Tiểu luận Tài nguyên rừng, nạn phá rừng và hậu quả của nó

+ Tính đến hết ngày 31/12/2015, Việt Nam có diện tích 14.061.856 ha rừng trong đó rừng tự nhiên 10.175.519 ha và rừng trồng 3.886.337 ha. Phân theo cơ cấu loài cây thì diện tích cây lâm nghiệp 13.613.056 ha (độ che phủ 39,5 %), diện tích trồng cây lâu năm trồng trên đất lâm nghiệp 448.800 ha (độ che phủ 1,34 %).Diện tích rừng để tính độ che phủ toàn quốc 13.520.984 ha với độ che phủ là 40,84%.Về tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu với diện tích tự nhiên 198.864 ha thì diện tích có rừng 25.350ha trong đó rừng tự nhiên 14161ha và rừng trồng 11.189ha, đạt tỉ lệ che phủ 12,5%

pptx42 trang | Chia sẻ: thanhlinh222 | Ngày: 07/03/2018 | Lượt xem: 2889 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tiểu luận Tài nguyên rừng, nạn phá rừng và hậu quả của nó, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ BỘ MÔN KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNGBÀI THẢO LUẬNTÀI NGUYÊN RỪNG, NẠN PHÁ RỪNG VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ NỘI DUNG1. Tài nguyên rừng 1.1. Hiện trạng rừngDiện tích rừng ở Việt Nam so với đất tự nhiên (theo Maurand 1945)STTKhu vựcDiện tích đất tự nhiên (1000ha)Diện tích rừng (1000ha)Tỷ lệ % rừng /đất tự nhiên1Bắc Bộ11570695560,02Trung Bộ14754658044,63Nam Bộ647081713,04Cả nước327941435243,8Diễn biến về diện tích rừng ở Việt Nam (đvt: 1.000.000ha) Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tính đến tháng 12 năm 2003 Năm194519761980198519901995199920022004Tổng dtich (ha)14,3011.1610,609,899,179,3010,9911,7812,30Rừng trồng (ha)0,000,010,420,580,741,051,521,912,21Rừng tự nhiên (ha)14,3011,0710,189,308,438,259,479,8610,89Độ che phủ (%)43,0033,8032,1030,0027,8028,2033,2035,836,7+ Tính đến hết ngày 31/12/2015, Việt Nam có diện tích 14.061.856 ha rừng trong đó rừng tự nhiên 10.175.519 ha và rừng trồng 3.886.337 ha. Phân theo cơ cấu loài cây thì diện tích cây lâm nghiệp 13.613.056 ha (độ che phủ 39,5 %), diện tích trồng cây lâu năm trồng trên đất lâm nghiệp 448.800 ha (độ che phủ 1,34 %).Diện tích rừng để tính độ che phủ toàn quốc 13.520.984 ha với độ che phủ là 40,84%.Về tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu với diện tích tự nhiên 198.864 ha thì diện tích có rừng 25.350ha trong đó rừng tự nhiên 14161ha và rừng trồng 11.189ha, đạt tỉ lệ che phủ 12,5% Phân loại rừng trên quan điểm sinh thái họcPhân loại theo chức năng sử dụngPhân loại theo trữ lượng Phân loại theo tác động của con ngườiPhân loại theo rừng tuổi. Phân loại dựa vào nguồn gốc1.2. Phân loại rừng ở Việt NamPhân loại rừng trên quan điểm sinh thái học+ Kiểu rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới Việt Nam+ Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới+ Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới+ Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới+ Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới+ Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp+ Kiểu tráng cây to, cây bụi, cây cỏ sao khô nhiệt đới+ Kiểu truông bụi gai hạn nhiệt đới+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp+ Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp+ Kiểu rừng kín cây lá kim ẩm ôn đới ẩm núi vừa+ Kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao+ Kiểu quần hệ lạnh vùng caoPhân loại theo chức năng sử dụngRừng đặc dụngmục đích chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh Rừng phòng hộ là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường.Rừng sản xuất:: là rừng được dùng chủ yếu trong sản xuất gỗ, lâm sản, đặc sản. Phân loại theo trữ lượng:+ Rừng rất giàu: trữ lượng cây > 300m3/ha+ Rừng giàu: trữ lượng cây đứng từ 201-300m3/ha+ Rừng trung bình: trữ lượng cây đứng twd 101-200m3/ha+ Rừng nghèo kiệt: trữ lượng cây đứng từ 10 đến 100m3/ha+ Rừng chưa có trữ lượng: rừng gỗ đường kính binh quân <8cm, trữ lượng cây đứng dưới 10m3/haPhân loại theo tác động của con người+ Rừng nguyên sinh+ Rừng nhân tạoPhân loại theo rừng tuổi+ Rừng non+ Rừng sào+ Rừng trung niên+ Rừng giàPhân loại dựa vào nguồn gốc+ Rừng chồi+ Rừng hạt1.3. Vai trò của rừngRừng giữ không khí trong  lành: Do chức năng quang hợp của cây xanh, rừng là một nhà máy sinh học tự nhiên thường xuyên thu nhận CO2 và cung cấp O2.. Rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn: Rừng điều hòa nguồn nước giảm dòng chảy bề mặt chuyển lượng nước ngấm xuống đất và vào tầng nước ngầm. Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suốiRừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất: ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì.Rừng cung cấp nguồn gỗ, củi lớn phục vụ cho phát triển kinh tế, hơn nữa rừng là nơi cứ trú của động vật , là nơi tàng trữ các nguồn gen quý hiếm của động ,thực vật2. Nạn chặt phá rừng 2.1. Khái niệm Phá rừng được quan niệm theo nhiều cách khác nhauPhá rừng là sự chuyển đổi hay quá trình thay đổi của lớp phủ mặt đất từ rừng sang các trạng thái khácPhá rừng là thuật ngữ mô tả sự thay đổi hoàn toàn trong sử dụng đất từ rừng sang nông nghiệp, bao gồm cả canh tác nương rẫy và chăn thả hay xây dựng đô thịPhá rừng mang ý nghĩa hủy hoại hay làm mất đi thảm cây. Từ làm mất hoàn toàn hay vĩnh viễn đi thảm cây cho đến những thay đổi nhỏ trong thành phần hệ sinh thái-Giai đoạn 1981- 1990 tóc độ phá rừng nhiệt đới hằng năm là 0,8% tương đương với 15,4 triệu ha/ năm.-Châu Á có tỷ lệ mất rừng cao nhất là 1,2%-Đối với Việt Nam trong khoảng từ 1943- 1993 có khoảng 5 triệu ha rừng tự nhiên bị mất nghĩa là tốc độ phá rừng hằng năm ở Việt Nam vào khoảng 100000 ha và con số này đang tiếp tục tăng lên 2.2.Nguyên nhâna.Nguyên nhân chủ quan:- Rừng bị chặt phá để lấy đất làm nông nghiệp, trồng cây công nghiệp, nuôi trồng thủy sản.- Phá rừng lấy củi đốt- Do khai thác gỗ để sản xuất đồ dùng gia dụng, sản xuất giấy quá mức - Do lâm tặc phá rừng- Do sự quản lý lỏng lẻo của chính quyền địa phương- Mất rừng do cháy: đốt rừng làm nương rẫy, dùng lử thiếu thận trọng trong rừngb.Nguyên nhân khách quan:- Do chiến tranh: Chiến tranh không phải là hiện tượng phổ biến thường xuyên nhưng các cuộc chiến tranh có sức tàn phá ghê gớm. Ở nước ta từ năm 1945 cho đến nay mất khoảng hơn 2 triệu ha rừng. Nhiều vùng rừng bị chất độc hóa học tàn phá đến nay vẫn chưa mọc lại được.- Do khí hậu: hằng năm nước ta nhận được 1 lượng bức xạ nhiệt rất lớn nên vào mùa nắng nóng các khu rừng thiếu nước thường bị cháy và làm cho nhiều cánh rừng chỉ còn là đống tro. 3. Tác động và hậu quảa.Đối với không khí:- Phá rừng làm thay đổi khí hậu và địa lý- Phá rừng là nhân tố đóng góp cho sự nóng lên toàn cầu của trái đất và được coi là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng hiệu ứng nhà kính. Rừng nhiệt đới bị phá hủy là tác nhân của 20% lượng khí nhà kính.- Theo Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi Khí hậu, việc phá rừng, chủ yếu ở các vùng nhiệt đới đã đóng góp 1/3 lượng khí thải carbon dioxit do con người gây ra. b.Đối với nước-Vòng tuần hoàn nước cũng bị ảnh hưởng bởi phá rừng. Cây hút nước trong lòng đất và giải phóng vào không khí. Khi rừng bị phá bỏ, cây không còn làm bay hơi lượng nước này, điều này khiến khí hậu trở nên khô hạn hơn rất nhiều- Phá rừng làm giảm lượng nước trong đất, lượng nước ngầm và độ ẩm của không khí. -Phá rừng làm giảm độ kết dính của đất, từ đó dẫn tới xói mòn, lũ lụt, lở đất.Rừng làm tái bổ sung nước ở tầng ngậm nước ở vài nơi, nhưng rừng là nguồn hút nước chủ yếu của tầng ngậm nước.-Phá rừng làm giảm khả năng giữ và bay hơi nước mưa của đất. Thay vì giữ nước mưa được thấm xuống tầng nước ngầm, phá rừng làm tăng quá trình rửa trôi nước bề mặt, sự di chuyển của nước bề mặt có thể dẫn đến lũ quét và gây nhiều lũ lụt hơn khi có rừng bảo vệ-Sự tồn tại của cây cối và thực vật làm thay đổi lượng nước trên bề mặt, trong đất hay nước ngầm hoặc trong bầu không khí. Sự tồn tại hay không tồn tại của cây cối và thực vật làm thay đổi mức độ xói mòn và lượng nước cho các hoạt động của hệ sinh thái và của con người.-Rừng nhiệt đới tạo ra 30% trữ lượng nước ngọt trên Trái Đất.c.Đối với đất-Phá rừng làm tăng độ xói mòn của đất khi nó làm tăng độ rửa trôi và giảm độ bảo vệ đất của lá khô, lá rụng trong rừng. -Hoạt động lâm nghiệp cũng có thể làm tăng độ sói mòn đất do phát triển đường sá và sử dụng dụng cụ cơ khíd.Hệ sinh thái-Làm giảm sự đa dạng sinh thái và làm môi trường bị suy thoái. -Rừng cung cấp đa dạng sinh thái, là nơi trú ẩn của các loài động vật,rừng tạo ra các cây thuốc hữu ích cho cuộc sống của con người.Các biotope của rừng là nguồn không thể thay thế của nhiều loại thuốc mới (ví dụ taxol), việc phá rừng có thể hủy hoại sự biến đổi gene.Đối với nền kinh tế-Việc khai thác gỗ quá mức, thường dẫn đến những hậu quả kinh tế lâu dài, ảnh hưởng tới nguồn thu nhập lâu dài và sản lượng của rừng. Tây Phi, Madagascar, Đông Nam Á và nhiều vùng khác trên thế giới đã phải chịu những tổn thất thu nhập do suy giảm sản lượng gỗ. Sự khai khẩn trái phép làm nhiều nền kinh tế tổn thất hàng tỷ đô la mỗi năm.-Khi nền kinh tế tăng trưởng có ảnh hưởng đến sự phá rừng. Dân số gia tăng, nhà cửa, đường sá, dân số đô thị mở rộng, khi phát triển thì cần có sự kết nối bằng việc xây dựng đường sá. Việc xây dựng đường sá ở nông thôn không chỉ kích thích phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện cho sự tàn phá rừng.Khoảng 90% rừng bị phá ở khu vực Amazon diễn ra trong phạm vi 100 km so với đường.Nạn phá rừng cũng chính là nguyên nhân khiến con người phải hứng chịu hiện tượng thời tiết cực đoan như EI Nino, La Nina với tần suất ngày càng nhiều và khốc liệt, dẫn đến bão lũ, lũ quét, lở đất,..dẫn đến phát sinh dịch bệnh gây tổn hại đến kinh tế-Nạn phá rừng đầu nguồn để khai thác gỗ, phát triển nông nghiệp, thủy điện,gây ra thiệt hại nặng về người và của. Khi rừng đầu nguồn bị chặt phá, cường độ của lũ lụt đi nhanh, làm cho nước dâng cao rất nhanh. Theo các nhà khoa học, việc diện tích rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ ở các tỉnh miền Trung bị san bằng nhường chỗ cho thủy điện đang làm mất khả năng điều tiết nước thượng nguồn khi mưa lớn, đây là một nguyên nhân chính khiến lũ lụt ngày càng thêm trầm trọng.4.Các biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam4.1 Quan điểm và mục tiêua. Quan điểm - Bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn dân, các cấp, các ngành, trong đó kiểm lâm là lực lượng nòng cố- Bảo vệ chặt chẽ đối với rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, mở rộng quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và nâng cao trách nhiệm tự bảo vệ đối với rừng sản xuất của chủ rừng. Các chủ rừng có diện tích rừng lớn phải có lực lượng bảo vệ rừng chuyên tráchb. Mục tiêu * Mục tiêu tổng quát: -Nâng cao năng lực quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ ổn định lâm phận các loại rừng; phát huy vai trò, lợi thế của từng loại rừng, trên cơ sở bảo tồn, sử dụng, cung cấp các dịch vụ và phát triển rừng bền vững, góp phần phát triển kinh tế và xã hội, duy trì các giá trị đa dạng sinh học của rừng, góp phần tích cực bảo vệ môi trường và thích ứng, giảm thiểu biến đổi khí hậu.* Mục tiêu cụ thể: - 8,5 triệu hécta rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn được bảo vệ nghiêm ngặt, từng bước chấm dứt tình trạng khai thác trái phép, cháy rừng đối với hai loại rừng này. - Giảm căn bản tình trạng vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng trái phép và thiệt hại do cháy rừng gây ra; bảo đảm kinh doanh bền vững đối với rừng sản xuất. - Xóa bỏ căn bản các tụ điểm khai thác, kinh doanh buôn bán lâm sản trái phép; chấm dứt tình trạng chống người thi hành công vụ. - Tăng độ che phủ của rừng lên 43% vào năm 2010, cải thiện chất lượng rừng đáp ứng yêu cầu về phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học. 4.2. Giải pháp. a. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý bảo vệ rừng. - Xây dựng các chương trình về thông tin - giáo dục - truyền thông, phổ biến kiến thức về pháp luật bảo vệ và phát triển rừng nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng của các chủ rừng, chính quyền các cấp, các ngành và toàn xã hội. - Đổi mới phương pháp tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận thông tin, nhất là đối với đồng bào dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa. Đưa kiến thức cơ bản về bảo vệ tài nguyên rừng vào chương trình giảng dạy ở cấp tiểu học và trung học. In ấn, phát hành các tài liệu tuyên truyền để phân phát cho các cộng đồng, xây dựng các bảng tuyên truyền ở những khu vực công cộng, trên giao lộ, cửa rừng...- Vận động các hộ gia đình sống trong và gần rừng ký cam kết bảo vệ rừng; xây dựng và thực hiện các quy ước bảo vệ rừng ở cấp xã.b. Quy hoạch, xác định lâm phận các loại rừng ổn định. - Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức rà soát, lập quy hoạch 3 loại rừng của địa phương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát quy hoạch rừng ngập mặn ven biển đảm bảo an toàn bảo vệ môi trường ven biển và phát triển nuôi trồng thủy sản hợp lý, tổng hợp quy hoạch ba loại rừng quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể ba loại rừng toàn quốc.- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát danh mục hệ thống rừng đặc dụng để ổn định đến năm 2020 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2006. Trên cơ sở đó, xác định thứ tự ưu tiên đầu tư cho các khu rừng đặc dụng theo Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. - Xác định ranh giới ba loại rừng trên bản đồ và thực địa; hoàn thành việc đóng cọc mốc, cắm biển báo ranh giới rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đầu nguồn vào năm 2010. c. Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật. - Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Thiết lập cơ chế, tổ chức quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo ngành và liên ngành hợp lý để quản lý, bảo vệ rừng có hiệu quả. - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan rà soát, hệ thống hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về bảo vệ và phát triển rừng; sửa đổi, bổ xung, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ rừng, chính quyền các cấp và người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược khung pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020, tạo hành lang pháp lý ổn định trong hoạt động lâm nghiệp. - Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục rà soát và sắp xếp các lâm trường quốc doanh; đồng thời triển khai ngay các phương án bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp thu hồi từ các lâm trường quốc doanh, không để tình trạng rừng trở thành vô chủ. Trao quyền tự chủ về kinh doanh và tài chính cho các nông, lâm trường quốc doanh sau khi sắp xếp lại.d. Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự tham gia của các ngành, các tổ chức xã hội vào bảo vệ rừng. * Đối với chủ rừng.- Chủ rừng phải chịu trách nhiệm bảo vệ rừng được Nhà nước giao, cho thuê theo quy định hiện hành của pháp luật. Những chủ rừng quản lý trên 500ha rừng phải có lực lượng bảo vệ rừng của mình. - Xây dựng các chương trình, đề án bảo vệ rừng trên diện tích được giao, được thuê đảm bảo bố trí các nguồn lực không để rừng bị xâm hại trái pháp luật. * Đối với Uỷ ban nhân dân các cấp.- Tổ chức khôi phục lại diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái quy định của pháp luật trong thời gian qua. - Tiến hành kiểm tra, cưỡng chế tất cả những người di dư tự do ra khỏi các vùng rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. - Hoàn thành giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vào năm 2010.* Đối với lực lượng Công an. - Bộ Công an chỉ đạo công an các tỉnh, thành phố hỗ trợ và phối hợp thường xuyên với lực lượng kiểm lâm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng theo một cơ chế thống nhất; tổ chức điều tra nắm chắc các đối tượng phá rừng, kinh doanh buôn bán lâm sản trái phép, đặc biệt phải triển khai các biện pháp kiên quyết trừng trị thích đáng; ngăn chặn triệt để tình trạng chống người thi hành công vụ; phối hợp với các lực lượng có liên quan truy quét bọn phá rừng và kiểm tra, kiểm soát lưu thông lâm sản. Rà soát và xử lý dứt điểm các vụ án hình sự tồn đọng trong lĩnh vực bảo vệ rừng.  * Đối với lực lượng Quân đội.- Huy động các đơn vị quân đội ngăn chặn các điểm nóng về phá rừng: Bộ Quốc phòng chỉ đạo các Quân khu, Quân đoàn, Bộ tư lệnh Biên phòng; Bộ chỉ huy quân sự và Bộ chỉ huy biên phòng các tỉnh phối hợp với chính quyền địa phương xác định những khu vực rừng đang là điểm nóng về phá rừng, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ để tổ chức các đơn vị quân đội đóng quân, chốt giữ, xây dựng địa bàn quốc phòng an ninh gắn với bảo vệ rừng, bố trí lực lượng, phương tiện thường trực sẵn sàng tham gia các đợt truy quét chống chặt phá rừng.f. Hỗ trợ nâng cao đời sống người dân. - Đẩy mạnh việc giao rừng và đất lâm nghiệp, khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư sống chủ yếu bằng nghề lâm nghiệp, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc; đồng thời hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ rừng. - Sớm hoàn thành chủ trương giải quyết đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc đang gặp nhiều khó khăn, gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, chương trình định canh định cư, quy hoạch và tổ chức thực hiện các dự án ổn định vùng kinh tế mới để người dân có thu nhập từ sản xuất, sớm ổn định cuộc sống, giảm bớt sự lệ thuộc vào thu nhập từ các hoạt động khai thác rừng trái pháp luật... - Rà soát ổn định diện tích canh tác nương rẫy theo phong tục tập quán của đồng bào ở một số khu vực, từng bước chuyển sang phương thức canh tác thâm canh, cung cấp giống cây trồng phù hợp với lập địa, có hiệu quả kinh tế cao và hướng dẫn kỹ thuật cho đồng bào. Nghiên cứu chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho đồng bào tương đương với thu nhập từ canh tác quảng canh nương rẫy hiện nay (tương đương khoảng 1 đến 1,5 tấn thóc/hécta/năm) trong thời gian 3 đến 5 năm, cung cấp giống cây rừng và một số vật tư cần thiết khác cho đồng bào dân tộc tại chỗ để chuyển căn bản họ sang trồng rừng, đồng thời cho họ được hưởng 100% sản phẩm rừng.e. Củng cố tổ chức, nâng cao năng lực của lực lượng kiểm lâm.- Đổi mới tổ chức lực lượng kiểm lâm theo Luật bảo vệ và phát triển rừng để kiểm lâm gắn với chính quyền, với dân, với rừng, thực hiện chức năng tham mưu cho chính quyền địa phương, tổ chức bảo vệ rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo đảm chấp hành pháp luật trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Bố trí kiểm lâm địa bàn ở 100% các xã có rừng để tham mưu cho chính quyền cơ sở trong công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp, theo dõi chặt chẽ diễn biến rừng; kịp thời phát hiện, ngăn chặn ngay từ đầu những vụ vi phạm. Từng bước tăng biên chế cho lực lượng kiểm lâm để bảo đảm định mức bình quân 1.000ha rừng có 1 kiểm lâm. - Tăng cường trang thiết bị cho kiểm lâm gồm các phương tiện hoạt động phù hợp với địa bàn rừng núi, hệ thống thông tin liên lạc, thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng. - Ban hành một số chính sách về kinh phí cho hoạt động nghiệp vụ, tiền lương, chế độ thương binh, liệt sỹ, cơ chế sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để trấn áp lâm tặc. Ban hành tiêu chuẩn ngạch công chức kiểm lâm vào năm 2006. - Đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý bảo vệ rừng, lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và chính trị cho các đối tượng. Xây dựng chiến lược đào tạo về bảo vệ rừng đến năm 2010. Tổ chức các chương trình trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý, bảo vệ rừng.g. Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị bảo vệ rừng. - Lắp đặt và khai thác có hiệu quả trạm thu ảnh viễn thám phục vụ cho công tác dự báo, cảnh báo cháy rừng và theo dõi diễn biến rừng. - Xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng (đường băng, chòi canh, hồ chứa nước, trạm bảo vệ, đường tuần tra...) ở các khu rừng đặc dụng, phòng hộ, các vùng trọng điểm đã được xác định về phá rừng và cháy rừng. - Đầu tư xây dựng các Trung tâm huấn luyện, đào tạo chuyên ngành cho lực lượng bảo vệ rừng. - Trang bị phương tiện đáp ứng yêu cầu công tác hiện trường cho các Hạt Kiểm lâm trên toàn quốc, trước mắt tập trung đầu tư cho các Hạt Kiểm lâm ở những vùng trọng điểm.h. Ứng dụng khoa học công nghệ. - Ứng dụng công nghệ tin học, GIS, viễn thám vào công tác quản lý bảo vệ rừng, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp. - Thiết lập và sử dụng có hiệu quả mạng máy tính chuyên ngành; xây dựng phần mềm quản lý, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. - Xây dựng, tổ chức thực hiện quy trình giám sát, điều tra đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dụng. - Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ phòng cháy, chữa cháy