Tóm tắt Luận án Nghiên cứu hiệu quả điều trị loét da mạn tính của cao TG

Loét da mạn tính (chronic skin ulcer - CSU) là tổn thương thường thấy trong lâm sàng ngoại khoa và gặp ở nhiều bệnh. Về khái niệm, loét da mạn tính là tổn thương kéo dài hơn 4 tuần không có xu hướng liền một cách đáng chú ý hoặc tái diễn thường xuyên. Các vết thương mạn tính làm suy sụp người bệnh và là một gánh nặng rất lớn đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe. Mặc dù đã có những cố gắng đặc biệt trong phòng ngừa và điều trị nhưng cho tới nay, các vết loét da mạn tính vẫn là một thách thức đối với y học hiện đại.

docx28 trang | Chia sẻ: lecuong1825 | Ngày: 18/07/2016 | Lượt xem: 603 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Nghiên cứu hiệu quả điều trị loét da mạn tính của cao TG, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN QUÂN ĐỘI LƯƠNG THỊ KỲ THỦY  NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ LOÉT DA MẠN TÍNH CỦA CAO TG Chuyên ngành : Y học cổ truyền Mã số : 62 72 02 01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC HÀ NỘI - 2016 CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN QUÂN ĐỘI Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ ĐÌNH ROANH PGS.TS. PHẠM VIẾT DỰ Phản biện 1: PGS. TS. Lê Lương Đống Phản biện 2: PGS. TS. Lê Văn Đoàn Phản biện 3: TS. Phạm Thị Vân Anh Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước tại Viện Y học cổ truyền Quân đội Vào hồi giờ ngày tháng năm 2016 CÓ THỂ TÌM HIỂU LUẬN ÁN TẠI: - Thư viện Quốc gia - Thư viện Thông tin Y học Trung ương - Thư viện Viện Y học cổ truyền Quân đội  ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do lựa chon đề tài Loét da mạn tính (chronic skin ulcer - CSU) là tổn thương thường thấy trong lâm sàng ngoại khoa và gặp ở nhiều bệnh. Về khái niệm, loét da mạn tính là tổn thương kéo dài hơn 4 tuần không có xu hướng liền một cách đáng chú ý hoặc tái diễn thường xuyên. Các vết thương mạn tính làm suy sụp người bệnh và là một gánh nặng rất lớn đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe. Mặc dù đã có những cố gắng đặc biệt trong phòng ngừa và điều trị nhưng cho tới nay, các vết loét da mạn tính vẫn là một thách thức đối với y học hiện đại. Loét da mạn tính, theo y học cổ truyền, với các chứng trạng lở loét cục bộ, đau ngứa liên miên không dứt, khỏi rồi lại tái phát. Y dược học cổ truyền được sử dụng để phòng ngừa và điều trị loét da mạn tính từ rất lâu. Ứng dụng y học cổ truyền vào điều trị loét da mạn tính hiện đang là xu thế ngày càng được thế giới quan tâm khai thác nhiều hơn. “Cao TG” hay dầu lòng đỏ trứng gà được nói đến trong “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) và trong cuốn “Bản thảo cương mục, Bộ gia cầm” (Lý Thời Trân 1518-1593), là thuốc được dùng để trị liệu các chứng lở, loét, có tác dụng thanh nhiệt, giảm nhiễm khuẩn, giảm đau, làm ẩm da và giúp hình thành các mô. Tuy nhiên, ở cả trong và ngoài nước, thành phần, cơ chế và hiệu quả điều trị của cao TG đối với loét da mạn tính vẫn chưa được nghiên cứu. 2. Mục tiêu của đề tài: 1. Xác định thành phần hóa học và tính an toàn của cao TG. 2. Nghiên cứu tác dụng của cao TG đối với loét da mạn tính trên mô hình thỏ thực nghiệm. 3. Đánh giá hiệu quả điều trị lâm sàng của cao TG trên các vết loét da mạn tính độ II, III. 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Xác định được thành phần cơ bản của cao TG. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy cao TG, có hiệu quả điều trị tốt đối với loét da mạn tính: kích thích tăng sinh, tăng di trú và hoạt hóa nguyên bào sợi, tăng sinh tổng hợp chất nền ngoại bào, tăng sinh mạch và tăng tái tạo biểu mô, giảm MMP9, giảm phá hủy chất nền ngoại bào giúp làm nhanh liền vết loét da mạn tính. Đưa ra được giả thuyết về cơ chế tác dụng của cao TG trong điều trị loét da mạn tính. Cung cấp bài thuốc đơn giản, dễ sản xuất, có thể áp dụng rộng rãi trong điều trị loét da mạn tính. Đề tài đã áp dụng thành công mô hình nghiên cứu loét da mạn tính trên động vật thực nghiệm làm cơ sở cho các nghiên cứu tương tự. 4. Cấu trúc luận án: Luận án gồm: 129 trang. Đặt vấn đề: 3 trang; Tổng quan: 33 trang; Đối tượng và phương pháp: 25 trang; Kết quả: 37 trang; Bàn luận: 29 trang; Kết luận: 1 trang; Kiến nghị: 1 trang; 158 tài liệu tham khảo (tiếng Việt: 21, tiếng Anh: 119, tiếng Trung: 18); 29 bảng; 1 biểu đồ; 68 hình; 14 phụ lục. Chương 1: TỔNG QUAN 1.1. Đặc điểm mô học của da Thành phần chính của chân bì là chất nền ngoại bào (extracellular matrix - ECM). Hiểu biết cấu trúc và vai trò chìa khóa của ECM trong liền vết thương quyết định thành công của điều trị loét da mạn tính. 1.2. Sinh bệnh học của liền vết thương cấp tính Quá trình liền vết thương cấp tính trải qua bốn giai đoạn: Giai đoạn xung huyết; viêm; tăng sinh; tái tạo và sửa chữa ECM. 1.3. Loét da mạn tính theo y học hiện đại Loét da mạn tính không liền theo trật tự và thời gian thường thấy, mặc dù được chăm sóc tích cực, liền vết thương vẫn thất bại. Các rối loạn bệnh lý tại chỗ: (1) Giảm các yếu tố tăng sinh mô; (2) Mất cân bằng giữa men thủy phân protein và chất ức chế; (3) Xuất hiện tế bào già yếu. 1.3.5. Điều trị loét da mạn tính Điều trị toàn thân (theo bệnh lý). Điều trị tại chỗ: cắt lọc hoại tử; chống viêm, chống nhiễm khuẩn; duy trì cân bằng ẩm; điều trị tại chỗ bằng các tác nhân sinh học, ghép da và các liệu pháp khác. Tuy nhiên, cho tới nay, loét da mạn tính vẫn là thách thức lớn đối với y học hiện đại, vẫn chưa có thuốc hoặc phương pháp điều trị nào đặc hiệu. 1.4. Quan điểm của y học cổ truyền về loét da mạn tính. Theo Danh pháp y học cổ truyền, loét da mạn tính thuộc các phạm trù ác sang (mụn nhọt độc lở loét), ung dương (mụn nhọt), sang dương (mụn nhọt, lở ngoài da), ung thư (ung nhọt), hay sang ung (sưng nóng, mủ), tịch sang (tỳ nén), kim sang (vết thương do đao thương). Bệnh căn: “nguyên do từ hư rồi cảm tà, tà và hư dẫn đến ứ, từ ứ gây trở ngại rồi thương tổn chính khí”. Bản của bệnh là hư, tiêu của bệnh là thực. Chính khí không đủ, âm khí lưỡng hư là gốc của căn bệnh, có sự liên kết giữa dư tà thấp và nhiệt, khí huyết ứ trệ là dấu hiệu của nó. “Hư” và “ứ” là nguyên nhân then chốt làm cho vết loét không liền miệng. Vương Nhã Kiệt và Khuyết Hoa Phát (2009) đã chia chứng trạng lâm sàng thành: thấp nhiệt ứ trở, khí hư huyết ứ và tỳ hư thấp thịnh. Lấy pháp “thanh – hóa – bổ” làm cốt áp dụng cho từng thể bệnh mà có 1) Thanh nhiệt, trừ thấp, hóa ứ, sinh cơ điều trị chứng thấp nhiệt ứ trở; 2) Ích khí, hóa ứ, sinh cơ điều trị chứng khí hư huyết ứ; 3) Kiện tỳ trừ thấp sinh cơ điều trị chứng tỳ hư thấp thịnh để đạt được cái đích là “khứ hủ sinh cơ, cơ bình bì trưởng”. 1.5. Các mô hình loét da mạn tính trên thực nghiệm. Năm 1979, Rudolph R đưa ra mô hình gây vết loét da trên động vật bằng tiêm Adriamycin dưới da. Thời gian tổn thương >50 ngày (chuột) và từ 45 - 65 ngày (thỏ) phù hợp cho các nghiên cứu thực nghiệm. 1.6. Cao TG Cao TG, tên trong đề tài của cao trứng gà, cũng được Tuệ Tĩnh (thế kỷ thứ 14) nhắc đến trong “Nam dược thần hiệu - Mười khoa chữa bệnh”, dùng điều trị nhọt lở, các thứ lở và bị phỏng. Cao trứng gà chế theo phương pháp gia nhiệt truyền thống đã có tính vị: cam, ôn, không độc. Phương thuốc được sử dụng trong các bệnh da liễu, loét, bỏng Rastegar F. và cộng sự (2011) nghiên cứu hiệu quả điều trị liền vết thương bỏng độ III của dầu lòng đỏ trứng gà trên thực nghiệm cho thấy vết bỏng liền nhanh, biểu mô tái tạo hoàn toàn, không thành sẹo. Mặc dù được sử dụng trên lâm sàng điều trị các bệnh da mạn tính, thẩm mỹ, nhưng thành phần, hiệu quả điều trị loét da mạn tính của cao TG còn chưa được nghiên cứu cả trong nước và nước ngoài. Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Thuốc và các hoá chất nghiên cứu Cao TG được sản xuất tại khoa Dược - Viện Y học cổ truyền Quân đội. Cao lỏng được bào chế tỷ lệ 6g dược liệu/ml (hình 2.1). 2.2. Đối tượng nghiên cứu Xác định thành phần cao TG: 6 mẫu cao TG được lấy ngẫu nhiên trong một lô sản phẩm mới sản xuất. Xác định tính an toàn của cao TG: Kích ứng da: 03 thỏ chủng Newzealand White. Nghiên cứu độc tính cấp đường tiêm dưới da và đường uống: Chuột nhắt trắng chủng Swiss, (Viện Vệ sinh dịch tễ TƯ). Mỗi lô ít nhất 10 con. Nghiên cứu độc tính cấp trên da: 36 thỏ chủng Newzealand White. Hình 2.1. Dạng đóng gói của cao TG Độc tính bán trường diễn trên da: 30 thỏ chủng Newzealand White. Nghiên cứu hiệu quả điều trị của cao TG trên thực nghiệm: 30 thỏ chủng Newzealand White. Đánh giá hiệu quả điều trị lâm sàng: 64 vết loét da mạn tính độ II, độ III trên 59 bệnh nhân điều trị nội, ngoại trú tại các khoa: A1, A2, A6, A7, A10, A15, B1A, B1B, B1C Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 10/2012 đến tháng 4/2015. * Tiêu chuẩn lựa chọn: các vết loét da mạn tính độ II, III * Tiêu chuẩn loại trừ: loại trừ các vết loét da độ IV, các vết loét giang mai, lao, hủi; các bệnh nhân suy giảm miễn dịch toàn thân, bệnh hệ thống, tâm thần, bệnh lý về máu, các bệnh nhân nguy kịch đến tính mạng, không chịu hợp tác, bỏ trong thời gian điều trị. 2.3. Phương pháp nghiên cứu 2.3.1. Xác định thành phần hóa học và tính an toàn của cao TG 2.3.1.1. Xác định thành phần hóa học của cao TG Xác định acid béo bằng sắc ký khí khối phổ (GC/MS). Định lượng một số kim loại bằng máy đo quang phổ hấp thụ nguyên tử. Xác định pH trên thiết bị Seven Easy. 2.3.1.2. Xác định tính an toàn của cao TG * Nghiên cứu độc tính cấp:  theo đường uống, đường tiêm dưới da (hướng dẫn của WHO) và bôi trên da (hướng dẫn của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). * Nghiên cứu độc tính bán trường diễn đường ngoài da 90 ngày trên thỏ theo hướng dẫn 411 của OECD, 1981. 2.3.2. Nghiên cứu hiệu quả điều trị của cao TG trên mô hình thực nghiệm loét da mạn tính. Phương pháp: Nghiên cứu thực nghiệm đối chứng tự thân trên động vật. Sử dụng mô hình thực nghiệm gây loét bằng Adriamycin trên thỏ theo Rudolph R và cộng sự (1979). * Thiết lập mô hình điều trị thử nghiệm cao TG Trên mỗi thỏ tiến hành song song 2 phương pháp điều trị: Vết loét chứng: Nhóm 1 (10 thỏ): Thay băng, rửa và đắp vết loét bằng gạc tẩm dung dịch NaCl 0,9%. Nhóm 2 (20 thỏ): bôi mỡ silver sulfadiazine (SS). Vết loét nghiên cứu (30 thỏ): bôi cao TG. Thay băng: 2 ngày/lần, chụp ảnh vết loét. Địa điểm thực hiện: Labo Nghiên cứu ứng dụng trong điều trị bỏng, Viện bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác. Hình 2.5. Đo diện tích vết loét trên chương trình Image Pro Plus, * Đánh giá hiệu quả điều trị về đại thể Đo kích thước thực hiện trên các ảnh chụp vết loét (với thước chuẩn (cm) AskinaÒ, B.Braun) ở thời điểm bắt đầu điều trị, sau 14 ngày và 22 ngày bằng phần mềm Image Pro Plus 4.5 (Mỹ) chế độ polygon (hình 2.5). Đánh giá hiệu quả của cao TG bằng tỉ lệ giảm kích thước vết loét: Tỉ lệ giảm kích thước vết loét (%) = (kích thước ban đầu – kích thước ở thời điểm kiểm tra)/ (kích thước ban đầu) x 100. Đánh giá hiệu quả điều trị trên thực nghiệm bằng hệ thống tính điểm DESIGN của Sanada H và cộng sự (2004) (bảng 2.2). * Nghiên cứu mô bệnh học Sinh thiết vết loét 3 lần: bắt đầu điều trị, ngày thứ 14, ngày thứ 22. - Xét nghiệm mô bệnh học: Nhuộm HE (hematoxylin eosin), đọc trên kính hiển vi quang học. - Phương pháp hóa mô miễn dịch: Chọn ngẫu nhiên các mẫu sinh thiết của 5 động vật, nhuộm hóa mô miễn dịch xác định sự có mặt của các kháng nguyên CD34; Vimentin; MMP9 theo kỹ thuật nhuộm ABC. - Nghiên cứu siêu cấu trúc: Làm tiêu bản các mẫu sinh thiết, đọc kết quả trên kính hiển vi điện tử quét (JSM 5410LV, JEOL, Nhật), và kính hiển vi điện tử truyền qua (JEM 1400, JEOL, Nhật Bản). 2.3.3. Đánh giá hiệu quả điều trị của cao TG trên lâm sàng Phương pháp thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu dọc và cắt ngang Điều trị toàn thân: theo phác đồ. Điều trị tại chỗ: Chuẩn bị vết loét: tiến hành làm sạch bề mặt, cắt lọc. Tất cả các vết loét được thay băng, rửa sạch và bôi thuốc 1 lần/ngày. Cách dùng thuốc: Xịt cao TG lên bề mặt vết loét 1 lần/ngày. Liều lượng: 0,5 - 1 ml cao TG/1000 mm2 da. Phủ lớp gạc mỏng và cố định. * Phương pháp đánh giá hiệu quả điều trị trên lâm sàng Đo kích thước vết loét: Đo kích thước trên ảnh chụp ở các thời điểm: bắt đầu điều trị, giữa và kết thúc điều trị bằng phần mềm Image Pro Plus 4.5 (Mỹ) chế độ polygon. Bảng 2.2. Cách tính điểm các vết loét dựa trên các chỉ tiêu DESIGN Chỉ tiêu DESIGN Giá trị Điểm Độ sâu Độ I, II, III, IV Tiết dịch - Không; - Ít đến trung bình; - Nhiều 0; 3; 6 Kích thước (mm2) 0; <400; 400 đến <1600; 1600 đến < 3600; 3600 đến < 6400; 6400 đến < 10000; ≥ 10000 0; 3; 6; 8; 9; 12; 15 Nhiễm trùng Không; Triệu chứng rõ hoặc nhiễm trùng tại chỗ 0; 3 Mô hạt Mô hạt không xác định (vết thương liền) Mô hạt chiếm ≥50% diện tích vùng tổn thương Mô hạt chiếm < 50% diện tích vùng tổn thương 0 3 6 Mô hoại tử Không; Có 0; 3 Hốc Không; Có 0; 6 Đánh giá thay đổi diện tích vết loét thông qua: kích thước trước và sau điều trị, tỉ lệ giảm kích thước và tỉ lệ liền hoàn toàn (<100mm2). Tỉ lệ giảm kích thước vết loét (%) = (kích thước ban đầu – kích thước ở thời gian kiểm tra)/ (kích thước ban đầu) x 100. Đánh giá hiệu quả điều trị trên lâm sàng bằng hệ thống tính điểm DESIGN của Sanada H và cộng sự (2004) (bảng 2.2). - Thay đổi điểm chi tiết vết loét theo DESIGN: Sử dụng công thức: Thay đổi điểm của vết loét = (điểm lúc kiểm tra) – (điểm ban đầu) - Tỉ lệ điều trị hiệu quả đối với các vết loét Tỉ lệ hiệu quả (%) = (Số vết loét hiệu quả)/(số vết loét hiệu quả + số vết loét không hiệu quả) x 100. Có hiệu quả: giảm ≥50% tổng số điểm so với lúc bắt đầu điều trị. Không hiệu quả: giảm <50% tổng số điểm so với bắt đầu điều trị. Tỉ lệ liền vết thương hoàn toàn (%) = (số vết loét có kích thước £ 1cm2 khi kết thúc điều trị) *100/tổng số vết loét . 2.4. Xử lý số liệu: phân tích số liệu bằng phương pháp thống kê y học trên các phần mềm Excel và Epiinfo 7. 2.5. Đạo đức trong nghiên cứu: Cung cấp đầy đủ thông tin cho đối tượng tham gia nghiên cứu. Cao TG điều trị miễn phí. Hội đồng đạo đức y sinh trong nghiên cứu, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 chấp nhận. Chương 3: KẾT QUẢ 3.1. Thành phần hóa học và tính an toàn của cao TG. 3.1.1. Thành phần hóa học của cao TG. Thành phần của cao TG được thể hiện trong bảng 3.1 và 3.3.  Bảng 3.1. Thành phần các acid béo trong cao TG Stt Thành phần n Hàm lượng (mg/ml) ( ±SD) 1 Palmitic acid (C16:0) 6 21,01±0,63 2 Palmitoleate (C16:1) 6 1,72±0,16 3 Stearic acid (C18:0) 6 15,27±1,55 4 Oleic acid (C18:1) 6 38,13±3,20 5 Linolenic acid (18:2) 6 6,79±0,64 6 Arachidonic acid (C20:4) 6 1,14±0,09 7 Docosahexaenoic acid (C22:6) 6 1,77±0,30 8 Cholesterol 6 21,01±0,63 Thành phần chủ yếu của cao TG là các acid béo mạch dài: acid oleic (omega-9), acid linolenic (omega-3, omega-6), acid docosahexaenoic (DHA), acid arachidonic (một dạng omega-6) và cholesterol. Cao TG có chứa magiê (Mg): 3,28±0,63ppm, kẽm (Zn): 14,55±2,78ppm và một số kim loại khác. pH 5,2±0,2, có tính acid. 3.1.2. Tính an toàn của cao TG. Xác định độc tính cấp của cao TG Kết quả xác định độc tính cấp của cao TG theo đường tiêm dưới da: chưa xác định được LD50 của cao TG bằng đường tiêm dưới da với thể tích, nồng độ cao TG cao nhất 60g nguyên liệu/kg thể trọng chuột. Kết quả xác định độc tính cấp theo đường uống: chưa xác định được LD50 của cao TG theo đường uống bằng phương pháp Litchfield – Wilcoxon với liều uống tối đa 450 mg nguyên liệu/kg thể trọng. Kết quả xác định độc tính cấp của cao TG theo đường ngoài da Không xác định được liều gây chết 50% số động vật (LD50) của cao TG với liều cao nhất là 14,4g/kg trọng lượng theo đường ngoài da. Nghiên cứu độc tính bán trường diễn của cao TG. Sau 6 tuần và 12 tuần bôi cao TG, không thấy biểu hiện gì đặc biệt ở cả nhóm chứng và 2 nhóm nghiên cứu. Các xét nghiệm chức năng tạo máu, chức năng gan, thận ở cả 2 nhóm nghiên cứu khác nhau không có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng và trước bôi thuốc (p > 0,05). Kết quả mô bệnh học gan, thận và da vùng bôi thuốc không phát hiện tổn thương. Cao TG không gây độc tính bán trường diễn trên thực nghiệm. 3.2. Hiệu quả điều trị loét da mạn tính của cao TG trên thực nghiệm. 3.2.1. Kết quả gây vết loét da mạn tính thực nghiệm trên thỏ Gây thành công 2 vết loét da trên cả 30 thỏ, các vết loét có kích thước, đặc điểm tổn thương đồng đều. Thời gian tạo vết loét trung bình 21,3±2,6 ngày, kích thước trung bình 11,1±3,5 cm2. 3.3.2. Hiệu quả điều trị của cao TG Thời gian điều trị: Bảng 3.13. So sánh thời gian điều trị giữa các nhóm (ngày) Nhóm n ±SD p NaCl 0,9% (1) 10 29,9±2,4 p1-2<0,01 Mỡ SS (2) 20 26,7±2,0 p2-3<0,001 Cao TG (3) 30 22,3±2,9 p1-3<0,001 Thời gian liền vết thương của nhóm điều trị, ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với cả 2 nhóm chứng (p<0,001), (t test). Kết quả thay đổi kích thước vết loét: Bảng 3.14. Thay đổi kích thước vết loét sau điều trị 14 ngày và 22 ngày Thời gian Nhóm n ± SD p Sau điều trị ngày 14 Cao TG (1) 30 2,99±1,31 p1-2<0.05 NaCl (2) 10 5,48±2,11 p1-3<0.05 Mỡ SS (3) 20 4,95±1,57 p2-3>0,05 Sau điều trị ngày 22 Cao TG (1) 30 0,52±0,55 p1-2<0.01 NaCl (2) 10 3,44±1,31 p1-3<0.01 Mỡ SS (3) 20 2,15±0,67 p2-3<0,05 Nhóm điều trị cao TG giảm nhanh hơn so với chứng (p<0,01). Tỉ lệ liền hoàn toàn vết thương: được tính bằng tỉ lệ vết loét liền hoàn toàn hoặc kích thước < 1cm2 ở ngày thứ 22. Bảng 3.15. So sánh hiệu quả liền hoàn toàn vết thương ở ngày thứ 22 Nhóm Hiệu quả Không hiệu quả Tổng p Cao TG (1) 29 (96,7%) 1 (3,3%) 30 p1-2 <0,001; NaCl 0,9% (2) 1 (10%) 9 (90%) 10 p1-3 <0,001; Mỡ SS (3) 11 (55%) 9 (45%) 20 p2-3 <0,05 Tổng 41 19 60 Cao TG có tỉ lệ liền vết thương cao hơn có ý nghĩa so với chứng (p<0,001). (Fisher test). Kết quả đánh giá vết loét theo tổng điểm DESIGN. Bảng 3.16. So sánh điểm DESIGN giữa các nhóm. Nhóm Tổng điểm DESIGN p Ngày 0 ngày 14 ngày 22 NaCl 0,9% (n=10) 21,01 16,8±2,9 11,1±3,51 pn0-n22<0,05 Mỡ SS (n=20) 21,3±0,72 16,5±3,2 12,5±3,12 pn0-n22<0,05 Cao TG (n=30) 21,2±0,63 6,3±0,9 0,9±1,63 pn0-n14,n22<0,01  p p1-2-3>0,05 p1-2,3<0,01 p1-2,3<0,01 Sau 14 và 22 ngày điều trị nhóm dùng cao TG tổng điểm giảm nhanh hơn có ý nghĩa so với 2 nhóm chứng (p<0,01). (t test) Hiệu quả điều trị theo tỉ lệ giảm trên 50 % tổng sô điểm DESIGN Bảng 3.17. So sánh hiệu quả điều trị giữa các nhóm theo DESIGN Nhóm Hiệu quả Không hiệu quả Tổng p Cao TG (1) 29 (96,7%) 1 (3,3%) 30 p1-3 <0,05, NaCl 0,9% (2) 4 (40%) 6 (60%) 10 p1-2<0,001, Mỡ SS (3) 15 (75%) 5 (25%) 20 p2-3 >0,05 Tổng 45 15 60 Tỉ lệ điều trị hiệu quả của cao TG cao hơn có ý nghĩa so với chứng (p<0,05, p<0,001).(Fisher test). Kết quả nghiên cứu mô bệnh học Các vết loét tạo được trên thỏ tương đối đồng đều: mô hoại tử đông, thâm nhiễm tế bào viêm (hình 3.6). ab Hình 3.6 và hình 3.10. Mô bệnh học vết loét da điều trị bằng cao TG. a - 3.6. Bắt đầu điều trị, hoại tử đông (**), tế bào viêm (®). b 3.10 Nhóm điều trị cao TG ngày thứ 14. Nguyên bào sợi (NBS) (®), tăng sinh mạch (¬- -), tế bào biểu bì (**). Các nhóm chứng vẫn biểu hiện quá trình viêm sau 14 ngày điều trị. NBS và mạch tăng sinh ở mức độ vừa sau 22 ngày. Ở nhóm điều trị bằng cao TG hình ảnh tăng sinh NBS, tăng sinh mạch chiếm ưu thế, một số xuất hiện các dải tế bào biểu mô vào ngày thứ 14 (hình 3.10). Cấu trúc chất nền ngoại bào gần giống với da bình thường, biểu bì mỏng che phủ sau 22 ngày điều trị: Kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch Nhuộm CD34: Hình 3.14. Nhuộm kháng thể kháng CD34 mẫu da điều trị cao TG, ngày 14. mạch máu dương tính với CD34 nâu đậm. (thỏ 22). X400 (trích). Mức độ dương tính với CD34 của các nhóm khác biệt theo thời gian. Các nhóm chứng dương tính kém với CD34 ở ngày thứ 14, dương tính mạnh vào ngày thứ 22. Nhóm điều trị cao TG có mức độ dương tính rất mạnh với CD34 vào ngày thứ 14 và giảm sau 22 ngày điều trị. Nhuộm với kháng thể kháng vimentin. Hình 3.15 Nhuộm kháng thể kháng vimentin, cao TG ngày 14. x400. Các mẫu da vết loét bắt đầu đều âm tính với vimentin. Ngày thứ 14, các mẫu chứng dương tính nhẹ với vimentin, tăng mạnh ở ngày thứ 22. Nhóm điều trị cao TG dương tính rất mạnh với vimentin vào ngày thứ 14 và giảm ở ngày thứ 22. Nhuộm kháng thể kháng MMP9 Hình 3.16. Mẫu vết loét nhóm chứng NaCl 0,9% ngày 14, dương tính mạnh với kháng thể kháng MMP9. x400. Các vết loét khi bắt đầu điều trị đều dương tính mạnh với MMP9. Sau 14 ngày, các vết loét chứng dương tính mạnh với MMP9, giảm ở ngày thứ 22. Nhóm điều trị cao TG dương tính với MMP9 giảm từ ngày thứ 14 và chỉ còn rải rác ở ngày thứ 22. Kết quả nghiên cứu siêu cấu trúc Ðặc điểm siêu cấu trúc vết loét da mạn tính trước điều trị. thâm nhập của các tế bào viêm, chất nền ngoại bào giảm mật độ, các bó sợi collagen bị đứt đoạn, trương phồng, tan rã, NBS thoái hóa. Hình 3.18. Chất nền ngoại bào trước điều trị. Collagen, bó sợi col
Luận văn liên quan