Tóm tắt Luận văn Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt và gay gắt đòi hỏi công tác quản lý, quản trị doanh nghiệp nói chung và công tác kiểm tra - kiểm soát nói riêng cần phải được hết sức coi trọng. Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) trở thành một yêu cầu cấp thiết với các doanh nghiệp nói chung và các công ty cổ phần (CTCP) nói riêng - mô hình doanh nghiệp phổ biến nhất trong nền kinh tế hội nhập. Tuy nhiên, một thực trạng khá phổ biến hiện nay tại Việt Nam là phương pháp quản lý của nhiều CTCP chưa thật hợp lý, hệ thống kiểm tra, giám sát trong công ty còn lỏng lẻo và chưa thực sự được tuân thủ nghiêm chỉnh. Qua thực tiễn nghiên cứu, với mong muốn góp phần hoàn thiện hệ thống KSNB nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các CTCP trên địa bàn Thành phố Hà nội, tôi đã thực hiện luận văn với đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần trên địa bàn Thành phố Hà Nội”. Kết cấu: Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương: Chương 1. Tổng quan chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần; Chương 2. Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần trên địa bàn Thành phố Hà nội; Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần trên địa bàn Thành phố Hà nội

pdf18 trang | Chia sẻ: thientruc20 | Ngày: 12/08/2021 | Lượt xem: 109 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tóm tắt Luận văn Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần trên địa bàn Thành phố Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
i LỜI MỞ ĐẦU Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt và gay gắt đòi hỏi công tác quản lý, quản trị doanh nghiệp nói chung và công tác kiểm tra - kiểm soát nói riêng cần phải được hết sức coi trọng. Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) trở thành một yêu cầu cấp thiết với các doanh nghiệp nói chung và các công ty cổ phần (CTCP) nói riêng - mô hình doanh nghiệp phổ biến nhất trong nền kinh tế hội nhập. Tuy nhiên, một thực trạng khá phổ biến hiện nay tại Việt Nam là phương pháp quản lý của nhiều CTCP chưa thật hợp lý, hệ thống kiểm tra, giám sát trong công ty còn lỏng lẻo và chưa thực sự được tuân thủ nghiêm chỉnh. Qua thực tiễn nghiên cứu, với mong muốn góp phần hoàn thiện hệ thống KSNB nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các CTCP trên địa bàn Thành phố Hà nội, tôi đã thực hiện luận văn với đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần trên địa bàn Thành phố Hà Nội”. Kết cấu: Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương: Chương 1. Tổng quan chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần; Chương 2. Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần trên địa bàn Thành phố Hà nội; Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần trên địa bàn Thành phố Hà nội. CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1.1. Lý luận chung về kiểm soát trong quản lý Trong quan hệ với tổ chức bộ máy, quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực đã xác định để đạt mục tiêu đã đề ra. Kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch. ii Kiểm soát là một chức năng của quản lý, gắn liền với quản lý, ở đâu có quản lý ở đó có kiểm soát. 1.1.2. Khái niệm Hệ thống kiểm soát nội bộ Theo quan điểm của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 Hệ thống KSNB được định nghĩa như sau: “Hệ thống KSNB là các qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và có hiệu quả tài sản của đơn vị. Hệ thống KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát”. 1.1.3. Vai trò chủ yếu của Hệ thống kiểm soát nội bộ Một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ mang lại cho công ty nhiều lợi ích: Thứ nhất là giúp ban lãnh đạo công ty giảm bớt tâm trạng bất an về những rủi ro, nhất là về con người và tài sản; thứ hai là giúp ban lãnh đạo công ty giảm tải trọng những công việc, sự vụ hàng ngày và để chỉ tập trung vào vấn đề chiến lược; thứ ba là giúp ban lãnh đạo công ty chuyên nghiệp hoá công tác quản lý điều hành. 1.2. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.2.1. Môi trƣờng kiểm soát Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm: Đặc thù về quản lý Các đặc thù về quản lý đề cập tới quan điểm khác nhau trong điều hành hoạt động CTCP của nhà quản lý. Các quan điểm đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, các quy định và cách thức tổ chức kiểm tra kiểm soát trong CTCP. Cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong CTCP sẽ góp phần tạo ra môi trường kiểm soát tốt. Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành các quyết định, triển khai các quyết định đó cũng như kiểm tra giám sát việc thực hiện các quyết định đó trong toàn bộ CTCP. Chính sách nhân sự Sự phát triển của một doanh nghiệp luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên và họ luôn là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát cũng như chủ thể trực tiếp iii thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của CTCP. Công tác kế hoạch Việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến hành khoa học và nghiêm túc thì hệ thống kế hoạch và dự toán đó sẽ trở thành công cụ kiểm soát rất hữu hiệu. Ban kiểm soát Ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của CTCP như thành viên của hội đồng quản trị (HĐQT) nhưng không kiêm nhiệm các chức vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát. Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát chung của một doanh nghiệp còn phụ thuộc vào các nhân tố bên ngoài. Thuộc nhóm các nhân tố này bao gồm: Sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước, ... 1.2.2. Hệ thống kế toán Hệ thống kế toán của CTCP bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng báo cáo tài chính và báo cáo quản trị. Hệ thống thông tin kế toán cung cấp thông tin chính xác và kịp thời cho nhà quản trị để ra những quyết định kinh doanh hợp lý. Vì vậy, có thể khẳng định hệ thống kế toán là một mắt xích quan trọng trong hệ thống KSNB. 1.2.3. Các thủ tục kiểm soát Nhà quản lý của CTCP thiết kế các thủ tục kiểm soát nhằm ngăn ngừa và phát hiện sai sót, gian lận, đảm bảo thực hiện các mục tiêu cụ thể của công ty. Các bước kiểm soát và thủ tục kiểm soát được thiết kế rất khác nhau ở nghiệp vụ khác nhau ở những đơn vị khác nhau. Các thủ tục kiểm soát do các nhà quản lý xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc phân công phân nhiệm, nguyên tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn. 1.2.4. Kiểm toán nội bộ Bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp doanh nghiệp có được những thông tin kịp thời và xác thực về các hoạt động trong CTCP, chất lượng của hoạt động kiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh và bổ sung các quy chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả. iv 1.3. NHỮNG HẠN CHẾ CỐ HỮU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ Một hệ thống KSNB hoàn hảo ngăn ngừa mọi hậu quả xấu có thể xảy ra là điều phi thực tế. Thực tế cho thấy ta chỉ có thể tổ chức một hệ thống KSNB sao cho đảm bảo hạn chế tối đa những sai phạm mà thôi. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân sau: Thứ nhất là chi phí hợp lý: đa số những nhà quản lý sẽ không muốn thực hiện thủ tục kiểm soát mà chi phí lớn hơn lợi ích nó mang lại; thứ hai là sự giới hạn cố hữu: cho dù hệ thống do con người thiết kế ra là lý tưởng nó vẫn phụ thuộc vào khả năng và tính độc lập của người sử dụng nó. 1.4. ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ YÊU CẦU, MỤC TIÊU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1.4.1. Đặc điểm chung về công ty cổ phần 1.4.1.1. Khái niệm về công ty cổ phần Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. 1.4.1.2. Đặc trưng và tính ưu việt của công ty cổ phần CTCP có những ưu điểm nổi trội sau: CTCP có khả năng huy động vốn nhanh chóng; phương thức quản lý chặt chẽ; rủi ro phân tán, giảm bớt tổn thất cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, CTCP vẫn còn những mặt trái của nó, thể hiện trên các điểm: Việc thành lập CTCP phức tạp hơn các loại hình công ty khác; các cổ đông lớn vẫn có điều kiện để thao túng hoạt động cũng như chiến lược phát triển của công ty. Ngoài ra, vấn đề quản lý điều hành CTCP rất phức tạp có thể dẫn đến tình trạng các nhóm cổ đông đối kháng nhau về lợi ích. 1.4.2. Mục tiêu, yêu cầu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần KSNB là một chức năng thường xuyên trong công ty và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu của công ty: Thứ nhất là mục tiêu bảo vệ tài sản của công ty; thứ hai là mục tiêu đảm bảo độ tin cậy của các thông tin; mục tiêu tuân thủ pháp luật và các quy định, chính sách, chế độ, thể lệ, quy tắc của công ty; và cuối cùng là mục tiêu đảm bảo hiệu quả của hoạt động và hiệu năng quản lý. v CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ CHỌN MẪU ĐIỀU TRA 2.1.1. Đặc điểm của công ty cổ phần trên địa bàn Thành phố Hà Nội Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của thủ đô, số lượng các CTCP đã gia tăng nhanh chóng đến năm 2007 đã là 9067 công ty (tăng gần gấp đôi so với năm 2005), tập trung vào một số ngành như: thương mại, xây dựng, công nghiệp, vận tải, nông lâm thủy sản, đầu tư tài chính, ngân hàng, bảo hiểmHầu hết các CTCP trên địa bàn Hà Nội là các công ty có quy mô nhỏ. Mặc dù vậy, trong những năm gần đây các CTCP trên địa bàn thủ đô đã đóng góp đáng kể vào Ngân sách Nhà nước, trong năm 2007 mức đóng góp là 8.212 tỷ đồng mức cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây. 2.1.2 Chọn mẫu điều tra Nội dung cũng như phạm vi của đề tài tôi tiến hành nghiên cứu trực tiếp tại hai CTCP bao gồm CTCP Xà phòng Hà nội (HASO) và CTCP Đầu tư tài chính Bất động sản TÔGI (TOGI). Bên cạnh đó, tôi đã tiến hành gửi phiếu điều tra tới 50 CTCP có quy mô vừa và lớn (có vốn điều lệ trên 50 tỷ đồng) trên địa bàn Thành phố Hà nội và nhận được 15 phiếu trả lời. 2.2. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI. 2.2.1. Môi trƣờng kiểm soát Một là đặc thù quản lý Đối với HASO Với đặc thù là doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi sang CTCP chịu sự chi phối của Tổng công ty nên cho đến thời điểm hiện nay các chức vụ quản lý cao nhất của công ty đều do Tổng công ty Hóa chất Việt Nam bổ nhiệm, các quyết định đều do giám đốc công ty quyết định. Ban lãnh đạo công ty đã đề ra và thực thi nghiêm túc các nội quy, quy chế. vi Đối với TÔGI TÔGI luôn đề cao phương châm “bảo toàn và phát triển nguồn vốn” coi “đầu tư an toàn” là mục tiêu cao nhất sau đó là “phát triển hiệu quả nguồn vốn”. Chính vì vậy, ban lãnh đạo công ty rất coi trọng việc xây dựng một hệ thống KSNB. Ban lãnh đạo công ty rất quan tâm đến việc tạo dựng văn hóa công ty tạo môi trường làm việc nghiêm túc, khẩn trương, chuyên nghiệp. Đối với các CTCP nằm trong diện khảo sát khác Kết quả điều tra thực tế tại 15 CTCP cho thấy các nhà quản lý ở các công ty này hấu hết có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động, có niềm đam mê và trách nhiệm cao trong công việc và luôn là những người đi đầu làm gương cho các cán bộ nhân viên trong công ty. Hai là cơ cấu tổ chức công ty Đối với HASO Cơ cấu tổ chức của Công ty bao gồm đầy đủ các phòng ban được phân công những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể. Tuy nhiên, ban giám đốc công ty chỉ bao gồm 01 giám đốc và 01 phó giám đốc dẫn đến việc ra quyết định không hoàn toàn đảm bảo được tính chính xác. Hơn nữa, do có ít người trong ban quản lý nên việc kiểm tra, giám sát chéo lẫn nhau là không được hoặc khó được thực hiện. Đối với TÔGI Giám đốc công ty có trách nhiệm hoạch định chiến lược kinh doanh và lãnh đạo thực hiện các kế hoạch kinh doanh. Để thực hiện nhiệm vụ đó, Giám đốc ủy quyền cho các phó giám đốc. Cấp tiếp theo là trưởng, phó phụ trách các phòng giao việc cho các nhân viên trong phòng và kiểm soát việc thực hiện của nhân viên. Đối với các CTCP nằm trong diện khảo sát khác Các CTCP trên địa bàn Hà nội hiện nay xây dựng một cơ cấu tổ chức tương đối đầy đủ các bộ phận và phòng ban theo quy định chung của Luật doanh nghiệp và đặc thù hoạt động của các công ty. Tuy nhiên, việc bố trí nhân sự trong nhiều CTCP chưa hợp lý và còn gây ra sự chồng chéo; nhân sự kiêm nhiệm nhiều; cơ cấu tổ chức của một số công ty chưa cho phép hay tạo điều kiện để các phòng ban kiểm tra chéo lẫn nhau. vii Ba là chính sách nhân sự Đối với HASO Chính sách nhân sự của công ty tương đối rõ ràng. Công tác đào tạo của công ty luôn được quan tâm đặc biệt là việc đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề được tiến hành thường xuyên, còn đối với nhân viên nghiệp vụ việc đào tạo do trưởng phòng tự thực hiện. Ở từng vị trí công việc, công ty đều có các bảng mô tả công việc rõ ràng và được phổ biến cho từng nhân viên. Đối với TÔGI TÔGI luôn quan tâm đến chính sách đãi ngộ nhân viên. Nhân viên được cấp trưởng đánh giá, xem xét và đề xuất mức lương lên ban giám đốc duyệt. Việc tăng lương được ban giám đốc xem xét hàng tháng dựa trên hiệu quả công việc của từng cán bộ công nhân viên. Tuy nhiên công tác đào tạo nhân viên của công ty chưa được quan tâm thích đáng. Đối với các CTCP nằm trong diện khảo sát khác Qua thực tế khảo sát cho thấy một số công ty chưa có chính sách tuyển dụng nhân sự rõ ràng, cụ thể. Mặt khác, nhiều công ty chưa áp dụng cơ chế thuê giám đốc điều hành và kế toán trưởng. Hiện tại, ở nhiều công ty chưa có bản mô tả công việc tại từng vị trí. Tiếp đến, công tác đào tạo chưa được thực hiện một cách thường xuyên. Bốn là công tác kế hoạch Đối với HASO Từ các định hướng, mục tiêu phát triển của Tổng công ty, tình hình thực tế của công ty và trên cơ sở các kết quả năm trước, các bộ phận tiến hành lập kế hoạch chi tiết sau đó gửi lên phòng kế hoạch thị trường tổng hợp và xây dựng kế hoạch chính thức. Công tác giám sát theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch do phòng kế hoạch thị trường của công ty phụ trách. Đối với TOGI Phòng kế hoạch công ty xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn và kế hoạch hàng năm. Việc lập kế hoạch có sự đóng góp ý kiến của các bộ phận có liên quan. Giám đốc là người quyết định cuối cùng cho bản kế hoạch và trình lên HĐQT phê viii duyệt. Công ty thực hiện theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch cho từng thời kỳ, từng dự án đầu tư. Đối với các CTCP nằm trong diện khảo sát khác Kết quả khảo sát 15 CTCP trên địa bàn Thành phố Hà nội cho thấy công tác lập kế hoạch trong các công ty còn mang nặng tính hình thức. Một thực tế khá phổ biến hiện nay, ở các công ty không thấy sự giám sát việc tuân thủ kế hoạch. Các hoạt động trong công ty không thực hiện theo kế hoạch đã xây dựng, chính vì vậy kế hoạch còn thiếu tính khả thi. Năm là Ban kiểm soát Đối với HASO Ban kiểm soát của công ty hiện tại bao gồm 3 người. Thực tế ban kiểm soát của công ty hoạt động không hiệu quả, trách nhiệm cũng như quyền hạn của ban kiểm soát còn mang tính “vô hình” do tất cả các thành viên ban kiểm soát công ty đều giữ vị trí kiêm nhiệm. Bên cạnh đó, năng lực và trình độ của các thành viên ban kiểm soát chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. Đối với TÔGI Ban kiểm soát gồm có 3 thành viên, tính độc lập của các thành viên ban kiểm soát trong công ty bị ảnh hưởng do tất cả họ giữ vai trò kiêm nhiệm. Thành phần của ban kiểm soát đáp ứng được yêu cầu am hiểu kiến thức và chuyên môn của các kiểm soát viên về hoạt động của công ty. Đối với các CTCP nằm trong diện khảo sát khác Theo kết quả khảo sát tại 15 CTCP trên địa bàn Hà nội cho thấy hoạt động của ban kiểm soát trong các công ty này chưa thực sự hiệu quả. Các thành viên ban kiểm soát chưa hoàn toàn làm việc một cách độc lập mà còn làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Mặt khác, năng lực, trình độ của ban kiểm soát còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. Sáu là môi trường bên ngoài Đối với HASO Công ty chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan quản lý cấp trên là Tổng công ty Hóa chất Việt nam, kiểm toán độc lập. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty còn chịu tác động của các yếu tố lãi suất; những biến động về tỷ giá, ... ix Đối với TÔGI Vài năm trở lại đây công ty gặp nhiều khó khăn trong hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản do có sự thay đổi của các văn bản pháp quy là luật đất đai năm 2003 và Luật xây dựng năm 2004 và các văn bản pháp luật khác như luật cạnh tranh, luật đầu tư chứng khoán, ... 2.2.2. Hệ thống kế toán Đối với HASO Công ty áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Hiện nay công ty áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung. Hệ thống sổ kế toán bao gồm sổ cái các tài khoản và các sổ chi tiết. Hệ thống sổ chi tiết được theo dõi cho từng khách hàng (đối với các khoản công nợ), chi tiết theo từng loại tiền, từng ngân hàng (đối với các khoản tiền gửi), sổ chi tiết các khoản mục chi phí sản xuất Bên cạnh các báo cáo tài chính mang tính bắt buộc, công ty tiến hành lập các báo cáo quản trị để phục vụ mục đích quản lý điều hành công ty. Đối với TÔGI Hiện tại, công ty sử dụng phần mềm kế toán Effect, mỗi phân hệ kế toán được giao cho một nhân viên kế toán đảm nhiệm, các nhân viên này phải kiểm tra, đối chiếu giữa các chứng từ gốc để đảm bảo nghiệp vụ thực sự phát sinh và có chứng từ kế toán hợp lý, hợp lệ. Việc thiết kế, bố trí nhân sự làm công tác kế toán phù hợp với hệ thống phần mềm nghiệp vụ và được thực hiện theo quy trình. Đối với các CTCP nằm trong diện khảo sát khác Các công ty xây dựng hệ thống kế toán thực hiện theo chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Bên cạnh các báo cáo tài chính mang tính bắt buộc nhiều công ty vẫn chưa quan tâm đến các báo cáo kế toán quản trị và các báo cáo tác nghiệp – những báo cáo phục vụ đắc lực cho việc điều hành và tăng cường KSNB trong công ty. Việc thiết kế, bố trí nhân sự làm công tác kế toán phù hợp với hệ thống phần mềm nghiệp vụ và được thực hiện theo quy trình. x 1.2.3. Các thủ tục kiểm soát Đối với HASO Hiện tại công ty xây dựng quy chế tài chính, quy chế trả lương, các nội quy, quy định cho từng hoạt động nghiệp vụ của công ty như quy trình kiểm soát chất lượng, kiểm soát sản xuất, kiểm soát sản phẩm không phù hợp, các thủ tục đào tạo, thủ tục mua hàng, quy trình nhập khẩu nguyên vật liệu Công ty đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000. Đối với TOGI Hoạt động đầu tư tài chính chủ yếu của TÔGI đó là hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản và đầu tư chứng khoán trên thị trường tập trung với mục đích đầu tư dài hạn. TÔGI đã ban hành quy chế đầu tư. Quy chế này quy định về nguồn vốn đầu tư, lĩnh vực đầu tư, danh mục đầu tư và hạn mức đầu tư. Bên cạnh đó, công ty có các quy chế trả lương, quy chế tuyển dụng và các quy định, nội quy khác. Đối với các CTCP nằm trong diện khảo sát khác CTCP trên địa bàn Thành phố Hà nội đã xây dựng được một quy chế tài chính riêng cho đơn vị mình như một khung pháp lý làm cơ sở cho mọi hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên, việc xây dựng quy chế tài chính của một số công ty chỉ mang tính hình thức. Hơn nữa, việc phổ biến tuyên truyền và cập nhật quy chế và phương pháp áp dụng ở nhiều đơn vị chưa thực sự nghiêm túc. 1.2.4. Kiểm toán nội bộ Đối với HASO Hiện tại, HASO chưa có bộ phận kiểm toán nội bộ (KTNB) và theo kế hoạch trong một vài năm tới ban lãnh đạo công ty chưa có kế hoạch xây dựng bộ phận kiểm toán nội bộ trong tương lai gần. Các báo cáo tài chính của công ty hàng năm được thuê các công ty kiểm toán độc lập bên ngoài thực hiện. Đối với TÔGI Cũng giống như HASO hiện tại TÔGI chưa hình thành bộ phận KTNB, ban lãnh đạo cũng đã có kế hoạch xây dựng bộ phận kiểm toán nội bộ trong một vài năm tới. Hàng năm, công ty tiến hành thuê các công ty kiểm toán độc lập có uy tín thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính của công ty. xi Đối với các CTCP nằm trong diện khảo sát khác Trên thực tế ở các CTCP hiện nay, vai trò của KTNB vô cùng mờ nhạt, hoạt động chỉ mang tính hình thức, đa số các công ty không có bộ phận KTNB. Mặt khác, tính độc lập của kiểm toán viên nội bộ còn hạn chế do phòng KTNB của công ty là một bộ phận chịu sự quản lý của ban giám đốc, chính vì vậy có sự chồng chéo trong việc quản lý cũng như mục đích hoạt động của phòng KTNB. 2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG
Luận văn liên quan