Tiểu luận Tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong 20 năm đổi mới ở nước ta

Qua hơn 20 năm đổi mới Việt Nam đạt được những thành tựu như ngày hôm nay là nhờ có Đảng lãnh đạo và đặc biệt Đảng đã luôn luôn chủ động, sáng tạo trong đổi mới tư duy về kinh tế . Đường lối và chính sách đổi mới từ Đại hội VI (1986) của Đảng đã đặt cơ sở, nền tảng ban đầu cho giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta. Đảng đã đề ra đường lối đổi m ới toàn di ện, sâu sắc, trong đó có đổi mới tư duy về kinh tế, đây là bước đột phá cho công cuộc đổi mới các lĩnh vực tiếp theo. Bước ngoặt trong đổi m ới tư duy kinh tế của Đảng là chúng ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Thành tựu nổi bật nhất trong bước khởi đầu đổi mới tư duy kinh tế là Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế th ị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Quan điểm về mô hình nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đã thay đổi căn bản và đến nay đã được xác lập, đó là nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa không ch ỉ có hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể mà tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Việt Nam đang dần khẳng định vai trò của mình trên trường quốc tế. Tuy nhiên nước ta vẫn còn là một nước nghèo, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế quốc dân. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tệ nạn xã hội tham ô tham nhũng vẫn tồn tại và phát triển. Đảng và Nhà nước đã khẳng định quyết tâm dẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, định hướng XHCN, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Và trong xu thế hội nhập kinh tế, Việt Nam đang trên đường phát triển công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Bên cạnh vi ệc đặt nhi ệm vụ bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước là tiêu chí hàng đầu thì một vấn đề không kém phần quan trọng và cần thiết đó là phát tri ển nền kinh tế . Bởi vì khi một đất nước nghèo nàn, lạc hậu thì cũng đồng nghĩa với đất nước đó sẽ trở thnàh thuộc đị a về kinh tế của những nuớc phát triển. Vì thế, để phát triển kinh tế thì ngoài việc chúng ta cần phải phát huy và tận dụng rất nhiều nguồn lực như: nguồn lực tự nhiên, nguồn nhân lực, vốn đầu tư, khoa học. thì Đảng ta cần có một đường lối tư duy đúng đắn để phát triển nền Kinh tế thị trường ở nước ta.

pdf27 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 14/04/2013 | Lượt xem: 5881 | Lượt tải: 26download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong 20 năm đổi mới ở nước ta, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 MỤC LỤC Trang A.Mở đầu…………………………………………………….…….2 B.Nội dung………………………………………………………....4 I.Bối cảnh thế giới và trong nước khi Đảng đổi mới tư duy……………………………………………...…….4 II.Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kì đổi mới………………………..…………...….8 III.Những thay đổi về tư duy của Đảng ta..…………………….….11 IV.Những thành tựu của đất nước sau 20 năm đổi mới…………………………...………….……….....16 V.Phương hướng và giải pháp của Đảng về tư duy kinh tế thị trường trong những năm tiếp.......…..………………...20 C.Kết luận…………………...……………………..…………...…….26 2 A. Mở Đầu Qua hơn 20 năm đổi mới Việt Nam đạt được những thành tựu như ngày hôm nay là nhờ có Đảng lãnh đạo và đặc biệt Đảng đã luôn luôn chủ động, sáng tạo trong đổi mới tư duy về kinh tế . Đường lối và chính sách đổi mới từ Đại hội VI (1986) của Đảng đã đặt cơ sở, nền tảng ban đầu cho giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta. Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc, trong đó có đổi mới tư duy về kinh tế, đây là bước đột phá cho công cuộc đổi mới các lĩnh vực tiếp theo. Bước ngoặt trong đổi mới tư duy kinh tế của Đảng là chúng ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Thành tựu nổi bật nhất trong bước khởi đầu đổi mới tư duy kinh tế là Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Quan điểm về mô hình nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đã thay đổi căn bản và đến nay đã được xác lập, đó là nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa không chỉ có hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể mà tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Việt Nam đang dần khẳng định vai trò của mình trên trường quốc tế. Tuy nhiên nước ta vẫn còn là một nước nghèo, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế quốc dân. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tệ nạn xã hội tham ô tham nhũng vẫn tồn tại và phát triển. Đảng và Nhà nước đã khẳng định quyết tâm dẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, định hướng XHCN, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo 3 nàn, lạc hậu, kém phát triển để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Và trong xu thế hội nhập kinh tế, Việt Nam đang trên đường phát triển công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Bên cạnh việc đặt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước là tiêu chí hàng đầu thì một vấn đề không kém phần quan trọng và cần thiết đó là phát triển nền kinh tế . Bởi vì khi một đất nước nghèo nàn, lạc hậu thì cũng đồng nghĩa với đất nước đó sẽ trở thnàh thuộc địa về kinh tế của những nuớc phát triển. Vì thế, để phát triển kinh tế thì ngoài việc chúng ta cần phải phát huy và tận dụng rất nhiều nguồn lực như: nguồn lực tự nhiên, nguồn nhân lực, vốn đầu tư, khoa học... thì Đảng ta cần có một đường lối tư duy đúng đắn để phát triển nền Kinh tế thị trường ở nước ta. Sự thay đổi tư duy về kinh tế thị trường trong hơn 20 đổi mới ở nước ta- một sự thay đổi mang tính quyết định của cả nền kinh tế và nó đã góp phần giúp chúng ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, nghèo nàn, lạc hậu, đưa nước ta trở thành một nước có nền kinh tế vững mạnh. Với mong muốn học hỏi và chia sẻ những hiểu biết nhỏ bé của mình về đường lối chính sách của Đảng về công cuộc đổi mới tư duy nền kinh tế thị trường, em đã quyết định chọn đề tài : “Tư duy mới của Đảng về Kinh tế thị trường trong 20 năm đổi mới ở nước ta”. Đề tài tiểu luận này sẽ đi sâu vào phân tích bối cảnh đẩt nước trước đổi mới, các giai đoạn phát triển tư duy của Đảng ta, khẳng định tính đúng đắn và cần thiết của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời trình bày những thành tựu và thách thức của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. 4 B.Nội dung I.Bối cảnh trong nước và thế giới khi Đảng đổi mới tư duy về kinh tế thị trường. Trong tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ, mặc dù quan niệm về tính tất yếu quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã hình thành nhưng đến thời kỳ năm 1954- 1975 mô hình chủ nghĩa xã hội mới được xác lập trên thực tế ở miền Bắc. Đó là mô hình chủ nghĩa xã hội chịu sự chi phối của quy luật chiến tranh khi miền Bắc giữ vai trò là hậu phương lớn của miền Nam và đối với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ. Nền kinh tế chỉ hủy với cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp dựa trên hình thức sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất được xác lập ở miền Bắc trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau năm 1975 cả nước ta đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng bức tranh mới về hiện tượng kinh tế xã hội đã thay đổi. 1.Bối cảnh thế giới Những năm 70 – 80 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế - chính trị trên thế giới và của các nước khối chủ nghĩa xã hội có ảnh hưởng to lớn đến tình hình kinh tế Việt Nam ,thể hiện cụ thể: Xu thế hợp tác và cạnh tranh trên thế giới đang dần thay thế xu thế đối đầu và xung đột. Trước tình hình đó, các quốc gia đều phải thay đổi về tư duy, chính sách phát triển kinh tế đặc biệt là đường lối đối ngoại giữa các nước với nhau. Chính vì vậy, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu bắt buộc, là đòi hỏi của chính yêu cầu phát triển đối với nền kinh tế Việt Nam. Tổ chức “các nước công nghiệp mới” ở Đông Nam Á đã đưa ra những gợi ý 5 về cách thức và giải pháp phát triển đối với những nước vốn xuất phát từ nông nghiệp, có quan hệ xã hội theo kiểu giá trị văn hóa phương Đông. Đó là những thành công của chiến lược phát triển: phát huy sức mạnh nội lực, thị trường – mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Sự thất bại của công cuộc cải tổ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là một bài học đắt giá. Đó là kết quả của con đường cải tổ theo kiểu “phủ định sạch trơn”, sử dụng “liệu pháp sốc”, giải quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình cải tổ. Công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc – một nước xã hội chủ nghĩa láng giềng với những đặc điểm tương đồng về kinh tế - xã hội với Việt Nam – theo định hướng thị trường - mở cửa bắt đầu diễn ra từ năm 1978 đã đạt được những thành tựu nổi bật. Đó chính là nhưng kinh nghiệm quý báu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Như vậy, bối cảnh thế giới vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XX có những ảnh hưởng to lớn đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để đáp ứng được yêu cầu phát triển và phù hợp với xu hướng thời đại, chúng ta buộc phải đổi mới về tư duy, tận dụng những cơ hội do thời đại mang lại nhưng đồng thời, những bài học quan trọng trong sự thành công và thất bại trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa là những kinh nghiệm quý báu cho việc hoạch định đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam. 2.Bối cảnh trong nước . Nếu như trước đây nền kinh tế kế hoạch hóa trong thời gian đầu thực hiện đã tỏ ra phù hợp tạo bước chuyển biến quan trọng về mặt kinh tế - xã hội, đồng thời nó thích hợp với nền kinh tế thời chiến và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra chiến thắng của cả dân tộc. Nó cho phép Đảng và Nhà nước huy động ở mức cao nhất sức người sức của cho tiền 6 tuyến thì hiện nay việc duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đã trở thành nguyên nhân đẩy nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng kéo dài. Trong một nền kinh tế tồn tại ba loại hình kinh tế tự cấp tự túc, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế hàng hóa. Chúng ta có thể khái quát mô hình kinh tế nước ta trước năm 1979 là “công hữu, kế hoạch hóa, phi thị trường”, nhà nước trở thành cơ quan quyền lực kinh tế trực tiếp mọi khâu, mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất vật chất đến lưu thông, phân phối sản phẩm. Trong quan hệ với các đơn vị kinh tế cơ sở thì nhà nước chịu trách nhiệm cấp phát vật tư, các đơn vị kinh tế chịu trách nhiệm sản xuất và giao nộp sản phẩm theo chỉ tiêu giá trị hiện vật mang tính pháp lệnh. Trong lĩnh vực thương nghiệp, nhà nước tổ chức thu mua, tập trung nguồn hàng và thực hiện phân phối sản phẩm thông qua hệ thống mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán. Nền kinh tế vận hành theo kế hoạch pháp lệnh mang tính hành chính nên nhiều quy luật kinh tế khách quan bị lãng quên. Cộng thêm xuất phát điểm của nền kinh tế thấp kém lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cùng với những vấp váp và sai lầm trong chính sách kinh tế nên đến năm 1985, kinh tế nước ta đã rơi vào khủng hoảng và vòng xoáy của lạm phát, thể hiện trên những mặt chủ yếu sau: Kinh tế tăng trưởng thấp: Từ năm 1976 đến năm 1985, tổng sản phẩm xã hội tăng 50%, tức là bình quân mỗi năm trong giai đọan 1976-1985 chỉ tăng 4,6%. Đã thế, sản xuất kinh doanh lại kém hiệu quả nên chi phí sản xuất cao và không ngừng tăng lên. Năm 1980, chi phí vật chất chiếm 41,95% tổng sản phẩm xã hội, năm 1985 tăng lên chiếm 44,1%. Do vậy, thu nhập quốc dân qua hai kế họach 5 năm tăng 38,85%, bình quân mỗi năm tăng 3,7%. 7 Làm không đủ ăn và dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng lớn: Năm 1985, dân số cả nước gần 59,9 triệu người, tăng 25,7% so với năm 1975. Như vậy, trong 10 năm, bình quân mỗi năm dân số tăng 2,3%. Để đảm bảo đủ việc làm và thu nhập của dân cư không giảm thì ít nhất nền kinh tế phải tăng 7% mỗi năm. Nhưng thực tế nền kinh tế không đạt được mức tăng đó nên sản xuất trong nước luôn luôn không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tối thiểu. Thu nhập quốc dân chỉ bằng 80-90% nhu cầu sử dụng. Tích lũy nhỏ bé nhưng toàn bộ quỹ tích lũy và một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào nguồn nước ngoài. Trong những năm 1981-1985, thu vay nợ và viện trợ nước ngoài bằng ngân sách và bằng 28,9% tổng số thu trong nước. Nếu so với tổng số chi ngân sách thì bằng 18,6%. Đến năm 1985, nợ nước ngoài đã lên tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ USD. Tuy nguồn thu từ nước ngoài lớn như vậy nhưng ngân sách vẫn trong tình trạng thâm hụt và phải bù đắp bằng phát hành trái phiếu. Bội chi ngân sách năm 1980 là 18,1% và năm 1985 là 36,6%. Trị giá xuất khẩu hàng năm có tăng lên nhưng vẫn còn thấp so với giá trị nhập khẩu. Trị giá xuất khẩu chỉ bằng 20-40% nhập khẩu: Năm 1976 bằng 21,7%, năm 1981 bằng 19%, năm 1985 bằng 37,5%. Hầu hết các loại hàng hóa thiết yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống đều phải nhập khẩu toàn bộ hay một phần do sản xuất không đảm bảo được tiêu dùng. Kể cả những mặt hàng trong nước có thế mạnh như sản xuất gạo, vải. Quan hệ kinh tế quốc tế hầu như chỉ gói gọn với các nước xã hội chủ nghĩa. Sau mười năm thống nhất, việc xây dựng và phát triển kinh tế cơ bản trong bối cảnh hòa bình mà cái gì cũng thiếu nên cái gì cũng quý. Siêu lạm phát hoành hành và giá cả tăng theo cấp số nhân: Từ năm 1976, tình trạng lạm phát ngày càng trầm trọng vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước ta. Năm 1985, cuộc cải cách giá - lương - tiền theo giải pháp sốc đã thất 8 bại làm cho cơn sốt lạm phát tăng nhanh, hoành hành trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Giá cả leo thang từng ngày đã vô hiệu hóa tác dụng đổi tiền chỉ mới tiến hành vài tháng trước đó, làm rối loạn điều hành kinh tế vĩ mô. Giá cả không chỉ tăng trên thị trường tự do mà còn tăng rất nhanh trong thị trường có tổ chức. Về cơ bản, giá cả đã tuột khỏi tầm tay bao cấp của Nhà nước. Siêu lạm phát đạt đỉnh cao vào năm 1986, với tốc độ tăng giá cả năm lên tới 774,4%. Như vậy, những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế của nước ta đã lâm vào khủng hoảng mà đỉnh cao là năm 1986.Trước tình hình đó yêu cầu đổi mới nền kinh tế là yêu cầu sống còn, là vận mệnh của đất nước. II.Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kì đổi mới: 1.Tư duy của Đảng về Kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội VIII: Đây là giai đoạn hình thành và phát triển tư duy của Đảng về kinh tế thị trường. So với thời kì trước đổi mới, nhận thức về kinh tế thị trường có sự thay đổi căn bản và sâu sắc. Kinh tế thị trường không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại. Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho thấy sản xuất và trao đổi hàng hoá là tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường đã có mầm mống từ trong xã hội nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển cao trong chủ nghĩa Tư bản. Chủ nghĩa Tư bản không sản sinh ra kinh tế hàng hoá. Do đó, kinh tế thị trường với tư cách là kinh tế hàng hoá ở trình độ cao không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa Tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại. Kinh tế thị trường lấy khoa học, công nghệ hiện đại làm cơ sở và nền sản xuất hoá cao. 9 Kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa Xã hội. Kinh tế thị trường xét dưới góc độ “một kiểu tổ chức kinh tế” là phương thức tổ chức, vận hành nền kinh tế, là phương tiện điều tiết nền kinh tế lấy cơ chế thị trường làm cơ sở để phân bổ các nguồn nhân lực kinh tế và điều tiết mối quan hệ giữa người với người. Kinh tế thị trường chỉ đối lập với kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc chứ không đối lập với các chế độ xã hội. Bản thân kinh tế thị trường không phải là đặc trưng bản chất cho chế độ kinh tế cơ bản của xã hội. Kinh tế thị trường tồn tại và phát triển ở nhiều phương thức sản xuất khác nhau. Kinh tế thị trường vừa có thể liên hệ với chế độ công hữu và phục vụ cho chúng. Có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, lỗ, lãi tự chịu. Giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết, hệ thống thị trường phát triển đồng bộ và hoàn hảo. Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo qui luật vốn có của kinh tế thị trường: qui luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh, qui luật lưu thông tiền thị trường…….. Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. 2.Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX đến Đại hội X: Đảng xác định: Nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “Một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo qui luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất cùa chủ nghĩa xã hội”. Nội dung cơ bản của định hướng Xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta thể hiện ở 4 tiêu chí: 10 Về mục đích phát triển: mục tiêu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn. Về phương hướng phát triển: phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng trong mọi thành phần kinh tế, trong mọi cá nhân và mọi vùng miền... phát huy tối đa nội lực để phát triển nhanh nền kinh tế. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ chủ yếu để nhà nước điều tiết nền kinh tế, định hướng cho sự phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Về định hướng xã hội và phân phối: thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển xã hội, văn hoá, giáo dục và đào tạo, giải quyết vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Hạn chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường. Trong lĩnh vực phân phối, định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế phúc lợi xã hội. Đồng thời để huy động mọi nguồn lực kinh tế cho sự phát triển chúng ta còn thực hiện phân phối theo mức đóng góp và các nguồn lực khác. Về quản lý: phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân. Bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tiêu chí này thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị 11 trường tư bản chủ nghĩa với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của thị trường, bảo đảm quyền lợi chính đáng của mọi người. III.Những thay đổi về tư duy của Đảng ta . Trước đổi mới, chúng ta coi kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế tư bản chủ nghĩa (hay kinh tế thị trường) là hai phương thức kinh tế khác nhau về bản chất và đối lập với nhau cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối và mục đích phát triển. Kinh tế xã hội chủ nghĩa vận động theo các quy luật của chủ nghĩa xã hội, còn kinh tế tư bản chủ nghĩa thì vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản (tất nhiên trong khi nói đến kinh tế kế hoạch chúng ta cũng đã từng nói đến hạch toán và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, vận dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, coi lợi ích vật chất và khuyến khích vật chất là một động lực của sự phát triển). Sau đổi mới, tư duy của chúng ta về kinh tế có nhiều sự phát triển so với trước. Nhìn khái quát đã có những sự thay đổi lớn như sau: Từ quan niệm chủ nghĩa xã hội chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là chế độ công hữu về tất cả các tư liệu sản xuất (bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) đã đi đến quan niệm nền kinh tế của ta hiện nay và sau này có ba chế độ sở hữu cơ bản là toàn dân, tập thể, tư nhân, trên cơ sở đó, hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế khác nhau như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Từ quan niệm cho rằng để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải nhanh chóng hoàn thành việc cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế 12 cá thể tiểu chủ là những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đến quan niệm rằng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, còn cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất. Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, với việc xóa bỏ nhanh chóng các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu đã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn cho hai thành phần kinh tế ấy ngày càng trở thành nền tảng vững chắc thì phải trải qua một quá trình dài xây dựng, đổi mới và phát triển với những bước thích hợp; trong khi đó, vẫn khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế tư nhân, coi như thành phần này là động lực quan trọng của phát triển kinh tế và phát triển lực lượng sản xuất. Từ quan niệm nhà nước phải chỉ huy toàn bộ nền kinh tế theo một kế hoạch tập trung, thống nhất với những chỉ tiêu có tính pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đã đi đến phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh; chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản công là thuộc nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thì thuộc về doanh nghiệp. Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế hoạch, phủ nhận vai trò của thị trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt trên bình diện vĩ mô, còn thị trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh. Từ chỗ chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là phân ph
Luận văn liên quan