Tiểu luận Nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn

Một trong những quyền cơ bản của công dân là quyền được khiếu nại, tố cáo, được ghi nhận tại Điều 74 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Luật Khiếu nại, tố cáo được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/12/1998 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1999, được sửa đổi bổ sung năm 2004 - là văn bản pháp lý nhằm thể chế hoá quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ngày 07/08/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/1999/NĐ-CP và Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19/04/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, để thực hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo quy định trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đặc biệt là trách nhiệm của thanh tra Nhà nước các cấp. Trong đó có cơ quan thanh tra cấp huyện có một vai trò hết sức quan trọng trong việc trực tiếp giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

pdf21 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 29/10/2013 | Lượt xem: 910 | Lượt tải: 24download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG…………….. TIỂU LUẬN Nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn 2 lời nói đầu Một trong những quyền cơ bản của công dân là quyền được khiếu nại, tố cáo, được ghi nhận tại Điều 74 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Luật Khiếu nại, tố cáo được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/12/1998 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1999, được sửa đổi bổ sung năm 2004 - là văn bản pháp lý nhằm thể chế hoá quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ngày 07/08/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/1999/NĐ-CP và Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19/04/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, để thực hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo quy định trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đặc biệt là trách nhiệm của thanh tra Nhà nước các cấp. Trong đó có cơ quan thanh tra cấp huyện có một vai trò hết sức quan trọng trong việc trực tiếp giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những giải pháp quan trọng góp phần xây dựng Nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân. Trong điều kiện đất nước phát triển, dân chủ được mở rộng thì quyền khiếu nại, tố cáo của công dân càng được mở rộng và không ngừng được phát huy. Giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm bảo vệ, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bên cạnh đó xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và vai trò của thanh tra cấp huyện. Tôi lựa chọn chuyên đề: “Nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn”. Nhằm nghiên cứu một số vấn đề trong lĩnh vực chuyên môn và góp một phần 3 nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của địa phương trong thời kỳ mới. Trong quá trình học tập và nghiên cứu với kinh nghiệm thực tiễn. Trong quá trình công tác, phạm vi của chuyên đề xin được đề cập đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn với nội dung cụ thể: Phần I: Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn. Phần II: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn trong tình hình hiện nay. 4 Phần I Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn i. đặc điểm tình hình. 1. Đặc điểm chung. Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là vùng đất có truyền thống cách mạng. Quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh có phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, cách trung tâm thành phố Vinh theo tỉnh lộ 46 đi về hướng Tây 20km. Huyện Nam Đàn phía Đông giáp huyện Hùng Nguyên, phía Nam giáp huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh, phía Tây giáp huyện Thanh Chương, phía Bắc có dãy thiên nhẫn giáp huyện Nghi Lộc. Diện tích tự nhiên: 50.000 ha. Trong đó đất lâm nghiệp chiếm: 1/3. Còn lại đất nông nghiệp, sông hồ. Tổng dân số: 350.000.000 người. Sản xuất ở đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, du lịch dịch vụ là tiềm năng lớn của huyện trong tương lai. Với điều kiện tự nhiên, xã hội nhìn chung huyện Nam Đàn còn gặp rất nhiều khó khăn, dân số đông sản xuất chủ yếu thuần nông, ngành nghề thủ công kém phát triển. Cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển, đường giao thông nông thôn thuỷ lợi nội đồng, các đầu mối còn nhiều bất cập. Đại hội Đảng nhiệm kỳ 2005 - 2010. Đảng bộ huyện đã khẳng định phương hướng phát triển kinh tế ổn định sản xuất nông nghiệp, phát triển du lịch dịch vụ ngang tầm tiềm năng sẵn có đã được Nhà nước đầu tư phát triển. 2. Tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn. Trong những năm qua do quá trình công nghiệp hoá trên các lĩnh vực sản xuất xã hội phát triển một cách mạnh mẽ, như xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi. Các dự án văn hoá, công trình phú lợi công công mặt được là cơ bản. Tuy vẫn còn một số mặt còn hạn chế ảnh hưởng tới sinh hoạt, 5 đời sống, việc làm của nhân dân lao động, trong lúc đó chính sách Nhà nước chưa đáp ứng kịp thời gây nhiều bức xúc trong nhân dân. Việc tổ chức thực hiện thiếu bàn bạc dân chủ gây áp lực đối với những hộ, nhà dân bị thiệt thòi. Thiếu tổ chức tuyên truyền vận động quần chúng tham gia vào phong trào chung. Đây là những nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện trong nhân dân. Công tác quản lý đất đai, nhà ở còn nhiều lỏng lẻo, trong quá trình chuyển đổi thực hiện Luật đất đai, chính quyền huyện quản lý hồ sơ không tốt, giải quyết mua bán chuyển nhượng đất đai không đúng thủ tục, thẩm quyền gây nhiều bất bình trong nhân dân còn công dân một số cố tình lấn chiếm đất đai vi phạm pháp luật, tình trạng lợi dụng chức quyền Nhà nước, mua đi bán lại đất đai kiếm lời bất chính tạo dư luận xấu trong nhân dân - gây nên khiếu kiện. Huyện Nam Đàn lao động sản xuất nông nghiệp chiếm 80%, vấn đề hạn chế trong nhận thức về đường lối, pháp luật của Đảng và Nhà nước, đặc biệt trong xu thế mở cửa, hội nhập. Phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Sự bất cập giữa nhận thức của người dân và sự phát triển đi lên của trào lưu chung thì sẽ xuất hiện nhiều kiến nghị, tố cáo đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền tập trung giải quyết. Đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của một số xã, thị trấn trên địa bàn huyện phần lớn là cán bộ phong trào, kiêm nhiệm. Trình độ chuyên môn, hiểu biết pháp luật còn non yếu do chưa được qua các đợt tập huấn học tập nên nhiều kiến nghị của công dân giải quyết không kịp thời, không dứt điểm, gây bức xúc trong nhân dân. Nhiều cán bộ lãnh đạo xã, thị trấn còn biểu hiện né tránh đối thoại trực tiếp với công dân nên xảy ra khiếu nại, tố cáo vượt cấp gia tăng. 6 ii. thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn trong thời gian qua. 1. Tình hình khiếu nại, tố cáo ở Nam Đàn trong thời gian qua. a. Tình hình chung. Nhìn chung tình hình khiếu nại, tố cáo trong thời gian qua trên địa bàn huyện có nhiều diễn biến phức tạp, nội dung khiếu nại, tố cáo chủ yếu trong việc giải phóng mặt bằng, thu hồi đất mở rộng, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội. Làm ảnh hưởng không ít đến việc làm và đời sống của bộ phận dân cư trên địa bàn có các dự án đầu tư đi qua. Nên khiếu nại về đất đai chiếm một tỷ lệ tương đối lớn. Ngoài ra nội dung khiếu kiện còn đề cập vấn đề cấp đất, mua bán, chuyển nhượng đất đai trái thẩm quyền của một số chính quyền cơ sở, lấn chiếm đất công, thu chi tài chính không minh bạch, quản lý kinh phí đầu tư có nhiều vi phạm. Đối tượng khiếu nại, tố cáo chủ yếu là cơ quan Nhà nước cấp huyện, xã, thị trấn, tổ chức, cá nhân tổ chức thực hiện nhiệm vụ chưa đảm bảo thủ tục, chưa đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, còn vi phạm. Những người đi khiếu nại là những người dân trong vùng có dự án đầu tư đi qua, có ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của họ. Bên cạnh đó vẫn có một số người dân lợi dụng quyền của công dân khiếu nại, tố cáo kích động lôi kéo một bộ phận quá khích gây rối trình tự làm ảnh hưởng tình hình chung của địa phương. b. Những nguyên nhân gây tình hình khiếu nại, tố cáo ở huyện Nam Đàn. * Nguyên nhân khách quan: Là một huyện trung du bàn sơn địa, nông nghiệp sản xuất chính, Nam Đàn đang chuyển mình phát triển đi lên bằng cơ chế thị trường theo định hướng XHCN công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang từng bước làm thay da đổi thịt vùng đất đầy tiềm năng trong tương lai. Những thành quả đặt được đã tạo vững chắc cho sự phát triển đi lên trong thời gian tới. Bên cạnh đó những khó khăn vốn có như đống đất bạc màu, chuyên canh nông nghiệp, thu nhập người 7 nông dân thấp, cơ cấu kinh tế chưa thực sự được chuyển đổi mạnh, là mối quan tâm của nhân dân chính quyền cơ sở. Chính sự phát triển đi lên đó đã kéo theo sự bất cập trực tiếp đến người dân nông nghiệp, đất đai bị thu hẹp, việc làm ít đi, tư tưởng có lúc bị dao động, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống sinh hoạt của người dân - là nguyên nhân dẫn đến khiếu nại gay gắt. Chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa đồng bộ nên trong quá trình giải quyết những chế độ cho người dân không được thoả đáng, nguyện vọng, kiến nghị của họ chưa được đáp ứng. Pháp luật chưa có quy định để xử lý đối với những người đeo bám khiếu kiện dai dẳng, tập trung đông người trước các trụ sở cơ quan huyện, xã, gây mất trật tự an ninh trên địa bàn. * Nguyên nhân chủ quan: Một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể trên địa bàn huyện chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm trong việc tiếp dân và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Một số cơ quan chính quyền địa phương còn buông lỏng quản lý để một bộ phận cán bộ vi phạm các quy định quản lý tài chính đất đai, xây dựng không xử lý kịp thời gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Một số cán bộ yếu về năng lực, phẩm chất bị thoái hoá lợi dụng chức vụ quyền hạn tham ô, tham nhũng chuộc lợi. Nhiều vụ việc tồn đọng không được giải quyết, xử lý gây nhiều mâu thuẫn trong nhân dân. Trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, một số đơn vị cơ sở còn thiếu dân chủ, duy ý chí, áp đặt mệnh lệnh, chưa lắng nghe ý kiến của dân, ngại khổ, ngại đối thoại trực tiếp với dân để vụ việc kéo dài. Khi đã có kết luận thì xử lý thiếu kiên quyết cán bộ sai phạm, có trường hợp còn bao che, dung túng gây bức xúc cho nhân dân. Trong chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa coi trọng biện pháp giáo dục, thuyết phục, hoà giải để giải quyết ngay ở cơ sở, có trường hợp vụ việc lúc đầu đơn giản sau đó trở thành phức tạp. Một số vụ việc quan điểm giải quyết không đồng nhất giữa các cấp dẫn đến giải quyết không dứt điểm. 8 Việc xử lý đối với một số phần tử lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo có những hành vi thiếu văn hoá, lăng mạ cán bộ tiếp dân, gây mất trật tự nơi công cộng. Tình trạng một số công dân đến nhà các đồng chí lãnh đạo để khiếu kiện chưa được ngăn chặn, một số cơ quan vẫn chuyển đơn lòng vòng, chuyển cả đơn tố cáo nạc danh yêu cầu giải quyết. Ngoài ra còn do trình độ nhận thức, trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân còn thiếu hiểu biết. Trình độ đội ngũ cán bộ công chức còn hạn chế nên việc giải quyết khiếu nại, tố cáo không được giải quyết triệt để. 2. Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện trong thời gian qua. Nhận thức rõ được vai trò quan trọng trong công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, Huyện uỷ, HĐND - UBND huyện đã quan tâm chỉ đạo các cấp, các ngành, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện triển khai và thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo giải quyết dứt điểm các vụ việc, không để phát sinh thành các điểm nóng ảnh hưởng đến tình hình chung của huyện, phục vụ tốt cho việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện. Thực hiện các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo và Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07/8/1999 Nghị định số 53/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và Chỉ thị 04/CT- TU ngày 16/7/2001 của Tỉnh uỷ Nghệ An. Huyện uỷ, UBND huyện đã chỉ đạo các xã, thị trấn, các đơn vị trên địa bàn huyện tăng cường công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật. a. Công tác tiếp dân. Tiếp công dân là giai đoạn đầu quan trọng của quá trình xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tiếp công dân để trực tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo những kiến nghị, phản ánh; đồng thời thông qua đó, cơ quan Nhà nước nắm được việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của 9 Nhà nước, công tác quản lý, tình hình cán bộ, phát hiện những sơ hở, yếu kém trong quá trình hoạt động của cơ quan Nhà nước, từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời. Chính vì vậy, cho đến nay tại trụ sở của Huyện uỷ, UBND huyện, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đều đã bố trí được phòng tiếp dân. Phòng tiếp công dân của các đơn vị trên địa bàn huyện được bố trí ở nơi thuận tiện. Trong phòng tiếp dân có sổ sách ghi chép theo dõi việc tiếp công dân, có nội qui công tác tiếp công dân, quy định rõ trách nhiệm của cán bộ làm công tác tiếp dân, trách nhiệm nghĩa vụ của công dân khi đến phòng tiếp dân. Phòng tiếp dân có đầy đủ các tiện nghi cần thiết như bàn, ghế, sổ sách… Việc tiếp dân được bố trí tất cả các buổi làm việc trong tuần. UBND huyện giao cho Văn phòng HĐND - UBND huyện trực tiếp thực hiện công tác tiếp dân. Hàng tuần các đồng chí lãnh đạo UBND huyện đều bố trí lịch để tiếp công dân. Ngoài việc bố trí lịch tiếp công dân theo quy định, những trường hợp đặc biệt khi có yêu cầu, các đồng chí lãnh đạo đều trực tiếp tiếp công dân. Ngoài việc bố trí tiếp công dân tại trụ sở, trong những năm qua trên địa bàn huyện xảy ra một số vụ việc phức tạp như: Việc thanh toán đền bù giải phóng mặt bằng, các đồng chí lãnh đạo huyện uỷ UBND huyện đã về trực tiếp tiếp công dân ở các đơn vị cơ sở, đối thoại cùng công dân và cán bộ cơ sở để cùng bàn biện pháp giải quyết những vướng mắc, bức xúc của nhân dân. b. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là trách nhiệm quan trọng của cơ quan hành chính Nhà nước các cấp và là nội dung trọng tâm cơ bản của Luật Khiếu nại, tố cáo. Chính vì vậy mà công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn luôn luôn được sự quan tâm chỉ đạo của Huyện uỷ và UBND huyện. Trong quá trình xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo, UBND các xã, thị trấn cùng với UBND huyện ngoài việc thực hiện giải quyết đúng thẩm quyền, 10 còn phải tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong đó còn phải thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu, lần tiếp theo, lần cuối cùng. Việc bảo đảm đúng thời hạn giải quyết, việc phân loại xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo việc xử lý đơn tố cáo nạc danh, việc xây dựng hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo, ra quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đều được các cơ quan trên địa bàn huyện thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Đối với đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của UBND huyện thì toàn bộ đơn thư tố cáo mà UBND huyện nhận được đều được chuyển đến Thanh tra huyện để tổng hợp phân loại và đề xuất biện pháp xử lý. Căn cứ vào nội dung của đơn thư, đơn có nội dung liên quan đến công tác quản lý ban ngành nào thì tham mưu để UBND huyện giao cho ban ngành đó kiểm tra xem xét, kết luận, kiến nghị việc giải quyết hoặc uỷ quyền cho Chánh thanh tra huyện ra quyết định giải quyết. Đối với đơn khiếu nại, tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện thì Thanh tra huyện hướng dẫn nguyên đơn gửi đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền để giải quyết. c. Những ưu, khuyết điểm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn trong thời gian qua. * Những ưu điểm: - Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn đã có sự quan tâm giúp đỡ về chuyên môn nghiệp vụ của thanh tra tỉnh, và sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo của huyện uỷ, HĐND - UBND huyện cùng với sự cố gắng nhiệt tình và trách nhiệm của các cơ quan chức năng, UBND các xã, thị trấn cùng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo mà trên địa bàn huyện không còn tình trạng đơn thư tồn đọng kéo dài, vượt cấp góp phần không để các vụ khiếu kiện đông người xảy ra trên địa bàn huyện. 11 - Toàn bộ đơn thư khiếu nại, tố cáo mà UBND các xã, thị trấn, UBND huyện và các phòng ban chức năng của huyện nhận được đều đã được xem xét, giải quyết đạt tỷ lệ trên 94%. - Số đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện sau khi nghiên cứu kỹ nội dung và căn cứ vào tình hình thực tế của các vụ việc. Thanh tra huyện tham mưu, đề xuất với UBND huyện biện pháp giải quyết. Vụ việc liên quan đến vấn đề nào, lĩnh vực nào của ngành nào, phòng ban chuyên môn nào quản lý thì giao cho phòng ban đó, ngành đó trực tiếp giải quyết có như vậy việc giải quyết mới nhanh chóng, hiệu quả chính vì những phòng ban đó, ngành đó mới nắm rõ về bản chất sự việc. Nếu sự việc nào quá phức tạp, khó giải quyết, UBND huyện triệu tập họp các phòng ban bàn biện pháp giải quyết, có những vụ việc tình hình căng thẳng, bức xúc, lãnh đạo UBND huyện đứng ra trực tiếp lãnh đạo giải quyết với dân. * Một số tồn tại: Ngoài những mặt đã làm được như trên trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn thì trên địa bàn huyện vẫn còn một số tồn tại trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cần được khắc phục đó là: - Các cấp, các ngành chưa thật quan tâm đầy đủ đến công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, vì vậy công tác tiếp dân ở một số nơi còn mang tính hình thức, thiếu nghiêm túc, cán bộ lãnh đạo cơ quan, đơn vị không thực hiện tiếp dân theo định kỳ, né tránh đối thoại trực tiếp với dân hoặc hứa hẹn với dân nhưng không giải quyết. - Các cơ quan có nhiệm vụ tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trách nhiệm chưa cao, nhiều vụ giải quyết không thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Trong quá trình xem xét, xác minh, kết luận còn có hiện tượng chủ quan, đơn giản, kết luận thiếu chính xác, thiếu khách quan, để tồn đọng kéo dài gây bức xúc cho người khiếu kiện. - Nhiều kết luận, quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có hiệu lực pháp luật, nhiều vụ việc đã có văn bản chỉ đạo của cơ quan cấp trên để giải 12 quyết, xử lý nhưng không được các cấp, các ngành tổ chức thực hiện nghiêm túc, đùn đẩy trách nhiệm, chậm khắc phục quyền lợi hợp pháp của người khiếu kiện, dẫn đến vụ việc không được giải quyết dứt điểm. Đây là tồn tại lớn nhất trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay và là một trong những nguyên nhân để công dân khiếu kiện gay gắt hơn. - Việc phối kết hợp giữa các cấp, các ngành trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chưa tốt như việc cung cấp hồ sơ tài liệu, tình hình cử người tham gia, phối hợp chậm… gây khó khăn trong việc xem xét, kết luận. - Đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân nhất là cơ sở nhiều cán bộ còn bất cập về trình độ chuyên môn, năng lực công tác, thiếu am hiểu về chính sách pháp luật, thiếu kinh nghiệm nên chất lượng các vụ giải quyết còn thấp. - Một số công dân thiếu hiểu biết, khiếu kiện không đúng pháp luật, có nhiều trường hợp khiếu kiện đã được giải quyết thoả đáng, giành nhiều quyền lợi và hỗ trợ hết mức đối với họ nhưng vẫn không chấp nhận, cay cú được thua, cố tình khiếu kiện gay gắt. Một số trường hợp lợi dụng dân chủ, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu cáo người khác, có hành động quá khích, lăng mạ cán bộ, gây rồi nơi công sở… nhưng chưa có biện pháp xử lý nghiêm khắc. 3. Từ thực tiễn giải quyết khiếu nại, tố cáo ở huyện Nam Đàn cho thấy. a. Vai trò của cấp cơ sở (cấp xã). Trên thực tế, đa số các khiếu nại, tố cáo của công dân phát sinh ở địa phương, ở cơ sở đặc biệt là cấp xã. Chính vì vậy, UBND cấp xã có trách nhiệm rất lớn trong công tác này. Các khiếu nại, tố cáo khi mới phát sinh tại cơ sở phải được giải quyết kịp thời, dứt điểm, đúng pháp luật. Khi có khiếu nại, tố cáo phát sinh mà giải quyết kịp thời đúng pháp luật sẽ sớm chấm dứt vụ việc, ngược lại nếu không giải quyết ngay, hoặc không giải quyết đúng vụ việc sẽ trở nên phức tạp. Nếu cấp cơ sở không giải quyết hoặc giải quyết không thấu tình đạt lý, người dân sẽ khiếu kiện nên cấp trên, khi đó vụ việc sẽ 13 trở nên căng thẳng, phức tạp, khó giải quyết, vừa gây
Luận văn liên quan