Tìm hiểu nhu cầu sử dụng điện thoại di động của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp

Thời nghèo nàn, lạc hậu của nước Việt Nam đã qua đi và giờ đây nó nhường chỗ cho sự phát triển dữ dội của đất nước đó chính là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, sự thay đổi về cải cách chính trị, về biện pháp và phương pháp giáo dục đời sống con người ngày càng được phát triển và nâng cao, nhu cầu giao lưu hội nhập kinh tế, văn hoá ngày càng lớn, từ đó tạo ra sự đa dạng và phong phú hơn cả về vật chất và tinh thần. Bên cạnh đó là sự phát triển cải tiến về mặt khoa học kỹ thuật được nâng cao và đưa vào thực tiễn ngày càng nhiều. Song trái lại những mặt tích cực đó thì xã hội lại xuất hiện nhiều thành phần tiêu cực như: Quan liêu, tham nhũng, kinh doanh buôn bán bất hợp pháp vì vậy các nhà sản xuất, các nhà doanh nghiệp ngày càng phải đối mặt với thị trường buôn bán nhiều biến động và rủi ro như sự phá sản hay thất bại của doanh nghiệp này, cùng với sự thành công trên thương trường của doanh nghiệp khác là một xu thế tất yếu, nhưng thiết nghĩ điều mà làm cho nhiều nhà doanh nghiệp nhức nhối và lo ngại hơn cả đó là làm thế nào để trở thành một nhà doanh nghiệp chuyên nghiệp và thành công.

doc30 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 25/10/2013 | Lượt xem: 7421 | Lượt tải: 30download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tìm hiểu nhu cầu sử dụng điện thoại di động của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bài Luận Tìm hiểu nhu cầu sử dụng điện thoại di động của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thời nghèo nàn, lạc hậu của nước Việt Nam đã qua đi và giờ đây nó nhường chỗ cho sự phát triển dữ dội của đất nước đó chính là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, sự thay đổi về cải cách chính trị, về biện pháp và phương pháp giáo dục đời sống con người ngày càng được phát triển và nâng cao, nhu cầu giao lưu hội nhập kinh tế, văn hoá ngày càng lớn, từ đó tạo ra sự đa dạng và phong phú hơn cả về vật chất và tinh thần. Bên cạnh đó là sự phát triển cải tiến về mặt khoa học kỹ thuật được nâng cao và đưa vào thực tiễn ngày càng nhiều. Song trái lại những mặt tích cực đó thì xã hội lại xuất hiện nhiều thành phần tiêu cực như: Quan liêu, tham nhũng, kinh doanh buôn bán bất hợp pháp…vì vậy các nhà sản xuất, các nhà doanh nghiệp ngày càng phải đối mặt với thị trường buôn bán nhiều biến động và rủi ro như sự phá sản hay thất bại của doanh nghiệp này, cùng với sự thành công trên thương trường của doanh nghiệp khác là một xu thế tất yếu, nhưng thiết nghĩ điều mà làm cho nhiều nhà doanh nghiệp nhức nhối và lo ngại hơn cả đó là làm thế nào để trở thành một nhà doanh nghiệp chuyên nghiệp và thành công. Từ năm 1986 đến nay trong công cuộc đổi mới của Đảng đã diễn ra một cách liên tục, đó là: Vừa thử nghiệm vừ rút kinh nghiệm đã gặt hái được nhiều thành công đưa đất nước ta từng bước đi lên một cách vững chắc cả về tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị xã hội bằng hoạt động thực tiễn điều hành sản xuất kinh doanh thích nghi dần với nền kinh tế nhiều thành phần. Vì vậy đối với nền kinh tế nói riêng đã không ngừng đổi mới và phát triển, nhưng để có được chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước thì phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm và khách hàng đã trở thành vấn đề sống còn của doanh nghiệp, trở thành vị trí trung tâm trong sản xuất, kinh doanh, các nhà doanh nghiệp phải làm thế nào để đáp ứng một cách tốt nhất đối với nhu cầu của khách hàng. Trường Đại học Đồng Tháp với hơn 12.000 sinh viên là một thị trường tiêu thụ điện thoại di động không nhỏ, là nơi mà các nhà doanh nghiệp có thể phát triển thị phần. Nhưng, để tiêu thụ được sản phẩm điện thoại di động của mình thì các công ty cũng như các nhà doanh nghiệp, các nhà sản xuất cần nắm bắt đựơc tâm lý, nhu cầu và thị hiếu của khách hàng xem họ muốn dùng loại điện thoại di động nào, mẫu mã chất lượng sản phẩm ra làm sao, giá cả thế nào là hợp lý đối với họ… vì thế tất cả những gì mà nhà kinh doanh có thể làm là làm thế nào để giúp cho khách hàng có được những phản ứng tự nhiên để mua hàng họ muốn chắc chắn rằng họ đang mua đúng thứ họ cần. Đây cũng chính là lý do để tôi chọn đề tài: “ Tìm hiểu nhu cầu sử dụng điện thoại di động của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp” làm chuyên đề. Tôi mong rằng với những đóng góp nhỏ bé của mình sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp, các nhà sản xuất tìm ra được những giải pháp để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của sinh viên Trường Đại học Đồng Tháp đối với sản phẩm điện thoại di động trên thị trường với mẫu mã, chất lượng, giá cả phù hợp nhất. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu chung Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về nhu cầu sử dụng điện thoại di động và đề ra các biện pháp giúp cho nhà sản xuất cung cấp những sản phẩm phù hợp với thị hiếu của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp. 2.2 Mục tiêu cụ thể Mục tiêu cụ thể 1: Làm sáng tỏ nhu cầu sử dụng điện thoại di động. Mục tiêu cụ thể 2: Tìm hiểu thực trạng sử dụng điện thoại di động của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp. Mục tiêu cụ thể 3: Phân tích thị hiếu sử dụng điện thoại di động của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp. Mục tiêu cụ thể 4: Đề ra giải pháp giúp nhà sản xuất cung cấp những sản phẩm phù hợp vói nhu cầu của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp. 3. Phạm vi nghiên cứu 3.1 Phạm vi về không gian Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Đồng Tháp. 3.2 Phạm vi về thời gian Đề tài được thực hiện từ ngày 09/04/2010 đến 20/5/2012. 3.3 Đối tượng nghiên cứu Là sinh viên đang sử dụng điện thoại di động thuộc khoa kinh tế trường Đại học Đồng Tháp. 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu Phương pháp lấy mẫu thuận tiện với kích thước mẫu là 50. 4.2 Phương pháp thu thập số liệu Số liệu sơ cấp được lấy bằng cách phỏng vấn trực tiếp 50 sinh viên trường Đại học Đồng Tháp thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn. Số liệu thứ cấp được thu thập qua các báo cáo của các nhà sản xuất trên internet. 4.3 Phương pháp phân tích số liệu Mục tiêu cụ thể 1: Tổng hợp các thông tin để làm sáng tỏ nhu cầu sử dụng điện thoại di động. Mục tiêu cụ thể 2: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp để tìm hiểu thị hiếu sử dụng điện thoại di động của sinh viên trường Đại Học Đồng Tháp. Mục tiêu cụ thể 3: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích thị hiếu của sinh viên trường Đại Học Đồng Tháp. Mục tiêu cụ thể 4: Tìm hiểu và phân tích nhu cầu sử dụng điện thoại di động sử dụng phương pháp tự luận để đề ra các biện pháp giúp nhà sản xuất cung cấp các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của sinh viên trường Đại Học Đồng Tháp. 5. Kiểm định giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu 5.1 Kiểm định giả thuyết Giả thuyết 1: Hầu hết sinh viên trường Đại học Đồng Tháp có sử dụng điện thoại di động. Giả thuyết 2: Đa số sinh viên trường Đại học Đồng Tháp sử dụng điện thoại Nokia, Samsung. Giả thuyết 3: Phần lớn sinh viên trường Đại học Đồng Tháp sử dụng điện thoại di động có giá từ 1 dến 3 triệu. 5.2 Câu hỏi nghiên cứu Câu hỏi 1: Hầu hết sinh viên trường Đại học Đồng Tháp có sử dụng điện thoại di động không? Câu hỏi 2: Sinh viên trường Đại học Đồng Tháp sử dụng điện thoại di động của nhà cung cấp nào nhiều nhất? Câu hỏi 3: Đa số sinh viên trường Đại học Đồng Tháp sử dụng điện thoại di động có giá bao nhiêu? PHẦN 2: NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Giới thiệu điện thoại di động 1.1.1 Khái niệm điện thoại di động Điện thoại di động là một loại điện thoại không dây, cho dù chúng ta ở đâu: trên chiếc xe hơi, tàu hoả, tàu biển hay trên máy bay, lúc nào cũng có thể dùng nó để liên lạc. Luồng thông tin của điện thoại di động chủ yếu là dựa vào mạng lưới thông tin xung quanh nó, mỗi mạng lưới có một trạm cơ sở để điều khiển những thông tin trong mạng, mỗi một trạm cơ sở lại được kết nối với tổng đài điện thoại. Khi các khách hàng quay số điện thoại thì máy vi tính loại siêu nhỏ nằm trong máy điện thoại sẽ tự động thông báo số điện thoại đến trạm cơ sở, rồi từ trạm cơ sở, số điện thoại lại thông báo đến tổng đài và hoà vào mạng lưới điện thoại của thành phố. Như vậy cuộc gọi đã được kết nối. Khi điện thoại di động không nằm tại môi trường có mạng thông tin vốn có thì ăng ten định hướng sẽ thông báo đến tổng đài để thay đổi tần số điện thoại, cũng giống như cuộc thi chạy tiếp sức, nó giao nhiệm vụ kết nối điện thoại cho trạm thông tin cơ sở sau. Như vậy gọi bằng điện thoại di động đã được thực hiện. (Bách khoa tri thức thiếu nhi) 1.1.2 Các tính năng trên điện thoại di động Ngày nay khi công nghệ phát triển, điện thoại di động đã trở thành phương tiện phổ thông với tất cả mọi người, từ chỗ nó chỉ để đàm thoại và gửi nhận tin nhắn thì đến nay điện thoại di động đã trở thành một chiếc máy tối tân thu nhỏ, mang trong mình nó là một máy thu phát vô tuyến, một Máy tính thu nhỏ, một Camera kỹ thuật số và trong tương lai không xa nó còn tích hợp nhiều tính năng vào đó nữa. Các tính năng trên điện thoại bao gồm: nghe nhạc, Camera, Wi-Fi, Bluetooth, chức năng quản lý (Đồng hồ báo thức, lịch (calendar), máy tính cá nhân (calculator), sổ ghi chú (notepad), đồng hồ, đồng hồ đếm ngược...), hỗ trợ thẻ nhớ, quay số bằng giọng nói, ghi âm, đèn Flash,... 1.2 Giới thiệu nhu cầu sử dụng điện thoại di động 1.2.1 Khái niệm nhu cầu Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầu được tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham, Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S. Herman. Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh. Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt. Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa (Bách khoa toàn thư). Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó. Nhưng “cái gì đó” chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu. Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của nhu cầu mà có thể tạm gọi là "nhu yếu". Nhu yếu đang nói đến lại có thể được xem là hình thức biểu hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn. Như vậy khái niệm nhu cầu và nhu yếu mang tính tương đối với nhau. Điều đó cho thấy rằng nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắc xích của hình thức biểu hiện và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển và đa dạng hóa. Tuy nhiên, để dễ nhận dạng, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất được cấu thành bởi một nhu yếu và một hình thức biểu hiện. Hình thức biểu hiện nhất định được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhu cầu nhất định. Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thể làm thỏa mãn nhu cầu đó. Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác nhau. Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Alfred Marshall viết rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn”. Về vấn đề cơ bản của khoa học kinh tế - vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầu không có giới hạn. 1.2.2 Nhu cầu của con người Nhu cầu là sự mất cân đối trong trạng thái thực tế, là sự thiếu hụt và khao khát muốn sở hữu một hàng hóa hay dịch vụ nào đó. Nhu cầu nó tự xuất hiện là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động nhằm làm thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu đó, nếu nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ tiếp tục sinh ra một nhu cầu mới với đòi hỏi cao hơn. Nhu cầu con người rất phong phú và đa dạng. Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt cái gì đó mà con người cảm nhận được, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người đều có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu của con người được thể hiện khá rõ ở thuyết nhu cầu của Maslow: Nhu cầu tự thể hiện Nhu cầu tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Nhu cầu sinh lý: là nhu cầu về ăn, mặt, ở, đi lại và giới tính,… Nhu cầu an toàn: là nhu cầu về an ninh, cần được bảo về, che chở,... Nhu cầu xã hội: là tình bạn, tình đồng nghiệp, sự ảnh hưởng của mọi người chung quanh đối với bản thân và ngược lại,… Nhu cầu tôn trọng: là muốn được mọi người coi trọng, muốn có được nghề nghiệp, địa vị trong xã hội, được mọi người chú ý, lòng tự trọng, tính tự quản,… Nhu cầu tự thể hiện: muốn phát huy sở trường của bản thân, tự khẳng định mình,…. 1.2.3 Khái niệm sinh viên Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học. Nguồn gốc của từ sinh viên được hiểu theo nghĩa tiếng Pháp étudiant: người nghiên cứu. Tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga,... cũng đồng nghĩa như vậy. Danh từ étudiant của tiếng Pháp phát sinh từ danh từ mẹ là étude (sự nghiên cứu), ngữ nguyên ở tiếng La Tinh là studium nghĩa là: sự vận dụng trí não để học hỏi hiểu biết và đào sâu một vấn đề (Bách khoa toàn thư). 1.2.4 Quá trình ra quyết định sử dụng điện thoại di động Để có quyết định về việc sử dụng điện thoại di động thì người tiêu dùng thường phải trải qua các giai đoạn sau: Sơ đồ 1.1 Quá trình ra quyết định Nhận thức nhu cầu Tìm kiếm thông tin Đánh giá các phương án Quyết định mua Hành vi sau mua Nhận thức nhu cầu: là việc phát hiện ra bản thân đang đòi hỏi những gì và cần được đáp ứng những gì, là sự khác nhau giữa lý tưởng và thực tế, điều này sẽ thúc đẩy cho người tiêu dùng có quyết định chọn dịch vụ sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Nhu cầu có thể bắt nguồn từ các yếu tố bên ngoài (gia đình, xã hội, các hình thức marketing của nhà cung cấp dịch vụ, quãng cáo,..) và các yếu tố bên ngoài ( muốn sử dụng dịch vụ, tự thể hiện mình,..). Tìm kiếm thông tin: là bước thứ hai sau khi nhận biết được nhu cầu cần được thỏa mãn. Để thỏa mãn nhu cầu đó thì người tiêu dùng cần phải tìm kiếm các nguồn thông tin có liên quan đến hàng hóa, dịch vụ đó. Các nguồn thông tin như sau: Thông tin cá nhân: gia đình, bạn bè, hàng xóm,… Thông tin thương mại: người bán hàng, nhà cung cấp, quảng cáo,… Thông tin phổ thông: các phương tiện thông tin đại chúng (tivi, radio, đài phát thanh,..) Thông tin thực tế: nghiên cứu, sử dụng dịch vụ,… Đánh giá các phương án: sau khi người tiêu dùng thu thập được các nguồn thông tin cần thiết về sản phẩm hay dịch vụ thì họ xem xét đến việc đánh giá các phương án để quyết định chọn mua thích hợp. nếu quyết định mua thì xem xét đến các yếu tố như: nên sử dụng dịch vụ nào là tốt nhất?, liệu nó có đáp ứng được như mong đợi không? .. Sau đó đi đến quyết định mua sản phẩm dịch vụ đó. Quyết định mua: là quá trình sau khi xem xét tất cả các yếu tố có liên quan, nếu mua thì lập tức nảy sinh ra các vấn đề như: mua ở đâu, khi nào, sử dụng dịch vụ nào, cước phí ra sau, thanh toán theo phương thức nào,… Hành vi sau mua: sau khi đã có quyết định mua sản phẩm dịch vụ đó thì người tiêu dùng có hai thái độ đối với việc sau khi đã sử dụng: Sự hài lòng: đặc tính (tính năng) của sản phẩm hay dịch vụ đã đáp ứng được mong đợi hoặc trên cả mong đợi của khách hàng. Sự không hài lòng: việc mua sản phẩm hay dịch vụ nó không phù hợp với mong muốn của người tiêu dùng, không làm thỏa mãn được nhu cầu của họ. 1.2.5 Giá trị thương hiệu Nhận biết thương hiệu: Mức độ nhận biết về thương hiệu nói lên khả năng một khách hàng có thể nhận dạng và phân biệt những đặc điểm của một thương hiệu trong một tập các thương hiệu có mặt trên thị trường. Khi một khách hàng quyết định tiêu dùng một thương hiệu nào đó, thứ nhất, họ phải nhận biết thương hiệu đó. Như vậy, nhận biết thương hiệu là yếu tố đầu tiên để khách hàng phân loại một thương hiệu trong một tập các thương hiệu cạnh tranh. Cho nên, nhận biết thương hiệu là một thành phần của giá trị thương hiệu (Aaker 1991; Keller 1998). Chất lượng cảm nhận: Một thương hiệu được người tiêu dùng cảm nhận chất lượng cao thì họ sẽ biểu hiện cảm xúc của mình đối với nó, vì họ thấy rằng, thương hiệu đó có những đặc tính làm cho họ thích thú nó và muốn sở hữu nó hơn thương hiệu khác, khi một người tiêu dùng có cảm nhận tích cực về chất lượng của một thương hiệu thì họ sẽ có khuynh hướng thể hiện một lòng ham muốn về thương hiệu đó. Tuy nhiên, để cảm nhận chất lượng của một thương hiệu, người tiêu dùng phải nhận biết nó. Chương 2 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP 2.1 Thực trạng sử dụng điện thoại di động Theo kết quả nghiên cứu về thị trường điện thoại di động châu Á- Thái Bình Dương trong quí 3-2011 được công ty nghiên cứu thị trường IDC công bố hôm 8-12, số lượng điện thoại thông minh được tiêu thụ ở thị trường Việt Nam tăng 48% nhờ sự tăng trưởng mạnh của hai nhãn hàng điện thoại thông minh Samsung và HTC. Thị trường điện thoại cơ bản cũng đạt sự tăng trưởng tốt trong cùng kỳ ở mức 42% bởi sự thúc đẩy của dòng điện thoại giá rẻ và điện thoại hai thẻ SIM. Nhìn chung, thị trường điện thoại di động tăng trưởng mạnh ở mức 43% so với quí trước. Điện thoại thương hiệu Việt lại có sự tương quan ngược lại so với mức tăng chung của thị trường. Trong đó, Viettel tiếp tục tăng trưởng ở các dòng điện thoại giá rẻ và chiếm phần lớn số lượng điện thoại thương hiệu Việt. Theo ông Võ Lê Tâm Thanh, chuyên viên phân tích thị trường thuộc nhóm nghiên cứu thiết bị người dùng của IDC Việt Nam cho rằng: "Với sự phát triển mạnh của Samsung và HTC, trong năm 2011, điện thoại thông minh là một mặt hàng có sức hút lớn và IDC dự báo lượng điện thoại thông minh được tiêu thụ đến cuối năm sẽ đạt tổng mức tăng trưởng 44% so với năm trước. Thị trường điện thoại thông minh ở Việt Nam còn nhiều tiềm năng và chúng tôi cho rằng tổng mức tăng trưởng sẽ đạt 51% trong năm 2012". Nokia vẫn tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu thị trường điện thoại di động ở phân khúc dòng giá rẻ, phố biến nhất là Nokia 1800 và 1280. Ngoài ra, điện thoại hai thẻ SIM Nokia X1-01 cũng có mức tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, sức tiêu thụ các dòng điện thoại thông minh của Nokia lại có sự sụt giảm mạnh do sự cạnh trạnh mạnh từ các hãng khác. Samsung đã trở thành người dẫn đầu trong thị trường điện thoại thông minh ở Việt Nam bởi sự phát triển mạnh của điện thoại thông minh sử dụng hệ điều hành Android. Điện thoại thương hiệu Việt còn duy trì mức tăng trưởng tốt là Viettel với sự tăng trưởng mạnh của hai dòng điện thoại V6102 và V6202. Quý 1/2012, Nokia chấm dứt 14 năm liên tục dẫn đầu thị trường điện thoại di động. Vị trí này nay thuộc về Samsung. Công ty này vượt cả Apple trên thị trường smartphone. Một cựu quản lý cao cấp của Nokia cho rằng Tổng giám đốc điều hành hiện thời của Nokia Stephen Elop đã lựa chọn chiến lược sai. Trong quý 1/2012, Samsung Electronics của Hàn Quốc đã gia tăng lượng cung so với cùng kỳ năm trước tới 36%, đạt 93,5 triệu thiết bị. Trong khi đó, Nokia đã cung cấp ra thị trường 82,7 triệu thiết bị, theo Reuters dẫn nguồn từ kết quả điều tra của Strategy Analytics. Các chuyên gia kết luận, quý 1/2012 là lần đầu tiên sau 14 năm Nokia để mất danh hiệu dẫn đầu thị trường điện thoại di động nói chung (tính theo mọi chủng loại), tụt xuống hạng hai của bảng xếp hạng này. Theo số liệu của Strategy Analytics, trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3/2012, Samsung đã chiếm 25,4% thị trường điện thoại di động thế giới còn Nokia chỉ chiếm 22,5%. "Quả táo California" (Apple) cũng thời gian này đã xuất xưởng 35,1 triệu chiếc iPhone, nâng lượng cung lên 89% so với cùng kỳ năm trước. Theo đánh giá của Strategy Analytics, mặc dù chỉ có một loại sản phẩm là iPhone, thị phần của Apple trên thị trường điện thoại di động thế giới nói chung trong quý 1/2012 là 9,5% (chiếm vị trí thứ ba). Samsung không chỉ trở thành nhà sản xuất điện thoại di động lớn nhất thế giới mà còn chiếm vị trí đầu tiên về lượng cung smartphone ra thị trường toàn cầu, cũng theo Strategy Analytics. Trong giai đoạn 3 tháng rồi, nhà cung cấp này đã bán ra 44,5 triệu chiếc smartphone. Điều đó cho phép họ chiếm thị phần 31% thị trường thế giới. Apple (với 35,1 triệu chiếc bán ra như nói ở trên) chiếm 24% (đứng thứ hai) trên thị trường smartphone thế giới. Trong quý 4/2011, cũng theo công ty phân tích Strategy Analyitcs, vị trí đầu trên thị trường smartphone thế giới thuộc về Apple! Lượng cầu cao với smartphone của Samsung đã cho phép hãng này kết thúc quý 1/2012 với các chỉ tiêu tài chính kỷ lục. Lợi nhuận đã đạt tối đa trong suốt lịch sử tính kết quả theo quý là 4,44 tỷ USD, tăng 81% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận hoạt động tăng 98% và cũng đạt giá trị kỷ lục 5,15 tỷ USD. Nói chung, theo Strategy Analytics, trong quý 1/2012, lượng cung điện thoại di động thế giới đã tăng so với cùng kỳ năm trước 3,3% đạt tới 368 triệu chiếc. 2.2 Thực trạng sử dụng điện thoại di động của sinh vi