Tiểu luận Khảo sát tình hình ô nhiễm nguồn nước, xác định một số chỉ tiêu trong nước thải của quá trình sản xuất công nghiệp

Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên qúy giá, là yếu tố không thể thiếu cho sự sống, ở đâu có nước ở đó có sự sống. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của sự sống, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, và thâm canh nông nghiệp ngày càng phát triển đã có nhiều ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên này. Nhiều nơi nguồn nước bề mặt thậm chí cả nước ngầm đã bị ô nhiễm nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng của nước và ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và động vật làm giảm năng xuất và chất lượng cây trồng. Hiện nay thế giới đang rung hồi chuông báo động về thực trạng ô nhiễm môi trường toàn cầu. Môi trường đã trở thành vấn đề chung của toàn nhân loại và được toàn thế giới quan tâm, cùng với sự nóng lên của trái đất gây hiệu ứng nhà kính và xuất hiện ngày một nhiều lỗ thủng trên tầng Ozon bảo vệ trái đất khỏi các tia cực tím. Nằm trong khung cảnh chung đó của thế giới môi trường Việt Nam chúng ta xuống cấp cục bộ do chúng ta đang trong thời kỳ phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và sự tăng mật độ dân số quá nhanh ở các khu đô thị. Đi kèm với sự phát triển đó là vấn đề ô nhiễm môi trường do các nguồn rác thải, nước thải, khí thải gây ra. Tất cả các nguồn thải nói trên đều chứa đựng trong nó biết bao nhiêu loại chất độc hại. Các nguồn thải được đưa ra môi trường hầu hết đều chưa được xử lý hoặc mới xử lý sơ bộ do vậy gây ra ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường nước. Những nguồn nước thải, nước thải từ các ngành công nghiệp mà trong đó có chứa rất nhiều chất độc hại từ đó đi vào cống, rãnh, sông, hồ làm ô nhiễm các nguồn nước là chủ yếu. Những chất này đi vào cơ thể từ con đường ăn uống, hô hấp chúng tích luỹ trong cơ thể con người và sinh vật gây ra những tác hại vô cùng nguy hiểm. Vấn đề là làm thế nào để đánh giá mức độ ô nhiễm cũng như xác định hàm lượng của các chất độc hại trong nước thải trước khi đưa vào môi trường. trước thực tế đó chúng em xin chọn đề tài “Khảo sát tình hình ô nhiễm nguồn nước, xác định một số chỉ tiêu trong nước thải của quá trình sản xuất công nghiệp”. Đề tài này xin đề cập đến vấn đề ô nhiễm nguồn nước và các phương pháp xử lý cũng như các phương pháp xác định một số chỉ tiêu quan trọng trong nước thải.

docx62 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 31/01/2013 | Lượt xem: 5704 | Lượt tải: 45download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Khảo sát tình hình ô nhiễm nguồn nước, xác định một số chỉ tiêu trong nước thải của quá trình sản xuất công nghiệp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CÔNG NGHỆ HOÁ HỌC ((((( BÀI TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI: KHẢO SÁT TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU TRONG NƯỚC THẢI CỦA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP / Sinh viên: Đoàn Thành Trung Kiên MS: 08275371 Lớp: ĐHPT2TLT GVHD: Ts. Nguyễn Văn Vinh Tp. Hồ Chí Minh năm 2010Mục lục Trang Mở đầu 1.Vai trò của nước sạch và tình trạng ô nhiễm nguồn nước 1 1.1.Vai trò của nước 1 1.2.Phân bố của nước trên trái đất 1 1.2.1.Nước ngọt trên bề mặt đất 1 1.2.2. Nước ngọt trong lòng đất 2 1.3.Phân loại nước 2 1.3.1.Nước thiên nhiên – nước sinh hoạt 2 1.3.2.Nước thải 3 1.4. Thành phần các chất trong nước 3 1.4.1. Độ cứng 4 1.4.2. Chlorua và sulfate 4 1.4.3. Các muối sắt 5 1.4.4. Các muối amonium 5 1.4.5. Khí ôxy 5 1.4.6. Phosphous 5 1.4.7. Độ kiềm 6 1.5. Các tác động gây ô nhiễm nguồn nước 6 1.5.1. Ảnh hưởng do hoạt động sống của con người 6 1.5.2. Ảnh hưởng do phát triển nông nghiệp 7 1.5.3. Ảnh hưởng do phát triển công nghiệp và dịch vụ 7 1.5.4. Ảnh hưởng do một số nguyên nhân khác 8 1.6. Tình trạng ô nhiễm môi trường 8 1.6.1. Tình trạng ô nhiễm môi trường tại việt nam 8 1.6.2. Trên thế giới 13 1.7. Phân loại nước thải 15 1.7.1. Nước thải sinh hoạt 15 1.7.2. Nước mưa 16 1.7.3. Nước thải công nghiệp và nông nghiệp 17 2. Hậu quả của ô nhiếm nước 18 2.1. Ảnh hưởng đến môi trường 18 2.1.1. Nước và sinh vật 18 2.1.2. Đất và sinh vật 20 2.1.3. Không khí 21 2.2. Ảnh hưởng đến con người 21 2.2.1. Sức khoẻ con người 21 2.2.2. Ảnh hưởng đến đời sống 27 3. Các phương pháp xử lý nước thải 29 3.1. Phương pháp cơ học 29 3.1.1. Song chắn rác 29 3.1.2. Lắng cát 30 3.1.3. Lắng 30 3.1.4. Tuyển nổi 30 3.2. Phương pháp xử lý hoá học và hoá lý 31 3.2.1. Phương pháp trung hoà 31 3.2.2. Keo tụ - tạo bông 31 3.3. Phương pháp sinh học 32 3.3.1. Phương pháp sinh học kị khí 32 3.3.2. Phương pháp sinh học hiếu khí 33 4. Phân tích hàm lượng một số chỉ tiêu trong nước thải 34 4.1. Chỉ tiêu amonium 34 4.2. Chỉ tiêu chloride 35 4.3. Chỉ tiêu COD (chemical oxygen demand) 38 4.4. Chỉ tiêu BOD (biochemical oxygen demand) 41 4.5. Chỉ tiêu DO (disolved oxygen) 44 4.6. Chỉ tiêu phosphate và tổng phosphous 48 4.7 Xác định hàm lương asen 51 Kết luận … Phụ lục Tài liệu tham khảo Mở đầu Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên qúy giá, là yếu tố không thể thiếu cho sự sống, ở đâu có nước ở đó có sự sống. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của sự sống, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, và thâm canh nông nghiệp ngày càng phát triển đã có nhiều ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên này. Nhiều nơi nguồn nước bề mặt thậm chí cả nước ngầm đã bị ô nhiễm nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng của nước và ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và động vật làm giảm năng xuất và chất lượng cây trồng. Hiện nay thế giới đang rung hồi chuông báo động về thực trạng ô nhiễm môi trường toàn cầu. Môi trường đã trở thành vấn đề chung của toàn nhân loại và được toàn thế giới quan tâm, cùng với sự nóng lên của trái đất gây hiệu ứng nhà kính và xuất hiện ngày một nhiều lỗ thủng trên tầng Ozon bảo vệ trái đất khỏi các tia cực tím. Nằm trong khung cảnh chung đó của thế giới môi trường Việt Nam chúng ta xuống cấp cục bộ do chúng ta đang trong thời kỳ phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và sự tăng mật độ dân số quá nhanh ở các khu đô thị. Đi kèm với sự phát triển đó là vấn đề ô nhiễm môi trường do các nguồn rác thải, nước thải, khí thải gây ra. Tất cả các nguồn thải nói trên đều chứa đựng trong nó biết bao nhiêu loại chất độc hại. Các nguồn thải được đưa ra môi trường hầu hết đều chưa được xử lý hoặc mới xử lý sơ bộ do vậy gây ra ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường nước. Những nguồn nước thải, nước thải từ các ngành công nghiệp mà trong đó có chứa rất nhiều chất độc hại từ đó đi vào cống, rãnh, sông, hồ làm ô nhiễm các nguồn nước là chủ yếu. Những chất này đi vào cơ thể từ con đường ăn uống, hô hấp chúng tích luỹ trong cơ thể con người và sinh vật gây ra những tác hại vô cùng nguy hiểm. Vấn đề là làm thế nào để đánh giá mức độ ô nhiễm cũng như xác định hàm lượng của các chất độc hại trong nước thải trước khi đưa vào môi trường. trước thực tế đó chúng em xin chọn đề tài “Khảo sát tình hình ô nhiễm nguồn nước, xác định một số chỉ tiêu trong nước thải của quá trình sản xuất công nghiệp”. Đề tài này xin đề cập đến vấn đề ô nhiễm nguồn nước và các phương pháp xử lý cũng như các phương pháp xác định một số chỉ tiêu quan trọng trong nước thải. Vai trò của nước sạch và tình trạng ô nhiễm môi trường nước Vai trò của nước Nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú quanh ta, từ những dòng chảy, sông hồ, nước ngầm đến đại dương mênh mông là nơi muôn loài thuỷ sinh sinh sống, nước được sử dụng trong mọi mặt của đời sống con người và mọi loài động thực vật trên trái đất. Tuy nhiên nguồn nước sạch quí giá đang bị khai thác dần cạn kiệt, thiếu nước sạch không những ảnh hưởng đến đời sống con người mà còn ảnh hưởng đến các loại sinh vật trên trái đất cũng như mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt. Cuộc sống trên Trái Đất bắt nguồn từ trong nước. Tất cả các sự sống trên Trái Đất đều phụ thuộc vào nước vào vòng tuần hoàn nước. Nước có ảnh hưởng quyết định đến khí hậu và là nguyên nhân tạo ra thời tiết. Năng lượng mặt trời sưởi ấm không đồng đều các đại dương đã tạo nên các dòng hải lưu trên toàn cầu. Dòng hải lưu Gulf Stream vận chuyển nước ấm từ vùng Vịnh Mexico đến Bắc Đại Tây Dương làm ảnh hưởng đến khí hậu của vài vùng châu Âu. Nước là thành phần quan trọng của các tế bào sinh học và là môi trường của các quá trình sinh hóa cơ bản như quang hợp. Hơn 70% diện tích của Trái Đất được bao phủ bởi nước. Lượng nước trên Trái Đất có vào khoảng 1,38 tỉ km³. Trong đó 97,4% là nước mặn trong các đại dương trên thế giới, phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng băng tuyết đóng ở hai cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước trên toàn thế giới (hay 3,6 triệu km³) là có thể sử dụng làm nước uống. Việc cung cấp nước uống sẽ là một trong những thử thách lớn nhất của loài người trong vài thập niên tới đây. Nguồn nước cũng đã là nguyên nhân gây ra một trong những cuộc chiến tranh ở Trung Cận Đông. Nước được sử dụng trong công nghiệp từ lâu như là nguồn nhiên liệu (cối xay nước, máy hơi nước, nhà máy thủy điện), là chất trao đổi nhiệt. Phân bố của nước trên Trái đất Lượng nước tự nhiên có 97% là nước mặn phân bổ ở biển và đại dương, 3,5% còn lại phân bố ở đất liền. Tổng lượng nước lớn nhưng lượng nước ngọt chỉ có thể sử dụng các nguồn sau Nước ngọt trên bề mặt đất Lượng nước mưa rơi xuống mặt đất. Nước tồn tại trong các sông, rạch, ao, hồ. Một phần rất ít nước từ đầm lầy và băng tuyết. Nước ngọt trong lòng đất Nước dưới đất có loại nước mặn, nước lợ và nước ngọt, trong đó nước ngọt chỉ có lưu lượng nhất định. Nước dưới đất được tàng trữ trong các lỗ hổng và khe hở đất đá. Tầng chứa nước Các lớp đất đá có thành phần hạt thô (cát, sạn, sỏi), khe hở, nứt nẻ, có tính thấm nước, dẫn nước tốt mà con người có thể khai thác nước phục vụ cho nhu cầu của mình gọi là các tầng chứa nước. Tầng cách nước Là tầng đất đá với thành phần hạt mịn (sét, bột sét), có hệ số thấm nhỏ, khả năng cho nước thấm xuyên qua yếu, khả năng khai thác nước trong tầng này thấp. Phân loại nước Nước là nguồn tài nguyên quý, là yếu tố không thể thiếu cho mọi hoạt động sống trên trái đất. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển của con người, đô thị hoá, công nghiệp hoá ngày càng phát triển đã ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên này. Trước tình hình nguồn nước bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, các cấp lãnh đạo, các cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra nguồn nước để từ đó đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện tình hình. Nước được phân loại như sau: Nước thiên nhiên – nước sinh hoạt Nước thiên nhiên bao gồm các nguồn nước ở sông ngòi, ao hồ, suối, mạch ngầm, biển. Nước thiên nhiên là một dị thể bao gồm các chất không tan có nguồn gốc vô cơ cũng như hữu cơ. Các chất này được xâm nhập vào nguồn nước từ đất, đá, động vật, thực vật cũng như con người… Theo nguồn phát sinh người ta chia nước thiên thành các loại sau: Nước mưa: Thường được hoà tan 1 lượng khí CO2, N2, O2 và một số khí khác. Ngoài khí hoà tan trong nước mưa còn có lẫn bụi bậm và vi trùng nên nước mưa thuộc loại nước mềm, sạch mát khi mới hứng. Nước mạch, nước ngầm: Do nước thấm trong lòng đất lâu đời tạo thành những mạch nước chảy trong lòng đất vì được chắc lọc qua nhiều tầng lớp nên nước mạch thuộc loại nước mềm, trong mát, do đó được dùng nhiều trong sinh hoạt. Nước ở trên bề mặt trái đất: Như ở ao, hồ, sông, biển… Đặc điểm của nước này thường chứa nhiều tạp chất khác nhau, tùy vào từng vùng, từng lãnh thổ… Nước uống: nước uống chủ yếu là nước ngọt tự nhiên trong đó đã được quy định cụ thể về các thành phần hóa học – vi sinh – các ion kim loại… sao cho phù hợp với quá trình trao đổi chất của con người. Nước thải Nước thải là kết quả của sự nhiễm bẩn nước bề mặt của nước tự nhiên do các hoạt động sinh hoạt, sản xuất của con người hay do quá trình phân huỷ của xác động, thực vật. Thành phần nước thải phụ thuộc nhiều vào nguồn nhiễm bẩn khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp… và các hoạt động sinh hoạt khác của con người. Trong nước thải có rất nhiều chất khác nhau tuỳ thuộc vào từng vùng, từng khu sản xuất… Nó có thể là những chất tan trong nước hay ở dạng huyền phù, nhũ tương cho đến các loại vi khuẩn… Do tương tác hoá học giữa các chất làm cho pH của môi trường thay đổi, còn các chất huyền phù, kết tủa làm ngăn cản sự phát triển của các loại vi sinh vật làm sạch nước, cản trở sự phát triển của các loài động, thực vật ở trong nước cũng như ở các vùng xung quanh. Thành phần các chất trong nước Trong nước có rất nhiều thành phần khác nhau cùng tồn tại phụthuộc vào từng vùng, từng khu công nghiệp cũng như các hoạt động sống của con người. Ví dụ: Ở vùng khai khoáng thì có nhiều các kim loại, các acid vô cơ. Ở vùng sản xuất đồ gốm thì có nhiều bari, cadimi, liti, mangan, selen… Còn vùng sản xuất da thì có nhiều canxi, hydrosunfua, natri sunfua, crom, kẽm, niken… Độ cứng (Các muối Cacium và Magiesium) Calcium và magiesium tồn tại trong nước chủ yếu ở các dạng bicarbonate (HCO3-), Carbonate (CO32-), Chloride (Cl-), Sulfate (SO42-). Hai ion này biểu thị cho độ cứng của nước. Tính cứng này thay đổi tuỳ theo hàm lượng các muối calcium và magnesium có trong nước làm ảnh hưởng đến sinh hoạt cũng như trong sản xuất. Có 2 cách để chia độ cứng: Cách 1: Chia độ cứng làm 2 loại là độ cứng carbonat và độ cứng không carbonat. Độ cứng carbonat biểu thị lượng calcium và magiesium dưới dạng muối HCO3- còn độ cứng không carbonate biểu thị muối calcium và magiesium dưới dạng Cl- và SO42-. Cách 2: Chia độ cứng làm 3 loại là độ cứng tạm thời, độ cứng vĩnh cửu và độ cứng chung hay được gọi là độ cứng toàn phần. Độ cứng tạm thời của nước biểu thị muối HCO3- của calcium và magiesium bị phân huỷ khi đun nóng. Ca(HCO3)2 = CaCO3 + CO2 + H2O Mg(HCO3)2 = MgCO3 + CO2 + H2O 2Mg(HCO3)2 = (MgOH)2CO3 + 3CO2 + H2O Độ cứng vĩnh cửu là độ cứng còn lại sau khi đun ở 100oC biểu thị tổng lượng Ca2+ và Mg2+ ở dạng muối clorua hoặc muối sunfat. Độ cứng chung là tổng của độ cứng tạm thời và độ cứng vĩnh cửu. Clorua (Cl-) và sunphat (SO42-) Cl- và SO42- hầu như có mặt trong các loại nước thiên nhiên. Nó không thể hiện tính cứng cũng như không gây tác hại trong việc sử dụng. Tuy nhiên nếu các muối này quá cao thì gây ra áp suất cao trong quá trình sử dụng nồi hơi vì nó là những hợp chất dễ tan trong nước. Mặt khác, ảnh hưởng đến sinh hoạt của con người, đến sự sống của động – thực vật trong nước khi hàm lượng quá cao. Các muối Sắt (Fe2+, Fe3+) Sắt thường tồn tại trong nước ở dạng muối Fe(HCO3)2. Khi tiếp xúc lâu với không khí, muối sắt trên dễ bị oxy hoá thành muối sắt (III) và gây cặn Fe(OH)3 làm cho nước đục. Các muối Amonium (NH4+) Amonium (NH4+) (thực ra không quá độc đối với cơ thể người (tiêu chuẩn là 3 mg/L). Nhưng trong quá trình khai thác, xử lý và lưu trữ nước, nó chuyển hóa thành nitrite và nitrate. Nitrite là chất độc rất có hại cho cơ thể. Khi người uống phải, nó sẽ chuyển hóa thành nitrosamin, một chất có tiềm năng gây ung thư. Các nghiên cứu cho thấy, 1 g Amonium khi chuyển hóa hết sẽ tạo thành 2.7 g nitrite và 3.65 g nitrate. Trong khi đó, hàm lượng cho phép của nitrite là 0.1 mg/L và nitrate là 10 – 50 mg/L. Giới hạn cho phép của Amoniac không vượt quá 30 mg/L. Khí Oxy Khí O2 có trong nước giúp ích cho các quá trình sinh hóa. Lượng oxy trong nước chủ yếu là Oxy hòa tan (DO); nhu cầu Oxy hóa học (COD) và nhu cầu Oxy sinh học (BOD). Lượng Oxy hòa tan (DO) Lượng oxy hòa tan trong nước sẽ tham gia quá trình trao đổi chất, duy trì năng lượng cho quá trình phát triển, sinh sản và tái sản xuất của sinh vật sống dưới nước. Về mặt hóa học, oxy không tham gia phản ứng với nước mà độ hòa tan của oxy trong nước phụ thuộc vào áp suất và nhiệt độ. Nhu cầu oxy sinh học (BOD) Là lượng oxy cần thiết để vi khuẩn sử dụng phân hủy chất hữu cơ dưới điều kiện hiếu khí. Chỉ tiêu này để đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn nước. BOD càng cao chứng tỏ mức độ ô nhiễm càng nặng. Nhu cầu oxy hóa học (COD) Là lượng oxy cần thiết để oxy hóa hết các hợp chất hữu cơ có trong nước. Nước nhiễm bẩn sẽ có độ oxy hóa cao phải tốn nhiều hóa chất cho công tác khử trùng. Phosphous Hàm lượng phosphous trong nước tồn tại dạng PO43-, được sinh ra bởi phân, rác rưởi, các hợp chất hữu cơ trong sinh hoạt và trong sản xuất thải ra. Phosphate làm hóa chất bón cây, chất kích thích tăng trưởng, chất tạo bọt trong bột giặt, chất làm mềm nước, kích thích tăng trưởng nhiều loại vi sinh vật, phiêu sinh vật, tảo… Phosphate gây nhiều tác động trong việc bảo vệ môi trường. Độ kiềm Trong thiên nhiên độ kiềm thường gây ra do sự hiện diện của các muối acid yếu tồn tại dưới dạng HCO3- như: KHCO3, NaHCO3, Ca(HCO3)2. Trong một vài trường hợp độ kiềm thường gây ra do ion OH- hay CO32- mất đi từ HCO3-. Độ kièm được chia làm 3 loại: Độ kiềm OH- Độ kiềm CO32- Độ kiềm HCO32- Các tác động gây ô nhiễm nguồn nước Ngày nay, nhu cầu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu lợi nhuận cao, con người đã lờ đi các tác động ảnh hưởng đến các nhân tố tự nhiên và môi trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển và các nước nghèo đã làm cho môi trường nước bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng hơn. Sự gia tăng dân số quá nhanh là nguyên nhân chính gây áp lực lên nguồn nước. Vì nhu cầu nước cho phát triển nông nghiệp để gia tăng lương thực thực phẩm, phát triển công nghiệp để gia tăng hàng hóa và gia tăng thêm nhiều hình thức dịch vụ… Ảnh hưởng do hoạt động sống của con người Các dòng nước mặt (sông, kênh rạch…) đặc biệt là ở vùng đô thị đều bị ô nhiễm trầm trọng bởi rác thải, nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư xả vào kênh rạch chưa qua xử lý. Tình trạng lấn chiếm lòng, bờ sông kênh rạch để sinh sống, xả rác và nước thải trực tiếp trên bề mặt gây ô nhiễm nước mặt,cản trở lưu thông của dòng chảy, tắc nghẽn cống rãnh tạo nước tù. Môi trường yếm khí gia tăng phân hủy các hợp chất hữu cơ, không những gây mùi hôi thối, ô nhiễm nguồn nước và môi trường mà còn gây khó khăn trong việc lấy nguồn nước mặ để xử lý thành nguồn nước sạch cấp cho nhu cầu xã hội. Nhu cầu nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động khác của con người gia tăng, dẫn đến tình trạng khai thác nước dưới đất tràn lan gây cạn kiệt nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường như sụp lún, nhiễm mặn… Giữa nước mặn và nước nhạt có một ranh giới, khi hoạt động khai thác nước dưới đất quá mức đường ranh giới này sẽ tiến dần đến công trình khai thác, mực nước mặn xâm nhập dần, đẩy lùi mực nước ngọt vào sâu và làm nhiễm mặn các công trình khai thác trong khu vực. Ảnh hưởng do phát triển nông nghiệp Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn còn chưa có ý thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý chất thải nước thải, phần lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thấm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm. Việc nuôi các bè cá, bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt sông rạch đã làm ô nhiễm nguồn nước do một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư thừa, sự khuấy động nguồn nước, sự cản trở lưu thông dòng mặt. Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong phân bón, các loại thuốc kích hoạt phát triển cây… Nhiều hệ thống kênh mương tưới tiêu nội đồng đã bị ô nhiễm nguồn nước và phát tán rộng. Hệ thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu không hợp lý là nguyên nhân gây thất thoát lưu lượng nước lớn trong ngành trồng trọt. Ảnh hưởng do phát triển công ngiệp và dịch vụ Việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn đến nhu cầu về nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập trung về. Đặc biệt ở các khu vực chưa có hệ thống cấp nước, mật độ khai thác nước dưới đất sẽ gia tăng nhanh, từ đó dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn nước và sụp lún đất. Các chất thải công nghiệp như khối, bụi…tạo nên mưa axít không những làm thay đổi chất lượng nước ngọt, mà còn ảnh hưởng xấu đến đất và môi trường sinh thái. Việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu chế xuất khu công nghiệp chưa được xử lý vào sông rạch, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất. Thậm chí có nơi còn cho nước thải chảy tràn trên mặt đất để tự thấm xuống đất hoặc đào các hố dưới đất để xả nước thải làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tầng nước dưới đất. Ảnh hưởng do một số nguyên nhân khác Hệ thống kênh rạch không được nạo vét dẫn đến tích tụ một khối lượng lớn các vật chất hữu cơ từ nước thải, rác thải gây bồi lắng và ảnh hưởng đến việc tiêu thoát của dòng nước. Các bãi chôn rác không đạt yêu cầu kỹ thuật, nước rỉ ra từ rác thấm vào mạch nước ngầm hoặc cho chảy tràn trên mặt đất vào kênh rạch. Các dòng nước mặt trên sông, kênh rạch còn bị ô nhiễm do xăng dầu của các tàu bè đi lại, hoặc các sự cố vận chuyển khác trên sông, biển. Ảnh hưởng do chưa có ý thức về sử dụng và bảo vệ nguồn nước như sử dụng bừa bãi hoang phí, không đúng mục đích sử dụng. Tình trạng ô nhiễm môi trường Nước cũng như không khí, ánh sáng không thể thiếu được trong cuộc sống của con người. Hãy thử tưởng tượng đến một ngày nào đó mọi nguồn nước trên trái đất đều bị nhiễm bẩn thì thế giới này sẽ ra sao. Chính vì vai trò quan trọng của nước đối với sự sống nên các quốc gia đều dành sự quan tâm đến việc giữ gìn nguồn nước, nhất là nước sạch. Các nhà khoa học tính toán tổng lượng nước trên trái đất khoảng 1.390.000.000 km3, trong đó lượng nước mặt, nước ngầm hơn 8.600.000 km3, còn lại chủ yếu là nước biển. Tài nguyên nước, nhất là nước ngọt ngày càng ít và xu hướng nhiễm bẩn lan rộng đang là mối đe dọa đối với nhiều nước trên thế giới. Tình trạng ô nhiễm môi trường tại việt nam Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng... cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép. Hàm lượ