính ở các đại học công lập Việt Nam 36 Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo 8 Nhóm 4 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.1 Khái niệm cơ bản 1.1.1 Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là cơ chế theo đó các đơn vị sự nghiệp công được trao quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình nhưng không vượt quá mức khung do Nhà nước quy định. Hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công đang được thực thi theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ và Thông tư số 71/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 09/08/2006 hướng dẫn thực hiện nghị định số 43. Ngoài ra còn có Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/09/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Tổ chức khoa học và công nghệ công lập, chỉ thị số 01/2006/CT-BXD của Bộ xây dựng ngày 22/02/2006 về việc tăng cường quản lý thực hiện quyền tự chủ về tổ chức, biên chế và tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ điều chỉnh một số điều của nghị định số 43 đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế, Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ nội vụ hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo…. 1.1.2 Đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập, thuộc sở hữu của Nhà Nước, là đơn vị dự toán độc lập, có con 9 Nhóm 4 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán. Có thể kể đến các đơn vị sự nghiệp công lập như: trường học, bệnh viện, cơ sở y tế, văn hóa, sở khoa học công nghệ, Đài tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam… 1.2 Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Thứ nhất, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động; phát huy tính sáng tạo, năng động, xây dựng “thương hiệu riêng” cho đơn vị mình. Thứ hai, thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước. Thứ ba, thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp, Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách - xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn. 1.3 Vai trò của cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Thứ nhất, tạo tính linh hoạt, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, kích thích tính sáng tạo của các đơn vị sự nghiệp công Thứ hai, thu hút nhân lực tài năng đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện chất lượng dịch vụ. Xem xét trong ngành giáo dục chẳng hạn, trong những năm qua, mặc dù điều kiện đất nước và ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn, Nhà nước vẫn quan tâm 10 Nhóm 4 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước dành một tỷ lệ ngân sách đáng kể để đầu tư cho giáo dục. Với nguồn ngân sách đó, lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, trong khi nền kinh tế nước ta đã chuyển sang cơ chế thị trường được 20 năm, đã hình thành các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày một tăng, thì cơ chế tài chính giáo dục thực tế vẫn chưa có thay đổi về chất so với thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp. Mức chi đầu tư xây dựng cơ bản còn rất thấp so với nhu cầu rất lớn của ngành. Định mức phân bổ ngân sách giáo dục chưa gắn chặt với các tiêu chí đảm bảo chất lượng đào tạo (đội ngũ nhà giáo, điều kiện về cơ sở vật chất...), chưa làm rõ trách nhiệm chia sẻ chi phí đào tạo giữa nhà nước và người học ở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, về cơ bản vẫn mang nặng tính bao cấp và bình quân. Việc phân bổ ngân sách cho giáo dục chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, thiếu cơ sở khoa học xây dựng mức chi và đơn giá chuẩn. Việc giao kế hoạch thu chi ngân sách hằng năm chưa gắn với kế hoạch phát triển trung hạn và dài hạn của ngành, gây khó khăn cho việc chủ động sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ, chế độ, chính sách và cân đối giữa nhu cầu chi với khả năng nguồn lực tài chính công. Chế độ học phí xây dựng từ 11 năm trước chưa thay đổi. Mức học phí quá thấp, dưới khả năng chi trả của người dân ở các vùng đô thị, không phù hợp với mặt bằng giá cả cùng với chính sách cải cách tiền lương trong những năm qua. Một hệ quả tất yếu là môi trường và chất lượng giáo dục không đáp ứng yêu cầu của xã hội, thạc sĩ, tiến sĩ đi tu nghiệp ở nước ngoài không muốn quay về phục vụ do mức lương quá thấp. Những gia đình có điều kiện, ngay cả Bộ trưởng Bộ giáo dục & đào tạo cũng cho con đi du học. Đã có người từng gọi “du học” như một hình thức “tị nạn giáo dục”. Với cơ chế tự chủ tài chính, tự chủ tổ chức, ngành giáo dục có thể khắc phục được những khuyết điểm và hạn chế trên, thu hút nguồn nhân lực tài năng, cải thiện chất lượng đào tạo từ đó mới phát triển ngành giáo dục Việt Nam xứng tầm với sự phát triển ngày một mạnh mẽ của đất nước, biến các đại học Việt Nam trong tương lai không xa trở thành trung tâm của tri thức. Thứ ba, giảm gánh nặng chi tiêu cho ngân sách nhà nước. Đơn cử ngành giáo dục chẳng hạn, ngân sách chi cho giáo dục năm 2008 đã tăng hơn 40 lần so với năm 11 Nhóm 4 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiểu luận môn Ngân Sách Nhà Nước 1990 với mức chi lên tới 4.7 tỷ USD, chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách quốc gia trong khi mức học phí chỉ chiếm 5.5% ngân sách hằng năm chi cho giáo dục. Nếu giao quyền tự chủ tài chính cho các trường sẽ có thể tiết kiệm được một khoản lớn. 1.4 Các nguyên tắc cơ bản về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Khi thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, các đơn vị sự nghiệp công lập phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Thứ nhất, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đối với hoạt động sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ (gọi tắt là hoạt động dịch vụ) phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị. Thứ hai, thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật. Thứ ba, thực hiện quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thứ tư, Bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. 1.5 Khái quát những quy định cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chinh, các đơn vị sự nghiệp công lập phải tuân thủ các quy định cụ thể như sau:  Đơn vị sự nghiệp có các hoạt động dịch vụ phải đăng ký, kê khai, nộp đủ các loại thuế và các khoản khác (nếu có), được miễn, giảm thuế theo quy
Luận văn liên quan