Tiểu luận Khái quát về ADSL

Công nghệ đường dây thuê bao số DSL thực hiện truyền thông tin số qua đường dây điện thoại. Đường dây điện thoại với những giới hạn cố hữu giờ đây truyền được tín hiệu với tốc độ hàng triệu bit trên một giây. Sở dĩ điều này thực hiện được là nhờ áp dụng các kỹ thuật truyền số liệu phức tạp, đó là sự bù đắp các suy giảm truyền dẫn trên đường dây điện thoại. Kỹ thuật truyền dẫn số sử dụng các thuật toán phức tạp mà ngày nay có thể trở thành hiện thực là nhờ các bộ vi xử lý tốc độ cao dựa trên các mạch tích hợp. Kỹ thuật DSL đã tạo ra một bước ngoặt mới cho việc sử dụng đường dây điện thoại . Đường dây điện thoại trước đây chỉ sử dụng để truyền một kênh điện thoại băng tần 3,4kHz, giờ đây có thể truyền gần 100 kênh thoại số nén hoặc một kênh video có chất lượng tương đương truyền hình quảng bá. Kỹ thuật truyền dẫn số tốc độ cao qua đôi dây điện thoại yêu cầu phải có các bộ xử lý số tiên tiến để khắc phục sự suy giảm tín hiệu, nhiễu xuyên âm từ các đôi dây khác trong cùng một cáp, sự phản xạ tín hiệu, nhiễu tần số và nhiễu xung.

doc30 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 29/04/2013 | Lượt xem: 2073 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Khái quát về ADSL, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mục lục I. Cơ sở về DSL 1 1. Sự phát triển của công nghệ viễn thông và sự ra đời của ADSL 1 2. Những ưu điểm của ADSL 2 II. ADSL 4 1. Định nghĩa và mô hình tham chiếu 4 2.Truyền dẫn ADSL 4 3. Nhiễu trong ADSL 7 4. Băng thông ADSL 11 5. Điều chế 13 6. FEC - Forward Error Control 16 7.Tiêu chuẩn ANSI T1.143 18 8. Hướng phát triển và ứng dụng của ADSL 20 III. ADSL và các công nghệ truyền dẫn khác 23 1. ATM over ADSL 23 2. TCP over ADSL 25 I. Cơ sở về DSL Công nghệ đường dây thuê bao số DSL thực hiện truyền thông tin số qua đường dây điện thoại. Đường dây điện thoại với những giới hạn cố hữu giờ đây truyền được tín hiệu với tốc độ hàng triệu bit trên một giây. Sở dĩ điều này thực hiện được là nhờ áp dụng các kỹ thuật truyền số liệu phức tạp, đó là sự bù đắp các suy giảm truyền dẫn trên đường dây điện thoại. Kỹ thuật truyền dẫn số sử dụng các thuật toán phức tạp mà ngày nay có thể trở thành hiện thực là nhờ các bộ vi xử lý tốc độ cao dựa trên các mạch tích hợp. Kỹ thuật DSL đã tạo ra một bước ngoặt mới cho việc sử dụng đường dây điện thoại . Đường dây điện thoại trước đây chỉ sử dụng để truyền một kênh điện thoại băng tần 3,4kHz, giờ đây có thể truyền gần 100 kênh thoại số nén hoặc một kênh video có chất lượng tương đương truyền hình quảng bá. Kỹ thuật truyền dẫn số tốc độ cao qua đôi dây điện thoại yêu cầu phải có các bộ xử lý số tiên tiến để khắc phục sự suy giảm tín hiệu, nhiễu xuyên âm từ các đôi dây khác trong cùng một cáp, sự phản xạ tín hiệu, nhiễu tần số và nhiễu xung. 1. Sự phát triển của công nghệ viễn thông và sự ra đời của ADSL Trong vài thập niên vừa qua, khoa học kỹ thuật có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự phát triển ngoài dự đoán của công nghệ viễn thông. Trước kia, chúng ta mất 2 đến 5 ngày chờ đợi một bức thư đến được đích và khi máy fax xuất hiện, khoảng thời gian đó được rút ngắn lại trong vòng 24 h. Và bây giờ, với thư điện tử, quãng thời gian đó được rút ngắn lại xuống chỉ còn vài phút hoặc ngắn hơn tùy theo yêu cầu. Và mỗi khi sử dụng Internet để tìm thông tin, việc phải chờ đợi quá một phút để mở đựơc 1 trang web là khó có thể chấp nhận được. Tất cả điều đó đều chỉ ra rằng, chúng ra sẽ không thoả mãn chỉ đến khi viễn thông đạt đựơc tốc độ làm việc trong thời gian thực. Từ khi điện thoại ra đời, chúng ta đã có thể nói chuyện với nhau như khi nói chuyện trực tiếp. Và bây giờ, chính vì lẽ đó mà chúng ta mong muốn mọi dịch vụ viễn thông được truyền trên cáp đồng cũng phải đạt được tốc độ như vậy. Công nghệ hiện đại đã cố gắng giải quyết vấn đề đó và một vài giải pháp dựa trên cáp đồng để tăng tốc độ truyền đã được áp dụng, tuy nhiên điều cần thiết ở đây là sự đầu tư vào hạ tầng cở sở của mạng truyền thông. Công nghệ ADSL (đường truyền thuê bao số bất đối xứng), đã xuất hiện vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước, hứa hẹn một khả năng cung cấp tốc độ như yêu cầu dựa trên hệ thống điện thoại công cộng sử dụng cáp đồng mà không cần thay đổi bất cứ thành phần nào trong hạ tầng cơ sở. Sau những cuộc thử nghiệm trên khắp thế giới, công nghệ ADSL đã chứng tỏ khả năng truyền tải hiệu quả và nhanh chóng các dịch vụ multimedia băng rộng trên cáp đồng. Với các ưu điểm vượt trội, ADSL đã nhanh chóng trở thành một công nghệ tiên tiến hàng đầu trên thế giới và đang dần đựơc áp dụng vào thực tiễn. Với ADSL, hơn 750 triệu thuê bao điện thoại trên toàn thế giới sẽ có cơ hội sử dụng các dịch vụ với tốc độ truy cập cao và đó mới chỉ là khúc dạo đầu của một kỷ nguyên mới trong công nghệ truyền thông. 2. Những ưu điểm của ADSL Chúng ta hãy xem qua một vài ưu điểm vượt trội khiến cho ADSL được sử dụng rộng rãi trên thế giới Tốc độ : Bất cứ ai đã từng đợi để download hoặc truy nhập Internet với tốc độ 28.8 kbps bằng modem quay số sẽ dễ dàng hình dung được điều gì sẽ xảy ra một khi tốc độ tăng lên tới 300 lần. Với tốc độ 8 Mbps ở đường xuống và 1 Mbps ở đường lên, ADSL là lý tưởng để đáp ứng các yêu cầu truy cập Internet và những ứng dụng cần đường truyền tốc độ cao. Tính linh hoạt: Trong quá trình phát triển của ADSL đã nảy sinh những hướng phát triển khác nhau nhưng một điểm chung của chúng là đều sử dụng những phương pháp mã hoá phức tạp để nhằm tận dụng tối đa khả năng truyền của cáp đồng bởi lẽ việc truyền thoại chỉ chiếm có 1% khả năng đó. Và trong những hướng phát triển đề phù hợp với các điều kiện khách quan, ADSL vẫn luôn được chú ý đến bởi tốc độ và khả năng cho phép truyền các ứng dụng multimedia tương tác mới đòi hỏi nhiều về dải thông. Sự phát triển quan hệ đối tác: Với sự phát triển mạnh mẽ của ADSL, hoạt động trao đổi giữa các nhà cung cấp thiết bị đã tăng lên đáng kể. Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 60 nhà cung cấp thiết bị bán dẫn và các thiết bị khác có liên quan đến xDSL. Đa số các nhà sản xuất thiết bị viễn thông đều liên kết với các công ty nhỏ hơn đang phát triển hệ thống DSL ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Những quan hệ đối tác như trên cho phép những nhà cung cấp tăng tốc phát triển sản phẩm, đồng thời có thể hợp nhất những hệ thống xDSL phát triển bởi những công ty nhỏ hơn dựa trên những mạng chuyển mạch ATM tốc độ cao. II. ADSL 1. Định nghĩa và mô hình tham chiếu Đường dây thuê bao số không đối xứng ADSL là kỹ thuật truyền dẫn mạch vòng nội hạt đồng thời truyền tải trên cùng một đôi dây các dịch vụ sau: Tốc độ bit thu (về phía người sử dụng) lên gần 9Mb Tốc độ bit phát (về phía mạng) đạt tốc độ 1 Mb Dịch vụ điện thoại phổ thông Tốc độ truyền về phía khách hàng lớn hơn nhiều lần truyền từ khách hàng đi, do đó có thuật ngữ bất đối xứng. Thoại được truyền ở tần số trong băng cơ sở kêt hợp với truyền dữ liệu thông băng qua bộ lọc thông thấp (bộ tách). Ngoài bộ tách, ADSL bao gồm một đơn vị truyền dẫn ADSL ở phía thiết bị trung tâm (ATU – C), một mạch vòng, và một đơn vị truyền dẫn ADSL xa (ATU – R). 2.Truyền dẫn ADSL Khái niệm ADSL có hai phần cơ bản: (1) xuyên âm đầu gần giảm do có tốc độ bit phát và giải tần thấp hơn nhiều tốc độ bit thu và (2) truyền tải đồng thời POTS và dữ liệu bằng cách truyền dữ liệu trong dải băng tần trên băng tần thoại. Truyền dẫn 2 hướng tốc độ nhiều Mbps không dùng trên phần lớn các đường dây điện thoại do hiệu ứng kết hợp của suy giảm mạch vòng và xuyên âm. Như chỉ ra ở hình dưới đây, năng lượng tín hiệu nhận được giảm đi tương ứng với tần số và nhiễu xuyên âm nhận được tăng theo tần số. Do đố truyền dẫn hai hướng không thể thực hiện được ở những tần số mà nhiễu xuyên âm lấn át tín hiệu nhận ADSL thực hiện truyền dẫn hai hướng tại những nơi có thể: dưới tần số cắt hai hướng. Tần số cao không thích hợp cho truyền dẫn hai hướng được sử dụng cho truyền dẫn một hướng. Điều này cho phép tốc độ thu vượt xa tốc độ có thể ở truyền dẫn hai hướng. Nhiều hệ thống ADSL sử dụng kỹ thuật truyền dẫn ghép kênh theo tần số, kỹ thuật này đặt truyền dẫn phát ở dải tần số tách khỏi dải tần số thu để tránh tự xuyên âm. Dải tần bảo vệ là cần thiết để giúp cho các bộ lọc ngăn tạp âm POST can nhiễu vào truyền dẫn số. Một số hệ thống ADSL sử dụng kỹ thuật truyền dẫn triệt tiếng vọng ECHO, nơi dải tần phát được đặt trong dải tần thu. Bằng cách chồng dải tần, tổng băng tần truyền có thể giảm. Tuy nhiên ECHO khó tránh đựơc tự xuyên âm và khi thực hiện cần có xử lý số phức tạp hơn. Do không có tự xuyên âm ở đầu cuối CO nên việc ghép kênh phân chia theo tần số FDM khiến ADSL làm việc tốt hơn nhiều so với phương pháp triệt tiếng vọng ECHO. Tuy nhiên dải thông thu của ADSL cho phép làm việc theo hướng thu đối với các mạch vòng là lớn hơn. Hoạt động của DSL đối xứng ban đầu bị hạn chế bởi tự xuyên âm đầu gần (self-NEXT) ADSL khắc phục được self-NEXT ở đầu cuối khác hàng đơn giản bằng cách giảm nguồn được NEXT. Bằng cách giảm tốc độ bit phát, kênh phát có thể đặt vị trí để xuyên âm vào truyền dẫn thu là ít nhất. Đối với ADSL, sự thu nhận của kênh phát đựơc xếp đặt dễ dàng hơn bằng cách đặt nó ở tần số thấp hơn nơi mà suy hao mạch vòng là thấp và nhiễu xuyên âm cũng thấp hơn. Hệ thống ADSL ứng dụng kỹ thuật truyền dẫn tiên tiến để nâng cao hoạt động. Điều chế và sắp đặt tần số của tín hiệu phát được tự làm thích ứng để đạt được mức hoạt động tối ưu từ các đặc tính liên quan tới đường dây thuê bao sử dụng. Mã Trellis được sử dụng để giảm hiệu ứng nhiễu băng tần rộng trạng thái ổn định. Các bộ cân bằng có khả năng thích nghi chống lại nhiễu băng hẹp, ví dụ như nhiễu tần số phát thanh (RFI). Mã điều khiển lỗi hướng đi và cài xen (interleaving) ngăn chặn nhiễu xung. Cài xen chống lại lỗi xuất hiện đột ngột bằng cách thay đổi các khối dữ liệu, vì thế mà sự xuất hiện đột ngột lỗi kéo dài dẫn đến có một số ít lỗi trong một khối dữ liệu (có thể sửa được) thay vì một lượng lỗi lớn xảy ra trong một khối (không thể sửa được). Với độ sâu cài xem 20ms sẽ chống lại nhiễu đột biến có khoảng thời gian là 500μs, nhưng mức cài xen này gây ra trễ truyền bổ sung mà có thể làm chậm lại băng thông của các gói tin phúc đáp trước khi dữ liệu tiếp theo được truyền. 3. Nhiễu trong ADSL Những đường dây điện thoại DSL là cáp xoắn được bó lại thành những cáp lớn. Dây cáp xoắn về cơ bản được sử dụng để tối giản sự giao thoa của những tín hiệu từ cáp này sang cáp khác gây ra bởi sự bức xạ hoặc sự ghép bằng điện dung. Tuy nhiên, sự ghép đôi giữa các tín hiệu để giảm nhiễu chỉ có thể đạt tới một giới hạn nhất định. Nếu vượt quá giới hạn này, nhiễu tổng cộng trên từng dây sẽ khiến cho chất lượng thông tin trên đó bị suy hao đáng kể. Và như vậy, nếu truyền tín hiệu một cách cân đối trên nhiều đôi dây trong một cáp, tốc độ và chiều dài của tuyến sẽ bị giới hạn trong một khoảng hẹp. Sở dĩ như vậy là do nhiễu trên đường dây thuê bao số, mà phổ biến nhất là 2 loại nhiễu xuyên âm thường thấy trong DSL: NEXT – xuyên âm đầu gần và FEXT – xuyên âm đầu xa. Xuyên âm đầu gần NEXT là loại xuyên âm xảy ra từ các tín hiệu đi theo hướng ngược lại trên đôi dây xoắn hoặc là từ bộ phát đi tới bộ thu đầu cuối gần Xuyên âm đầu xa FEXT có từ tín hiệu đi theo cùng một hướng trên 2 đôi dây xoắn hoặc từ bộ phát tới bộ thu đầu xa. Xuyên âm có thể là nguồn nhiễu ảnh hưởng lớn trên đôi dây xoắn và thường gây giảm tính năng hoạt động của DSL khi nó không được loại bỏ. Trong mô hình cáp dưới đây minh hoạ sự cảm ứng giữa hai dây trong một đôi dây xoắn và giữa hai đôi dây khác nhau. Có điện cảm tương hỗ M giữa các đoạn của dây và có điện dung E giữa bản thân các dây. Trong cáp đôi dây xoắn có điều khiển, người ta mong rằng điện cảm và điện dung tương hỗ có thể điều chỉnh được bởi độ xoắn do đó các đoạn xung quanh của đôi dây xoắn có cực đảo dấu và do vậy loại bỏ được tín hiệu cảm ứng. Tuy nhiên độ xoắn khong phải là hoàn hảo và giá trị của điện cảm, điện dung không được duy trì suốt chiều dài của đôi dây xoắn. Hơn nữa, sự thay đổi điện cảm và điện dung tương hỗ theo tần số thậm chí còn cao hơn sự biến đổi các tham số đặc trưng cho tín hiệu kim loại (từ thuê bao đến tổng đài) dọc theo đôi dây xoắn . Tuy nhiên, người ta cho rằng tín hiệu kim loại từ một đôi dây ảnh hưởng sang đôi dây đang xét là không đổi theo chiều dài (khi ta giả thiết là các tham số RLCG là không đổi trên một đơn vị chiều dài). Sau đó, hàm cảm ứng (phụ thuộc vào tần số)  giữa sự thay đổi điện áp trên dây 2 và dây 1 có thể tìm được qua lý thuyết mạng hai cửa tổng quát khi biết tất cả các tham số M và E. Tương tự như vậy, ta cũng có thể tìm được hàm xuyên âm theo đơn vị chiều dài từ đôi dây 1 sang đôi dây 2 (và cũng như vậy cho mỗi đôi trong cáp lên các đôi dây khác). Cả NEXT và FEXT đều có hàm nhiễu theo thời gian ở bộ thu tuân theo quy luật phân bố Gaussian. Ngoài NEXT và FEXT, ADSL còn chịu ảnh hưởng của các loại nhiễu khác, ví dụ như nhiễu vô tuyến, nhiễu xung, can nhiễu giữa các loại DSL với nhau hoặc tự can nhiễu. Nhiễu vô tuyến: là phần còn lại của tín hiệu vô tuyến trên đường dây điện thoại, đặc biệt là của AM quảng bá và của các nhà khai thác không chuyên (HAM) Tín hiệu tần số vô tuyến ảnh hưởng lên đôi dây điện thoại, đặc biệt là dây trần. Các đường dây điện thoại làm từ đồng tạo thành anten thu sóng điện từ dẫn tới dòng điện tích cảm ứng so với đất. Điện áp chung cho đôi dây xoắn là một trong hai dây so với đất, thông thường hai điện áp này là giống nhau vì hai dây trong đôi dây xoắn giống nhau. Đường dây điện thoại cân bằng cao cho thấy sự suy giảm lớn trong tín hiệu RF biến thiên trên đôi dây so với tín hiệu chung. Tuy nhiên, sự cân bằng sẽ giảm đi khi tần số tăng lên, và ở tần số của DSL nói chung, từ 560kHz tới 30MHz, hệ thống DSL có thể chồng lên băng tần sóng vô tuyến và sẽ thu nhận đựợc mức nào đó của nhiễu vô tuyến dọc theo các tín hiệu DSL biến thiên trên cùng một đôi dây điện thoại. Dạng nhiễu DSL này gọi là RF vào. Một dạng nhiễu vô tuyến khác chính là sự xâm nhập của AM quảng bá. Giao thoa vô tuyến AM xuất pháp từ trạm phát vô tuyến liên thục có độ rộng băng thông 10 kHz từ 560kHz tới 1.6MHz, do đó ảnh hưởng đến tín hiệu thu ADSL. Nhiều trạm vô tuyến AM có thể cùng một lúc hoạt động trong thành phố và ảnh hưởng lên đường dây điện thoại. Các trạm phát vô tuyến AM có thể phát quảng bá ở mức công suất lên tới 50000W và có thể phát tới công suất lớn nhất vào buổi tối. Tín hiệu AM có nhiễu khoảng từ -80dBm/Hz đến -120dBm/Hz. Mức AM xâm nhập có thể ngang hoặc trên mức xuyên âm và mức nhiễu nền của ADSL, vì thế không thể bỏ qua khi thiết kế. Tuy nhiên tín hiệu vô tuyến AM không đủ lớn để làm boã hoà đầu cuối analog của các bộ thu ADSL Nhiễu xung: là nhiễu xuyên âm không ổn định từ các trường điện từ tạm thời gần đường dây điện thoại. Những ví dụ về bộ phát xung rất đa dạng, ví dụ như sự đóng ngắt motor, điện áp điều khiển thang máy, sự rung chuông của máy điện thoại trong cùng một bó cáp. Mỗi hiệu ứng này là tạm thời và gây ra nhiễu xâm nhập vào các đường dây điện thoại qua cùng một cơ chế cơ bản như nhiễu RF, nhưng thường ở tần số thấp hơn nhiều. Điện áp cảm ứng kim loại thường là vài mV, nhưng cũng có thể cao tới 100mV. Các điện áp như vậy dường như là nhỏ, nhưng sự suy giảm lớn ở tần số cao trên đôi dây xoắn có nghĩa là ở thiết bị thu xung có thể là rất lớn so với mức tín hiệu DSL nhận được. Các điện áp ở chế độ này phổ biến gây ra bởi xung có thể gấp 10 lần về biên độ. Các xung thông thường kéo dài từ hàng chục đến hàng trăm lần micro giây những cũng có thể kéo dài tới 3ms. Tự can nhiễu : Tự xuyên âm là xuyên âm vào một dịch vụ cùng hoạt động trong ADSL. Đây là điều cần chú ý đến khi các nhà cung cấp dịch vụ muốn cung cấp một dịch vụ nào đó trên phạm vi rộng. Tuy nhiên với đặc tính bất đối xứng của mình, ADSL không có tự xuyên âm. Điều này cho phép tín hiệu thu chạy ở tốc độ lớn hơn nhiều so với truyền dẫn đối xứng trong điều kiện tương đương. 4. Băng thông ADSL Đúng như tên gọi, ADSL truyền những dòng dữ liệu không đối xứng, đường xuống (tới người thuê bao) chiếm nhiều dải thông hơn so với đường (từ người thuê bao đến nhà cung cấp dịch vụ). Lý do để giải thích cho sự không cân đối một cách tự nhiên của quá trình truyền là do nhu cầu thực tế của người sử dụng. Đối với một đường truyền tốc độ cao, rất nhiều ứng dụng được dùng, ví dụ như xem video trực tuyến, mua bán, chơi game, truy cập Internet, truy cập mạng LAN từ xa v..v nên cần tốc độ đường xuống (tới người sử dụng) phải cao. Ngược lại, yêu cầu về băng thông đường lên lại hoàn toàn thấp hơn nhiều và do đó, có sự bất đối xứng giữa đường lên và đường xuống về mặt băng thông. Các lớp truyền tải khác nhau của ADSL là 2M-1, 2M-2, 2M-3, trong đó 2M-1 có tốc độ cao nhất nhưng có cự ly truyền ngắn nhất. Khả năng truyền tải của ADSL trên đường xuống cơ bản là từ 2,048 Mbps tới 6.144Mbps. Ở tốc độ 6.144Mbps, cự ly truyền có thể vào khoảng 3 km. Tốc độ truyền càng giảm thì cự ly truyền càng tăng lên. Cự ly truyền cao nhất có thể được là 9 km. Tốc độ truyền có thể đạt được tới 52Mbps và 155Mbps nếu sử dụng sợi quang để truyền. Bằng cách sử dụng công nghệ DMT ADSL (Discrete Multitone – Đa tần rờì rạc) ta có thể sử dụng nhiều tốc độ bit khác nhau, tốc độ bit chỉ còn phụ thuộc vào mạch giao diện. Vì thế hệ thống có khả năng thích ứng rất cao. Tốc độ bit đường xuống được cho ở trong bảng dưới đây:  Tốc độ truyền của đường xuống của ADSL nằm trong phạm vi từ 0- 640 kbps tuỳ thuộc vào lớp truyền tải. Tổng hợp các tốc độ bit ở đường lên được liệt kê ở bảng dưới đây:  Đặc biệt, ATM có thể truyền qua ADSL với các tốc độ bit sau  5. Điều chế Tất cả các kênh truyền dẫn cơ bản đều là analog, vì vậy có thể đưa ra các ảnh hưởng truyền dẫn khác nhau. Đặc biệt, các đường dây điện thoại đa phần là analog, và do vậy DSL sử dụng một vài dạng điều chế. Mục tiêu cơ bản của điều chế là biến đổi một luồng bit vào DSL thành các tín hiệu analog tương đương phù hợp với đường truyền dẫn. ADSL là một thành viên trong tập các đường truyền số DSL, do đó nó cũng sử dụng các phương thức điều chế căn bản giống như các đường truyền số theo công nghệ khác. Tuy nhiên, có hai phương thức điều chế chính được sử dụng trong công nghệ ADSL. Đó là DMT- Discrete Multitone Modulation và CAP - Carrierless Amplitude/Phase Modulation. Trước hết, chúng ta sẽ xét về DMT trước. Mặc dù mạng điện thoại PSTN có dải thông tần từ 400Hz tới 3400kHz để truyền tín hiệu thoại, nhưng cáp đồng có một phổ tần số tới 1.1MHz có thể tận dụng rất tốt để truyền dữ liệu. Công nghệ DMT – Discrete Multitone – Đa tần rời rạc - sử dụng toàn bộ phần còn lại của dải phổ đó bằng cách sử dụng các hệ số khuếch đại khác nhau cho mỗi tần số. Phần phổ tần số từ 4kHz trở về trước là dành cho tín hiệu của hệ thống điện thoại cũ. Ý tưởng chủ đạo của phương pháp điều chế DMT là chia nhỏ dải thông sẵn có thành một số lượng lớn các kênh con. Các kênh con này được chia thành các nhóm dành cho việc truyền dữ liệu trên đường lên hoặc trên đường xuống. Trong ADSL, nhóm dành cho đường xuống được chia vào 256 kênh 4kHz, còn nhóm dành cho đường lên có 32 kênh. Mỗi một kênh con đều độc lập và có nhiệm vụ mang một dòng tín hiệu riêng. Tiêu chuẩn ADSL định nghĩa một dòng dữ liệu cơ bản khi đã biết trước cả hai đầu cuối và cho phép chúng xác định tỷ số S/N đặc trưng cho mỗi kênh, và sử dụng thông tin này để chia dữ liệu ra từng phần để truyền qua các kênh con.  Và điều quan trọng cần phải nhớ, đó là ADSL không hề ảnh hưởng đến phần tín hiệu thoại trong bất kỳ trường hợp nào. Và để đảm bảo điều đó, phần tín hiệu có tần số thấp hơn 4kHz sẽ được một mạch điện tách riêng ra khi tín hiệu đi đến đầu cuối và do đó, các cuộc liên lạc bằng điện thoại sẽ vẫn thực hiện được khi đường truyền đang được sử dụng trong các dịch vụ băng thông rộng ứng dụng công nghệ ADSL.  Kỹ thuật DMT rất hữu dụng trong chế độ bất đối xứng khi các kênh con được chia thành các nhóm riêng biệt dành cho đường lên(từ đầu cuối đến các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại cũ) và xuống(từ các nhà cung cấp dịch vụ tới các. khách hàng.  Tiếp theo, chúng ta cần phải nhắc đến công nghệ điều chế biên độ pha không sóng mang - CAP - Carrierless Amplitude/Phase Modulation Thuật toán CAP đưa đến sự kết hợp giữa cả biên độ và pha trong khi tạo ra các bit tín hiệu truyền qua các đôi dây xoắn. Không giống như DMT, CAP sử dụng toàn bộ dải thông từ 4kHz lên 1,1MHz như một kênh truyền. Công nghệ CAP được sử dụng trong một vài chuẩn viễn thông như chuẩn V.32 … Số lượng tín hiệu mà phương pháp này có thể phát sinh phụ thuộc vào những mẩu thông tin mà chúng ta muốn gửi qua đường truyền. Công nghệ này cho phép thay đổi tốc độ bit trong thời gian thực khi có sự thay đổi về thuật toán sử dụng. Những lợi thế của CAP so với DMT là giá thấp, độ trễ thấp và tốc độ đáp ứng . Tuy nhiên, DMT luôn được xem là công nghệ đang tin cậy hơn và phức tạp hơn 6. FEC - Forward Error Control FEC – Forward Error Control - được sử dụng để đảm bảo cho hệ thống hoạt động tối ưu. Việc sửa lỗi này dựa vào mã hoá vòng gọi là mã hoá Reed – Solomon thay cho thiết lập các khối byte và sửa các lỗi khối. Thuật toán mã hoá Reed – Solomon thực hiện theo Galois Field (GF 256) và cho phép tới 16 byte lỗi trong một từ mã 255 bytes được sửa. Khả năng sửa lỗi của thuật toán này có thể tăng lên trong