Tiểu luận Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty vedan

Ngoại tác là một trong các nguyên nhân quan trọng gây nên các khuyết tật của thị trường. Khi có các n goại tác thì giá hàng hoá không nhất thiết phản ánh đúng giá trị xã hội của nó. Do đó các hãng có thể sản xuất quá nhiều hoặc quá ít. Vì thế kết cục tạo ra là phi hiệu quả. Để tìm hiểu ảnh hưởng của ngoại tác đến thị trường như thế nào, nhóm trình bày xin chọn đề tài: “PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, TÁC ĐỘNG CỦA NGOẠI TÁC TIÊU CỰC VÀ TRƯỜNG HỢP CÔNG TY VEDAN”. Bài làm gồm ba phần như s au: CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ NGOẠI TÁC VÀ NGOẠI TÁC TIÊU CỰC CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TRƯỜNG HỢP CÔNG TY VEDAN GÂY Ô NHIỄM SÔNG THỊ VẢI CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NGOẠI TÁC TIÊU CỰC DO VEDAN GÂY RA VÀ CÁC KIẾN NGHỊ Hy vọng bài viết mang lại những kiến thức cơ bản cho người đọc về ngoại tác và những ảnh hưởng của ngoại tác đến đời sống xã hội.

pdf22 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 16/08/2014 | Lượt xem: 5210 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty vedan, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan Tiểu luận PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, TÁC ĐỘNG CỦA NGOẠI TÁC TIÊU CỰC VÀ TRƯỜNG HỢP CÔNG TY VEDAN 1 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan LỜI MỞ ĐẦU Ngoại tác là một trong các nguyên nhân quan trọng gây nên các khuyết tật của thị trường. Khi có các ngoại tác thì giá hàng hoá không nhất thiết phản ánh đúng giá trị xã hội của nó. Do đó các hãng có thể sản xuất quá nhiều hoặc quá ít. Vì thế kết cục tạo ra là phi hiệu quả. Để tìm hiểu ảnh hưởng của ngoại tác đến thị trường như thế nào, nhóm trình bày xin chọn đề tài: “PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, TÁC ĐỘNG CỦA NGOẠI TÁC TIÊU CỰC VÀ TRƯỜNG HỢP CÔNG TY VEDAN”. Bài làm gồm ba phần như sau: CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ NGOẠI TÁC VÀ NGOẠI TÁC TIÊU CỰC CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TRƯỜNG HỢP CÔNG TY VEDAN GÂY Ô NHIỄM SÔNG THỊ VẢI CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NGOẠI TÁC TIÊU CỰC DO VEDAN GÂY RA VÀ CÁC KIẾN NGHỊ Hy vọng bài viết mang lại những kiến thức cơ bản cho người đọc về ngoại tác và những ảnh hưởng của ngoại tác đến đời sống xã hội. 2 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ NGOẠI TÁC VÀ NGOẠI TÁC TIÊU CỰC. 1. Khái niệm: Ngoại tác là những lợi ích hay chi phí ảnh hưởng ra bên ngoài không được phản ánh qua giá cả. 2. Đặc điểm: Ngoại tác xuất hiện khi sản xuất hay t iêu dùng của cá nhân (nhóm cá nhân) này ảnh hưởng đến sản xuất hoặc tiêu dùng của cá nhân (nhóm cá nhân) khác và không có sự đền bù hay thanh toán nào được thực hiện bởi cá nhân gây ảnh hưởng. Kết quả này tồn tại ngoài giao dịch thị trường và có thể là một lợi ích bên ngoài hay chi phí bên ngoài (ngoại phí). Trong các trường hợp này, ngoại tác làm biến đổi lợi ích ròng xã hội. Các ngoại tác ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế dẫn đến các chênh lệch giữa chi phí hay lợi ích của cá nhân và xã hội bởi vì ngoại tác không phản ánh trong thị trường giá hàng hóa, không nhất thiết phản ánh đúng giá trị xã hội của nó. Do đó sự điều tiết của thị trường đã dẫn đến hoặc sản xuất quá nhiều hoặc sản xuất quá ít so với nhu cầu của xã hội, gây ra chi phí ngoài trong khi giá thị trường không phản ánh được tất cả các chi phí sản xuất ra nó thì diễn ra sự thất bại trên thị trường. 3. Phân loại: 3.1. Ngoại tác tiêu cực và tính không hiệu quả của tác động ngoại tác tiêu cực 3.1.1. Định nghĩa: Ngoại tác tiêu cực là ngoại tác khi hành động của bên này gây ra chi phí cho bên kia. N goại tác tiêu cực có tác động xấu đến đối tượng chịu tác động. Ví dụ: Các ngoại tác tiêu cực có thể xảy ra khi một nhà máy luyện kim thải chất thải của mình xuống dòng sông mà ngư dân ở hạ lưu dựa vào đó để kiếm sống hằng ngày. Nhà máy luyện kim thải càng nhiều chất thải thì cá đánh được sẽ càng ít. Nhưng hãng không có động cơ tính đến các chi phí ngoại sinh gây ra đối với những người ngư dân khi ra quyết định sản xuất của mình. 3.1.2. Tính không hiệu quả của tác động ngoại tác tiêu cực Vì các ngoại tác không được phản ánh trong giá thị trường nên chúng có thể là 3 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan nguyên nhân gây ra tính phi hiệu quả kinh tế. Hình 1: Tác động của ngoại tác tiêu cực. Khi có các ngoại tác tiêu cực, chi phí xã hội biên M SC cao hơn chi phí tư nhân MC. Chênh lệch đó gọi là chi phí ngoại sinh biên M EC. Trong trường hợp này, hãng sẽ tối đa hóa lợi nhuận khi sản xuất ở sản lượng Q1 khi giá bằng chi phí biên MC. Lượng sản xuất hiệu quả xã hội là Q*, tại đó giá cả bằng MSC. Giá thép là P1, tại giao điểm giữa đường cung và đường cầu. Đường M C là chi phí sản xuất biên của một hãng điển hình. Khi sản lượng của hãng thay đổi thì chi phí ngoại sinh gây ra cho ngư dân ở hạ lưu cũng thay đổi. Chi phí ngoại sinh này được biểu thị bằng đường MEC. Đường này thường dốc lên đối với hầu hết các dạng ô nhiễm vì khi hãng sản xuất thêm sản lượng và xả thêm chất thải xuống sông thì những thiệt hại tăng thêm đối với ngành đánh cá, nuôi trồng cũng tăng lên.Trên quan điểm của xã hội, hãng đang sản xuất quá nhiều. Sản lượng hiệu quả là mức mà ở đó giá bằng chi phí xã hội biên của sản xuất – chi phí biên của sản xuất cộng với chi phí ngoại sinh biên của việc xả thải. Trên đồ thị đường chi phí xã hội biên được xác định bằng cách cộng chi phí biên và chi phí ngoại sinh biên tại mỗi mức sản lượng: M SC = MC + MEC. Đường chi phí xã hội biên cắt đường giá ở mức sản lượng là Q*. 4 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan Trên đồ thị ta thấy, mức sản lượng hiểu quả của ngành là mức mà ở đó lợi ích biên của mỗi đơn vị sản lượng tăng thêm bằng chi phí xã hội biên. Vì đường cầu biểu thị lợi ích biên của người tiêu dùng, nên sản lượng hiệu quả là Q *, đạt tại điểm giao nhau giữa đường chi phí xã hội biên MSC và đường cầu D. Nhưng mức sản lượng cạnh tranh của ngành là ở Q1, đạt tại giao điểm của đường cầu và đư ờng cung MC. Rõ ràng sản lượng của hãng (ngành) là quá cao. Khi sản xuất, mỗi đơn vị sản lượng sẽ gây ra một lượng chất thải nhất định cần xả ra.Vì thế, dù chúng ta xem xét ô nhiễm của bất kì hãng hay ngành nào thì tính phi hiệu quả kinh tế vẫn là tình trạng sản xuất quá mức gây ra nhiều chất thải xả xuống sông. Nguy ên nhân của tính phi hiệu quả là do việc định giá sản phẩm không chính xác. Giá của sản phẩm trên là quá thấp – nó phản ánh chi phí tư nhân biên của việc sản xuất của hãng, chứ không phải là chi phí xã hội biên. Chỉ ở mức giá P* cao hơn thì hang (ngành) sẽ sản xuất mức sản lượng hiệu quả. Cái giá phải trả đối với xã hội khi sản xuất quá mức: với mỗi đơn vị sản xuất cao hơn Q* cái giá đối với xã hội là chênh lệch giữa chi phí xã hội biên và lợi ích biên. Nhận xét: Khi có ngoại tác tíêu cực đã dẫn đến tình trạng: (1) Hiệu quả thị trường duy trì vượt quá hiệu quả xã hội mong muốn do chi phí biên thị trường khác với chi phí xã hội vì có ngoại tác tiêu cực sinh ra chi phí biên ngoại tác. (2) Sản lượng thị trường vượt quá sản lượng đòi hỏi và giá cả thị trường thấp hơn giá cả xã hội. (3) Trong khi chưa có biện pháp can thiệp thích hợp thì thị trường có khuynh hướng sản xuất vượt quá hiệu quả chung của xã hội đòi hỏi. Điều đó gây ra tổn thất kinh tế do thị trường sản xuất vượt quá hiệu quả chung của xã hội. 3.2. Ngoại tác tích cực và tính không hiệu quả của ngoại tác tích cực: 3.2.1. Định nghĩa: Ngoại tác tích cực là là ngoại tác khi hành động của bên này đem lại lợi ích cho bên kia. N goại tác tích cực có tác động tốt đến đối tượng chịu tác động. Ví dụ: Giả sử trong ngành lâm nghiệp, rừng được trồng với mục đích chính là kinh 5 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan doanh gỗ. Tuy vậy việc có rừng lại tạo ra rất nhiều lợi ích khác cho xã hội như cải thiện khí hậu, hạn chế xói mòn, rửa trôi đất, bảo vệ đa dạng sinh học…. nhờ đó có thể cải thiện mùa màng làm tăng thu nhập người nông dân. 3.2.2. Tính không hiệu quả của tác động ngoại tác tích cực: Khi có ngoại tác tiêu cực đã dẫn đến tình trạng: (1) Hiệu quả thị trường duy trì dưới mức hiệu quả xã hội mong muốn do lợi ích biên thị trường khác với lợi ích biên xã hội vì có ngoại ứng tích cực sinh ra lợi ích biên ngoại ứng. (2) Sản lượng thị trường dưới mức sản lượng đòi hỏi và giá cả thị trường cao hơn giá cả xã hội. (3) Trong khi chưa có biện pháp can thiệp thích hợp thì thị trường có khuynh hướng sản xuất dưới mức hiệu quả chung của xã hội đòi hỏi. Điều đó gây ra tổn thất kinh tế do thị trường sản xuất dưới mức hiệu quả chung của xã hội. 4. Giải pháp khắc phục ngoại tác: 4.1. Nhóm giải pháp tư nhân: 4.1.1. Quyền về tài sản: Quyền về tài sản là các quy định pháp lý mô tả cái mà mọi người hoặc các hãng được quy ền làm với tài sản của họ. Giả định rằng công ty có quy ền sử dụng con sông để đổ rác thải, còn ngư dân thì không có quyền tài sản đối với nguồn nước được “tự do gây ô nhiễm”. Do đó, công ty không có động cơ đưa chi phí chất thải vào trong những tính toán sản lượng của mình. Nói cách khác, công ty đã ngoại hóa chi phí phát sinh từ việc xả thải. Giả sử ngư dân sở hữu dòng sông, nghĩa là có quyền tài sản đối với nước sạch. Khi đó, họ có thể yêu cầu công ty trả tiền để được thải rác. Công ty phải ngừng sản xuất hoặc là chấp nhận trả chi phí do đổ rác. Các chi phí này sẽ được nội hóa và sẽ đạt được sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực. 4.1.2. Thương lượng và hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế có thể đạt được mà không cần sự can thiệp của chính phủ khi các ngoại tác ảnh hưởng đến một số ít bên và khi quyền về tài sản được xác định rõ. 6 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan Ví dụ: giả sử rằng chất thải của nhà máy luyện kim làm giảm lợi nhuận của ngư dân. Nhà máy có thể lắp đặt một hệ thống lọc để giảm chất thải của mình, hoặc ngư dân có thể trả tiền để lắp đặt nhà máy xử lý nước. 4.1.3. Thương lượng tốn kém – vai trò của hành vi chiến lược: Việc thương lượng có thể tốn thời gian và tiền bạc, đặc biệt là khi quyền về tài sản không được xác định rõ. Khi đó, không bên nào có thể biết chắc sẽ vất vả ra sao để đưa bên kia đến chỗ chấp nhận một giải pháp chung. Việc thương lượng cũng có thể thất bại khi việc thông tin và giám sát là tốn kém, nếu cả hai bên tin rằng họ có thể đạt được cái lợi lớn hơn. Bên nào cũng đòi phần hơn và từ chối thương lượng, nghĩ một cách sai lầm rằng bên kia thế nào cũng sẽ phải chấp nhận. Hành vi chiến lược này có thể dẫn đến một kết quả bất hợp tác và phi hiệu quả. 4.1.4. Giải pháp pháp lý – khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại: Trong nhiều tình huống có các ngoại tác, một bên bị hại do bên kia gây ra có quyền tố tụng hợp pháp. Nếu thành công, bên nguyên có thể được bồi thường thiệt hại bằng tiền đúng bằng mức thiệt hại đã phải gánh chịu. Việc khiếu kiện đòi bồi thường thiệt hại khác với phí xả thải vì bên bị hại, chứ không phải chính phủ, sẽ được trả tiền. Định lý Coase Khi các bên có thể thương lượng mà không tốn kém và vì lợi ích chung của cả hai, kết cục được tạo ra sẽ là hiệu quả, bất kể quyền về tài sản được xác định như thế nào.  Nhóm giải pháp tư nhân có thể bị thất bại các n hóm giải pháp tư nhân không có tính ràng buộc mà tùy thuộc vào thiện chí thực hiện của các bên nên khi có một bên không có thiện chí thực hiện sẽ dẫn đến thất bại của nhóm giả pháp này. Chính vì vậy trong một số trường hợp cần phải có sự can thiệp của Chính Phủ 4.2. Nhóm giải pháp của Chính Phủ: 4.2.1. Nhóm giải pháp hành chính pháp lý: - Chính Phủ có thể đề ra các quy định nhằm ngăn cấm hoặc hạn chế một hành 7 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan động nào đó bằng các hệ thống luật và các văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết thi hành luật pháp. Cụ thể như tiêu chuẩn về phát thải TCVN 5945 – 2005 mà công ty Vedan áp dụng (sẽ được trình bày trong phần chương II về thực tiễn ngoại tác tiêu cực trường hợp công ty Vedan) - Chính Phủ sẽ áp dụng biện pháp này khi cho rằng ngoại tác tiêu cực là lớn hơn rất nhiều so với lợi ích của người gây ra ngoại tác. Tuy nhiên việc ngăn cấm là không hề đơn giản trên thực tế. Chẳng hạn không thể ngăn cấm các phương tiện giao thông mặc dù tất cả chúng đều gây ô nhiễm. 4.2.2. Nhóm các biện pháp kinh tế: 4.2.2.1. Tác động của thuế và trợ cấp: * Tác động của thuế: MSC = MPC + thueá treân ñôn vò MSB MSB=D MSC MPC=S Thueá treân ñôn vò = MEC P* P Q* Q Saûn xuaát theùp Trên đồ thị ta thấy, mức sản lượng hiểu quả của ngành là Q*, đạt tại điểm giao nhau giữa đường chi phí xã hội biên MSC và đường cầu D. Nhưng mức sản lượng cạnh tranh của ngành là ở Q1, đạt tại giao điểm của đường cầu và đường cung MC. Rõ ràng sản lượng của hãng (ngành) là quá cao. => Chính vì vậy, Chính Phủ sẽ đánh thuế với mức thuế đúng bằng lợi ích ngoại sinh biên MEB để hãng (ngành) sẽ sản xuất mức sản lượng hiệu quả Q*. 8 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan Từ đây, ta thấy được tác động của thuế có những lợi ích về việc khắc phục các ngoại tác tiêu cực như sau: - Tăng giá thép và giảm sản lượng xuống đến mức hiệu quả - Giảm nhưng không xóa bỏ ô nhiễm do sản xuất thép gây ra - Lợi về hiệu quả cho xã hoi với giả định rằng mức thuế đươc định đúng - Lợi về công bằng cho những người sống gần nhà máy thép. * Tác động của trợ cấp: Tương tự đối với tác động của thuế, tác động của trợ cấp có ý nghĩa ngược lại giúp giảm giá và tăng sản lượng đến mức hiệu quả có ý nghĩa đối với ngoại tác tích cực (Phần này nhóm trình bày không đi sâu phân tích do đề tài nhóm chọn là phân tích tác động của ngoại tác tiêu cực) 4.2.2.2. Chuẩn thải (định mức thải): Ñoâ la treân MSC M öùc chuaån Phí 3 MCA E* 12 M öùc Chuẩn thải là giới hạn hợp pháp về mức thải mà hãng được phép thaûi xả ra. Nếu hãng xả quá giới hạn thì có thể bị phạt tiền, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự, ở hình trên chuẩn thải hiệu quả là 12 đơn vị ở điểm E*. Hãng sẽ bị phạt nặng nếu xả thải lớn h ơn mức này. Chuẩn thải đảm bảo rằng hãng sản xuất đạt hiệu quả. Hãng chấp hành chuẩn thải bằng việc lấp đặt thiết bị giảm thải. Chi phi giảm thải tăng lên sẽ là cho đường chi 9 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan phí trung bình của hãng tăng lên (tăng 1 mức bằn g chi phí giảm thải trung bình). Các h ãng sẽ cảm thấy có lợi khi gia nhập ngành nếu giá sản phẩm lớn hơn chi phí sản xuất trung bình cộng thêm chi p hí giảm t hải – đó chính là điều kiện hiệu quả đối với ngành. 4.2.2.3. Phí xả thải: Phí xả thải là phí sẽ thu trên mỗi đơn vị chất th ải mà hãng xả ra. Phí xả thải 3$ sẽ tạo ra hành vi hiệu quả của hãng. Với mức phí này, hãng tối thiểu hóa chi phí bằng việc giảm thải từ 26 xuống 12 đơn v ị. Để thấy tại sao, lưu ý rằng đơn vị thứ 1 có thể giảm từ 26 xuống 25 đơn v ị chất thải với chi phí r ất thấp (chi phí biên của việc giảm thải thêm gần như bằng 0). Vì thế hãng có th ể tránh không phải trả mức phí 3$ /1 đơn vị mà kh ông tốn kém mấy. Thực tế, với tất cả các mức thải lớn hơn 12 đơn v ị, chi phí giảm thải biên đều nhỏ h ơn mức phí xả thải, do đó đáng để hãng xả thải. Nhưng với mức thải thấp hơn 12 đơn vị, chi phí giảm thải biên lớn hơn mức phí xả thải, do đó hãng sẽ thích trả phí hơn là tiếp tục giảm thải. Vì thế, tổng phí mà hãng phải trả là diện tích hình chữ nhật hình nằm d ưới đường MAC và bên phải mức E = 1 2. Chi phí này ít hơn mức phí mà hãng phải trả, nếu không giảm thải 1 chút nào. 4.2.2.4. Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng: 10 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan Giả sử rằng chúng ta muốn giảm thải nhưng vì nhiều cái không chắc chắn nên chúng ta không muốn đưa vào phí xả th ải. Chúng ta cũn g m uốn tránh việc áp đặt chi phí cao cho các hãng giảm thải n hiều nhất. Có th ể đạt được các mục tiêu này bằng cách sử dụng giấy phép chất thải chuyển nhượng được. Theo cách này, mỗi hãng phải có giấy phép nếu muốn xả thải, mỗi giấy phép quy định chính xác lượng chất thải mà hãng được phép xả ra. Hãng nào xả thải mà không được ch o phép bằng giấy phép thì sẽ bị phạt tiền nặng. Các giấy phép được phân bổ giữa các hãng, số giấy phép được xác định để đạt được mức xả thải tối đa hiệu quả, các giấy phép này có thể chuyển nhượng được tức là có thể mua bán trên thị trường. Trong hệ thống giấy phép xả thải chuyển nhượng được, các hãng ít có khả năng giảm thải nhất sẽ phải mua giấy phép. Như vậy giả sử 2 hãng ở hình trên được cấp giấy phép xả thải tối đa là 7 đơn vị. Hãng 1 với chi phí giảm thải biên tư ơng đối cao, sẽ trả đến tận 3,75$ để mua giấy phép xả 1 đơn v ị chất thải, nhưng giá trị giấy phép đó đối với hãng 2 là 2,5$. Vì thế hãng 2 sẽ bán giấy phép của mình cho hãng 1 với giá trong khoảng 2,5$ tới 3,75$. Nếu có đủ các hãng và các giấy phép th ì 1 thị trường cạnh tranh về giấy phép sẽ được hình thành. Ở điểm cân bằng thị trường, giá của giấy phép bằng chi phí giảm thải biên của tất các các hãng; nếu không hãng sẽ thấy mua thêm giấy phép có lợi hơn. Mức thải chính phủ chọ n sẽ đạt được với mức chi phí thấp nhất. Các hãng có các đường giảm thải chi phí biên tương đối thấp sẽ giảm thải nhiều nhất và những hãng có các đư ờng chi phí giảm thải biên tương đối cao sẽ mua thêm giấy phép và giảm thải ít nhất. Các giấy phép xả thải chuyển nhượng được đã tạo ra một thị trường cho các ngoại tác. Cách tiếp cận kiểu thị trường này rất hấp dẫn vì nó kết hợp những ưu điểm của hệ thống chuẩn thải với những lợi thế chi phí của hệ thống phí xã thải. Cơ quan điều hành hệ thống này xác định tổng số giấy phép và như thế xác định tổ ng mức thải, giống như hệ thống chuẩn thải đã làm. Nhưng khả năng mua bán giấy phép xã thải cho phép việc giảm thải có thể đ ạt đ ược với chi phí thấp nhất, giống như hệ thống phí. 11 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TRƯỜNG HỢP CÔNG TY VED AN GÂY Ô NHIỄM SÔNG THỊ VẢI 1. Giới thiệu về Vedan. Công Ty Cổ Phần Hữu Hạn Vedan Việt Nam (Vedan Việt Nam) được thành lập từ năm 1991 tại xã Phước Thái, huy ện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, cách thành phố lớn nhất của Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh về phía Đông khoảng 70 Km, trên một diện đất rộng 120ha, là một khu công nghiệp tổng hợp chế biến thực phẩm và công nghệ sinh học hiện đại, hiện đã đưa vào hoạt động sản xuất, sử dụng các công trình bao gồm: Nhà máy tinh bột nước đường, Nhà máy bột ngọt, Nhà máy tinh bột biến đổi, Nhà máy Xút-axít, Nhà máy Lysine, Nhà máy phát điện có trích hơi, Nhà máy PGA, Nhà máy phân bón hữu cơ khoáng Vedagro dạng viên, Hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ tiên tiến, Cảng chuyên dùng Phước Thái Vedan, các trục đường bê tông nhựa chuyên dùng, và các công trình, cơ sở hạ tầng tại các khu vực hành chính, phúc lợi nhân viên, khu vui chơi giải trí… Từ khi thành lập tại xã Phước Thái – Long Thành – Đồng Nai, cho đến nay, Công ty Vedan Việt Nam đã mở rộng đầu tư phát triển mở rộng các cơ sở chi nhánh tại các tỉnh thành trong cả nước như: có 04 đơn vị chi nhánh tại Hà Nội, Phước Long (Bình Phước), Bình Thuận, Hà Tĩnh, và 02 công ty con là Công ty TNHH ORSAN Việt Nam tại TP. Hồ Chí M inh và Công ty TNHH VEYU tại tỉnh Gia Lai. Trong quá trình mở rộng quy mô đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, Vedan Việt Nam cũng đã tạo dựng một loạt hệ thống đại lý và các kênh phân phối tiêu thụ trên cả nước. Trên thị trường quốc tế, Vedan Việt Nam là nhà sản xuất tiên tiến hàng đầu tại khu vực Châu Á trong lĩnh vực sử dụng công nghệ sinh học, công nghệ lên men sản xuất ra các sản phẩm Axít Amin, chất điều vị thực phẩm, tinh bột, tinh bột biến đổi, chất phụ gia thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm cung ứng cho các ngành công nghiệp khác. Sản phẩm của Vedan Việt Nam được tiêu thụ tại Việt Nam và xuất khẩu cho các nhà phân phối thực phẩm, công ty thương mại quốc tế, các ngành công nghiệp thực phẩm, sản xuất giấy, dệt may, hóa chất tại thị trường các quốc gia như: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, các nước Đông 12 Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan Nam Á, và các nước tại Châu Âu. Phần lớn sản phẩm của Công ty đều lấy thương hiệu “VEDAN”. Về mặt lợi thế cạnh tranh, từ Khi mới thành lập, do việc cung cấp điện năng của Việt Nam chưa đáp ứng hết nhu cầu sử dụng cho sản xuất, công ty Vedan đã phát triển hệ thống phát điện trích hơi, là xu thế phát triển năng lượng của thế giới. Nhờ có Nhà máy phát điện, nên Công ty Vedan Việt Nam không những ổn định được lượng điện năng cho sản xuất, mà nguồn điện khi không sử dụng h
Luận văn liên quan