Tình hình đầu tư của bảo việt nhân thọ qua các năm từ 2008-2010

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là loại hình doanh nghiệp thực hiện kinh doanh dịch vụ tài chính,do vậy, năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là khả năng về tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, thể hiện ở quy mô vốn chủ sở hữu, chất lượng các khoản dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, khả năng sinh lời và khả năng thanh toán đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh. Mọi doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đều có hai mục tiêu kinh doanh cơ bản đó là doanh nghiệp bảo hiểm phải có khả năng đáp ứng tất cả các nghĩa vụ tài chính của mình khi các nghĩa vụ đó phát sinh hoặc đến hạn. Khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính này của doanh nghiệp được gọi là khả năng thanh toán. Mục tiêu thứ hai là tối đa hoá giá trị của bản thân doanh nghiệp vì lợi ích của các cổ đông. Mức độ thành công của doanh nghiệp trong việc tạo ra lợi nhuận cho những người chủ của doanh nghiệp - bao gồm cả khả năng của doanh nghiệp về tạo ra lợi nhuận và nâng cao giá trị của doanh nghiệp - được gọi là khả năng sinh lời.

doc32 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 11/03/2013 | Lượt xem: 1452 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tình hình đầu tư của bảo việt nhân thọ qua các năm từ 2008-2010, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I)Năng lực tài chính của công ty bảo hiểm nhân thọ. 1.Năng lực tài chính của công ty bảo hiểm nhân thọ 1.1.Khái niệm về năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là loại hình doanh nghiệp thực hiện kinh doanh dịch vụ tài chính,do vậy, năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là khả năng về tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, thể hiện ở quy mô vốn chủ sở hữu, chất lượng các khoản dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, khả năng sinh lời và khả năng thanh toán đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh. Mọi doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đều có hai mục tiêu kinh doanh cơ bản đó là doanh nghiệp bảo hiểm phải có khả năng đáp ứng tất cả các nghĩa vụ tài chính của mình khi các nghĩa vụ đó phát sinh hoặc đến hạn. Khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính này của doanh nghiệp được gọi là khả năng thanh toán. Mục tiêu thứ hai là tối đa hoá giá trị của bản thân doanh nghiệp vì lợi ích của các cổ đông. Mức độ thành công của doanh nghiệp trong việc tạo ra lợi nhuận cho những người chủ của doanh nghiệp - bao gồm cả khả năng của doanh nghiệp về tạo ra lợi nhuận và nâng cao giá trị của doanh nghiệp - được gọi là khả năng sinh lời. . Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ: Năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể được đánh giá dựa vào các yếu tố định lượng. Các yếu tố định lượng thể hiện nguồn lực tài chính hiện có bao gồm quy mô vốn, chất lượng dự phòng nghiệp vụ, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu sau: vốn điều lệ ban đầu, lợi nhuận không chia và tăng vốn bổ sung vốn điều lệ. Vốn điều lệ ban đầu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được các cổ đông đóng góp. Vốn điều lệ của doanh nghiệp không được thấp hơn vốn pháp định theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. Theo khoản 1 điều 4 Nghị định 46/2007/NĐ-CP của Chính phủ, "Mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm: Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: 300.000.000.000 đồng Việt Nam Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ: 600.000.000.000 đồng Việt Nam" Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đều có vốn điều lệ ban đầu cao hơn so với vốn pháp định theo quy định của pháp luật.Hiện tại Bảo Việt nhân thọ đang có số vốn điều lệ là 1.500 tỷ đồng,đã vượt mức quy định rất nhiều. Theo thông lệ chung, doanh nghiệp bảo hiểm thường phải trích lập một quỹ dự trữ bắt buộc từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp để bổ sung vào vốn chủ sở hữu nhằm đảm bảo mức độ an toàn và thận trọng hơn. Theo điều 31 Nghị định 46/2007/NĐ-CP của Chính phủ, “doanh nghiệp bảo hiểm phải trích 5% lợi nhuận sau thuế hàng năm để lập quỹ dự trữ bắt buộc. Mức tối đa của quỹ dự trữ bắt buộc bằng 10% mức vốn điều lệ của doanh nghiệp”. Vốn chủ sở hữu cung cấp năng lực tài chính cho doanh nghiệp trong quá trình tăng trưởng, mở rộng quy mô hoạt động, cũng như việc phát triển và khuyếch trương các sản phẩm dịch vụ mới; tạo niềm tin, sự cam kết và gây dựng uy tín với chủ hợp đồng. Vốn chủ sở hữu có chức năng bảo vệ doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp chống lại các rủi ro về khả năng thanh toán, phá sản, bù đắp những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ; bảo vệ chủ hợp đồng trước những cam kết đã được thiết lập với doanh nghiệp. Do đó, có thể khẳng định, vốn chủ sở hữu là yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, thể hiện sức mạnh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ. Dự phòng nghiệp vụ Dự phòng nghiệp vụ là một đặc thù riêng có của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng. Đó là khoản dự trữ liên quan đến từng nghiệp vụ bảo hiểm, tương ứng với trách nhiệm của từng hợp đồng bảo hiểm. Theo điều 96 Luật kinh doanh bảo hiểm, dự phòng nghiệp vụ là: "1. Dự phòng nghiệp vụ là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết. 2. Dự phòng nghiệp vụ phải được trích lập riêng cho từng nghiệp vụ bảo hiểm và phải tương ứng với phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm. 3. Bộ Tài chính quy định cụ thể về mức trích lập, phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ đối với từng nghiệp vụ bảo hiểm." Dự phòng nghiệp vụ bao gồm: a) Dự phòng toán học là khoản chênh lệch giữa giá trị hiện tại của số tiền bảo hiểm và giá trị hiện tại của phí bảo hiểm sẽ thu được trong tương lai, được sử dụng để trả tiền bảo hiểm đối với những trách nhiệm đã cam kết khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; b) Dự phòng phí chưa được hưởng: là khoản dự phòng cho phần doanh thu chưa được hưởng từ phần phí bảo hiểm đã thanh toán trước tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm,và được tính cho tất cả các hợp đồng còn hiệu lực vào ngày kết thúc năm tài chính. c) Dự phòng bồi thường: là khoản dự phòng cho tất cả các khoản bồi thường đã nộp nhưng đang trong quá trình giải quyết giải quyết vào ngày kết thúc kỳ kế toán năm. d) Dự phòng chia lãi: là khoản dự phòng cho phần lãi tích lũy chưa trả đối với các hợp đồng được chia lãi. đ) Dự phòng bảo đảm cân đối: là khoản dự phòng chung cho số tiền bảo hiểm phải trả trong trường hợp có sự chênh lệch đáng kể giữa tỷ lệ tử vong giả định hoặc lãi suất kỹ thuật so với thực tế. Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ được phép lựa chọn và đề nghị Bộ Tài chính phê chuẩn phương pháp và cơ sở trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm theo quy định tại điểm 3.4 khoản 3 Mục III Thông tư này. Trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp và cơ sở trích lập dự phòng nghiệp vụ khác thì phải bảo đảm cho kết quả dự phòng nghiệp vụ cao hơn và được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản trước khi áp dụng. Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ không được phép thay đổi phương pháp và cơ sở trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm trong năm tài chính. Trong trường hợp thay đổi phương pháp và cơ sở trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm cho năm tài chính kế tiếp, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phải đề nghị và được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản trước khi áp dụng. Phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ: Dự phòng toán học: Phương pháp trích lập: theo phương pháp phí bảo hiểm thuần được điều chỉnh bởi hệ số Zillmer 3% số tiền bảo hiểm. Phí bảo hiểm thuần được điều chỉnh dùng để tính dự phòng không được cao hơn 90% phí bảo hiểm thực tế thu được. Nguyên tắc tính dự phòng: dự phòng toán học theo phương pháp phí bảo hiểm thuần được điều chỉnh Zillmer 3% số tiền bảo hiểm tính theo nguyên tắc sau: Dự phòng toán học  =  Giá trị hiện tại của tổng số tiền bảo hiểm sẽ phải trả trong tương lai  -  Giá trị hiện tại của tổng số phí bảo hiểm thuần điều chỉnh Zillmer 3% số tiền bảo hiểm sẽ thu trong tương lai   c) Cơ sở tính dự phòng: doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ sử dụng các cơ sở sau đây để tính dự phòng toán học: + Bảng tỷ lệ tử vong quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này (Bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980). + Lãi suất kỹ thuật tối đa bằng 80% lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm tại thời điểm gần nhất trước thời điểm trích lập dự phòng. d) Dự phòng toán học được coi là bằng 0 trong trường hợp tính theo phương pháp và cơ sở nêu trên cho ra kết quả là số âm. Dự phòng phí chưa được hưởng a) Phương pháp trích lập theo tỷ lệ phần trăm của tổng phí bảo hiểm: + Đối với nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không: bằng 25% của tổng phí bảo hiểm giữ lại thuộc năm tài chính của nghiệp vụ bảo hiểm này. + Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm khác: bằng 50% của tổng phí bảo hiểm giữ lại thuộc năm tài chính của các nghiệp vụ bảo hiểm này. b) Phương pháp trích lập theo hệ số của thời hạn hợp đồng bảo hiểm: + Phương pháp 1/8: Phương pháp này giả định phí bảo hiểm thuộc các hợp đồng bảo hiểm phát hành trong một quý của doanh nghiệp bảo hiểm phân bố đều giữa các tháng trong quý, hay nói một cách khác, toàn bộ hợp đồng bảo hiểm của một quý cụ thể được giả định là có hiệu lực vào giữa quý đó. Dự phòng phí chưa được hưởng sẽ được tính theo công thức sau: Dự phòng phí chưa được hưởng  =  Phí bảo hiểm giữ lại  X  Tỷ lệ phí bảo hiểm chưa được hưởng   Ví dụ: Dự phòng phí chưa được hưởng tại thời điểm 31 tháng 12 năm 2007 được tính như sau: Đối với các hợp đồng bảo hiểm có thời hạn 1 năm và còn hiệu lực vào ngày 31 tháng 12 năm 2007: Thời điểm hợp đồng bảo hiểm hết hiệu lực  Tỷ lệ phí bảo hiểm chưa được hưởng   Năm  Quý    2008  I  1/8    II  3/8    III  5/8    IV  7/8   Đối với hợp đồng bảo hiểm có thời hạn trên 1 năm: Tỷ lệ phí bảo hiểm chưa được hưởng theo công thức trên sẽ có mẫu số bằng thời hạn của hợp đồng bảo hiểm (tính bằng số năm) nhân với 8. Dự phòng phí chưa được hưởng tại thời điểm 31 tháng 12 năm 2007 của hợp đồng bảo hiểm có thời hạn 2 năm và còn hiệu lực vào ngày 31 tháng 12 năm 2007 được tính như sau: Thời điểm hợp đồng bảo hiểm hết hiệu lực  Tỷ lệ phí bảo hiểm chưa được hưởng   Năm  Quý    2008  I  1/16    II  3/16    III  5/16    IV  7/16   2009  I  9/16    II  11/16    III  13/16    IV  15/16   + Phương pháp 1/24: Phương pháp này giả định phí bảo hiểm thuộc các hợp đồng bảo hiểm phát hành trong một tháng của doanh nghiệp bảo hiểm phân bố đều trong tháng, hay nói một cách khác, toàn bộ hợp đồng bảo hiểm của một tháng cụ thể được giả định là có hiệu lực vào giữa tháng đó. Dự phòng phí chưa được hưởng sẽ được tính theo công thức sau: Dự phòng phí chưa được hưởng  =  Phí bảo hiểm giữ lại  X  Tỷ lệ phí bảo hiểm chưa được hưởng   Ví dụ: Dự phòng phí chưa được hưởng tại thời điểm 31 tháng 12 năm 2007 được tính như sau: Đối với hợp đồng bảo hiểm có thời hạn 1 năm và còn hiệu lực vào ngày 31 tháng 12 năm 2007: Thời điểm hợp đồng bảo hiểm hết hiệu lực  Tỷ lệ phí bảo hiểm chưa được hưởng   Năm  Tháng    2008  1  1/24    2  3/24    3  5/24    4  7/24    5  9/24    6  11/24    7  13/24    8  15/24    9  17/24    10  19/24    11  21/24    12  23/24   Đối với hợp đồng bảo hiểm có thời hạn trên 1 năm: Tỷ lệ phí bảo hiểm chưa được hưởng theo công thức trên sẽ có mẫu số bằng thời hạn của hợp đồng bảo hiểm (tính bằng số năm) nhân với 24. Dự phòng phí chưa được hưởng tại thời điểm 31 tháng 12 năm 2007 của hợp đồng bảo hiểm có thời hạn 2 năm và còn hiệu lực vào ngày 31 tháng 12 năm 2007 được tính như sau: Thời điểm hợp đồng bảo hiểm hết hiệu lực  Tỷ lệ phí bảo hiểm chưa được hưởng   Năm  Tháng    2008  1  1/48    2  3/48    3  5/48    4  7/48    5  9/48    6  11/48    7  13/48    8  15/48    9  17/48    10  19/48    11  21/48    12  23/48   2009  1  25/48    2  27/48    3  29/48    4  31/48    5  33/48    6  35/48    7  37/48    8  39/48    9  41/48    10  43/48    11  45/48    12  47/48   c) Phương pháp trích lập dự phòng phí theo từng ngày: Phương pháp này có thể được áp dụng để tính dự phòng phí chưa được hưởng đối với hợp đồng bảo hiểm thuộc mọi thời hạn theo công thức tổng quát sau: Dự phòng phí chưa được hưởng   Phí bảo hiểm giữ lại X Số ngày bảo hiểm còn lại của hợp đồng bảo hiểm    =  ---------------------------------------------------------------     Tổng số ngày bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm   Dự phòng bồi thường: được trích theo phương pháp từng hồ sơ với mức trích lập được tính trên cơ sở thống kê số tiền bảo hiểm phải trả cho từng hồ sơ đã yêu cầu đòi bồi thường doanh nghiệp bảo hiểm nhưng đến cuối năm tài chính chưa được giải quyết. Dự phòng chia lãi: chỉ áp dụng với những hợp đồng có lãi chia được tích lũy qua các năm hợp đồng bảo hiểm và được tính theo công thức sau: Dự phòng chia lãi  =  Tổng lãi công bố chia cho chủ hợp đồng trong năm tài chính  +  Giá trị tích lũy của lãi đã công bố chia cho chủ hợp đồng trong các năm tài chính trước nhưng chưa chi trả   Dự phòng bảo đảm cân đối: được trích lập hàng năm cho đến khi khoản dự phòng này bằng 5% phí bảo hiểm thu được trong năm tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm. Mức trích lập hàng năm là 1% từ lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp bảo hiểm. Khả năng thanh toán C. Khả năng thanh toán Khả năng thanh toán theo nghĩa chung là khả năng của doanh nghiệp đáp ứng ngay các nghĩa vụ tài chính phát sinh. Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, khả năng thanh đề cập đến khả năng duy trì vốn và lợi nhuận để lại cao hơn mức tiêu chuẩn tối thiểu về vốn và lợi nhuận để lại do luật định.Việc không đáp ứng được tiêu chuẩn này có thể dẫn đến việc các cơ quan quản lý ngành bảo hiểm sẽ kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Việc thiếu khả năng duy trì mức tiêu chuẩn tối thiểu bắt buộc về vốn và lợi nhuận để lại của một doanh nghiệp bảo hiểm được gọi là mất khả năng thanh toán. Tại Việt Nam, chỉ tiêu này được gọi là chỉ tiêu khả năng thanh toán, được quy định rất cụ thể theo Quyết định số 153/2003/QĐ-BTC "Chỉ tiêu khả năng thanh toán được tính bằng tỷ lệ giữa nguồn vốn, quỹ xác định biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định hiện hành. Nguồn vốn, quỹ để xác định biên khả năng thanh toán là nguồn vốn, quỹ trừ đi số vốn góp vào doanh nghiệp bảo hiểm khác và nợ không có khả năng thu hồi." Chỉ tiêu này được tính như sau: chỉ tiêu khả năng thanh toán   Nguồn vốn, quỹ xác định biên khả năng thanh toán    =      Biên khả năng thanh toán tối thiểu   Biên khả năng thanh toán tối thiểu bằng tổng của 4% dự phòng nghiệp vụ và 0,1 % số tiền bảo hiểm chịu rủi ro (đối với hợp đồng có thời hạn dưới 5 năm) hoặc 0,3% số tiền bảo hiểm chịu rủi ro (đối với hợp đồng trên 5 năm). Số tiền bảo hiểm chịu rủi ro là phần chênh lệch giữa tổng số tiền bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực và tổng dự phòng nghiệp vụ” Theo điều 15,NĐ 46 2007 ND-CP ,cũng quy định về khả năng thanh toán của DN Bảo Hiểm: “Doanh nghiệp bảo hiểm được coi là có đủ khả năng thanh toán khi đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và có biên khả năng thanh toán không thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu”   Trong đó: Phần dự phòng được trích lập đầy đủ đã được nêu ở phần trên Biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm là phần chênh lệch giữa giá trị tài sản và các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp bảo hiểm tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán. Tính thanh khoản của các tài sản khi tính biên khả năng thanh toán được xác định như sau: Các tài sản được chấp nhận toàn bộ giá trị hạch toán: Các khoản tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, trái phiếu chính phủ. Các tài sản tương ứng với các hợp đồng bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư. Các tài sản bị loại trừ toàn bộ giá trị hạch toán: Các khoản vốn góp để thành lập doanh nghiệp bảo hiểm khác từ nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bảo hiểm; Tài sản tương ứng với quỹ khen thưởng, phúc lợi (nếu có); Các khoản nợ không có khả năng thu hồi theo quy định của pháp luật sau khi trừ đi các khoản trích lập dự phòng nợ khó đòi tương ứng; Tài sản cố định vô hình trừ phần mềm máy tính; Chi phí trả trước, cho vay không có bảo lãnh, các khoản tạm ứng, trang thiết bị và đồ dùng văn phòng, các khoản phải thu nội bộ; Phải thu phí bảo hiểm và phí nhận tái bảo hiểm quá hạn trên 2 năm sau khi trừ đi các khoản trích lập dự phòng nợ khó đòi tương ứng theo quy định của pháp luật; Các khoản cho vay, đầu tư trở lại cho các cổ đông hoặc người có liwên quan quy định tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp trừ trường hợp là các khoản tiền gửi ngân hàng. Các tài sản bị loại trừ một phần giá trị hạch toán: Các tài sản đầu tư: a) Trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh: loại trừ 1% giá trị hạch toán; b) Trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh: loại trừ 3% giá trị hạch toán; c) Cổ phiếu được niêm yết: loại trừ 15% giá trị hạch toán; d) Cổ phiếu không được niêm yết: loại trừ 20% giá trị hạch toán; đ) Đầu tư trực tiếp vào bất động sản do chính doanh nghiệp sử dụng: loại trừ 8% giá trị hạch toán; e) Đầu tư trực tiếp vào bất động sản để cho thuê, các khoản cho vay thương mại có bảo lãnh: loại trừ 15% giá trị hạch toán; g) Vốn góp vào các doanh nghiệp khác trừ doanh nghiệp bảo hiểm: loại trừ 20% giá trị hạch toán. Các khoản phải thu: a) Phải thu phí bảo hiểm và phí nhận tái bảo hiểm quá hạn từ 90 ngày đến dưới 1 năm sau khi trừ đi các khoản trích lập dự phòng nợ khó đòi tương ứng theo quy định của pháp luật: loại trừ 30%; b) Phải thu phí bảo hiểm và phí nhận tái bảo hiểm quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm sau khi trừ đi các khoản trích lập dự phòng nợ khó đòi tương ứng theo quy định của pháp luật: loại trừ 50%. Tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình là phần mềm máy tính và hàng tồn kho: loại trừ 25% giá trị hạch toán. Tài sản khác: loại trừ 15% giá trị hạch toán. STT  Chỉ tiêu  2008  2009  2010   1  Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành (lần)  2,89  1,56  0,39   2  Tỷ số khả năng thanh toán nhanh (lần)  2,85  1,54  0,388     Xét chỉ tiêu tỷ số khả năng thanh toán hiện hành, tỷ số khả năng thanh toán nhanh trong giai đoạn 2008-2010, xu hướng giảm dần của cả ba chỉ tiêu cũng có thể nhìn thấy rõ trong bảng trên,đặt biệt là từ năm 2008 từ 2,89 xuống còn 0,39 năm 2010. Doanh nghiệp bảo hiểm thường có tỷ số thanh toán nhanh và tỷ số khả năng thanh toán hiện hành khá cao, nhằm đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ chi trả phát sinh của doanh nghiệp bảo hiểm khi các sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với người được bảo hiểm. Không chỉ có vậy, trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, không có sự khác biệt lớn giữa tỷ số khả năng thanh toán hiện hành và tỷ số khả năng thanh toán nhanh do giá trị hàng tồn kho của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ không lớn. Hàng tồn kho của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chủ yếu là các vật dụng,phiếu thu chi các loại ... Do vậy, đây là một dấu hiệu cho thấy khả năng thanh toán của Bảo Việt đang gặp một số vấn đề,cho dù vẫn đảm bảo khả năng chi trả .Một phần nguyên nhân có thể là do trong cơ cấu nợ ngắn hạn của Bảo Việt Nhân Thọ, tốc độ gia tăng về các khoản phải nợ tăng nhanh chóng.Nếu như trong năm 2008 các khoản nợ ngắn hạn là 351.179 tỷ đồng thì đến năm 2010 là 3,222,730 tỷ đồng, tức là tăng tới 8 lần dẫn tới tỷ số khả năng thanh toán hiện thời của Bảo Việt Nhân Thọ đã có xu hướng giảm dần khá lớn, đặc biệt năm 2009 là 1,54 và năm 2010 là chỉ còn 0,388. Điều này cho thấy Bảo Việt nhân thọ đang sử dụng đòn bẩy tài chính quá nhiều,việc này sẽ khiến khả năng chi trả lãi vay tăng mạnh,ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng thanh toán của Bảo Việt Nhân Thọ. Khả năng sinh lời Mặc dù khả năng sinh lời có thể đạt được và đo lường trong một thời kỳ ngắn hạn, nhưng các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải luôn nỗ lực theo đuổi khả năng sinh lời dài hạn. Khả năng sinh lời dài hạn giúp cho một doanh nghiệp bảo hiểm có thể: Có các nguồn tài chính để tài trợ đầu tư Trả lãi chia cho các hợp đồng có chia lãi Trả cổ tức cho các cổ đông và tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư Nâng cao thứ hạng từ các tổ chức đánh giá xếp hạng Cung cấp nguồn tài chính cho việc phát triển sản phẩm, các nhóm sản phẩm, và các kênh phân phối Cung cấp nguồn tài chính để mở rộng và mua lại các doanh nghiệp khác Thước đo khả năng sinh lời sử dụng cả báo cáo kết quả kinh doanh và bảng tổng kết tài sản là tỉ lệ lợi tức trên vốn (ROE. Tỉ lệ này thường được biểu diễn như sau: ROE = Thu nhập sau thuế/Vốn chủ sở hữu Tỉ lệ lợi
Luận văn liên quan