Vai trò của đạo đức trong quản trị xã hội

Đạo đức là khái niệm hết sức phức tạp, khái niệm này vừa phổ biến trong dân gian, vừa đậm chất học thuật, bởi vậy nó được hiểu theo nhiều cách khác nhau trong nh ững thời gian, không gian, đối tượng khác nhau. Trong đời sống hàng ngày, đạo đức thường được quan niệm là đức hạnh, phẩm hạnh của con người, đó là những nét đẹp, nết tốt, những “phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức xã hội mà có”. Như vậy, trong cuộc sống thường ngày, khái niệm đạo đức được đồng nhất với ý thức, phẩm chất đạo đức cá nhân. Trong khoa học, đạo đức được hiểu theo nhiều nghĩa với những phạm vi rộng, hẹp khác nhau. Theo nghĩa hẹp, đạo đức là “những t iêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội (nói một cách tổng quát)”. Đạo đức là đạo làm người, là phép đối nhân, xử thế bao gồm tổng thể các chuẩn mực về các mối quan hệ t rong gia đình, làng xóm, cộng đồng, các chuẩn mực để tu thân, dưỡng tâm, rèn luyện khí tiết theo những định hướng giá trị nhất định . = “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bới niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”. Mặc dù có sự khác nhau về câu chữ song nhìn chung theo những cách hiểu này đạo đức được xem như là loại công cụ, phương tiện điều chỉnh hành vi con người trong các mối quan hệ xã hội. Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức có n ội h àm rất rộng bao gồm tư tưởng, lí tưởng đạo đức, quy tắc đạo đức, hành vi đạo đức, đánh giá đạo đức Nói cách khác, đạo đức được xem xét trong toàn bộ “cơ chế vận hành” của nó, từ khi nó được hình thành, tham gia điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cũng như tham gia vào cơ chế đánh giá hành vi con người. Theo cách hiểu này, đạo đức trước hết là hệ thống quan niệm, quan điểm, tư tưởng của cộng đồng (dân tộc, giai cấp, tôn giáo ) về thiện ác, tốt xấu, chân giả, vinh nhục, về sự công bằng, nghĩa vụ, danh dự và về những phạm trù khác thuộc đời sống tinh thần của xã hội, trong đó cơ bản và cốt lõi là quan điểm về điều thiện. Trên cơ sở các quan niệm, quan điểm đó, hệ thống quy tắc ứng xử của con người được hình thành. Những quan điểm, quan niệm, quy tắc này được các cá nhân tiếp thu, hấp thụ, được nội tâm hoá trở thành ý thức đạo đức cá

pdf10 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 15/11/2013 | Lượt xem: 2798 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vai trò của đạo đức trong quản trị xã hội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nghiªn cøu - trao ®æi 40 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 Ths. NguyÔn V¨n N¨m * ạo đức là khái niệm hết sức phức tạp, khái niệm này vừa phổ biến trong dân gian, vừa đậm chất học thuật, bởi vậy nó được hiểu theo nhiều cách khác nhau trong những thời gian, không gian, đối tượng khác nhau. Trong đời sống hàng ngày, đạo đức(1) thường được quan niệm là đức hạnh, phẩm hạnh của con người, đó là những nét đẹp, nết tốt, những “phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức xã hội mà có”.(2) Như vậy, trong cuộc sống thường ngày, khái niệm đạo đức được đồng nhất với ý thức, phẩm chất đạo đức cá nhân. Trong khoa học, đạo đức được hiểu theo nhiều nghĩa với những phạm vi rộng, hẹp khác nhau. Theo nghĩa hẹp, đạo đức là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội (nói một cách tổng quát)”.(3) Đạo đức là đạo làm người, là phép đối nhân, xử thế bao gồm tổng thể các chuẩn mực về các mối quan hệ trong gia đình, làng xóm, cộng đồng, các chuẩn mực để tu thân, dưỡng tâm, rèn luyện khí tiết theo những định hướng giá trị nhất định.(4) “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bới niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”.(5) Mặc dù có sự khác nhau về câu chữ song nhìn chung theo những cách hiểu này đạo đức được xem như là loại công cụ, phương tiện điều chỉnh hành vi con người trong các mối quan hệ xã hội. Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức có nội hàm rất rộng bao gồm tư tưởng, lí tưởng đạo đức, quy tắc đạo đức, hành vi đạo đức, đánh giá đạo đức…(6) Nói cách khác, đạo đức được xem xét trong toàn bộ “cơ chế vận hành” của nó, từ khi nó được hình thành, tham gia điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cũng như tham gia vào cơ chế đánh giá hành vi con người. Theo cách hiểu này, đạo đức trước hết là hệ thống quan niệm, quan điểm, tư tưởng của cộng đồng (dân tộc, giai cấp, tôn giáo…) về thiện ác, tốt xấu, chân giả, vinh nhục, về sự công bằng, nghĩa vụ, danh dự và về những phạm trù khác thuộc đời sống tinh thần của xã hội, trong đó cơ bản và cốt lõi là quan điểm về điều thiện. Trên cơ sở các quan niệm, quan điểm đó, hệ thống quy tắc ứng xử của con người được hình thành. Những quan điểm, quan niệm, quy tắc này được các cá nhân tiếp thu, hấp thụ, được nội tâm hoá trở thành ý thức đạo đức cá Đ * Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước Trường Đại học Luật Hà Nội nghiªn cøu - trao ®æi t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 41 nhân, nó có vai trò chỉ đạo, chi phối hành vi hàng ngày của mỗi người. Như vậy, những quan điểm, quan niệm, quy tắc đạo đức đã đi vào đời sống, chúng được hiện thực hoá thành những hành vi đạo đức một cách sống động, trở thành đạo đức trong cuộc sống. Sau cùng, đến lượt mình, hành vi đạo đức của các chủ thể lại trở thành đối tượng đánh giá của cộng đồng cũng như của chính bản thân chủ thể. Sự đánh giá này là mắt khâu của việc điều chỉnh bằng đạo đức đối với hành vi con người. Sự đồng tình hay phản đối của cộng đồng đối với hành vi của chủ thể không chỉ có vai trò củng cố ý thức đạo đức, hoàn thiện nhân cách, định hướng hành vi cho chính chủ thể đó mà còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành và hoàn thiện các quan niệm, quan điểm, quy tắc đạo đức xã hội. Tóm lại, theo nghĩa rộng, đạo đức được nhận thức cả từ góc độ ý thức (ý thức đạo đức xã hội và ý thức đạo đức cá nhân), cả từ góc độ thể chế (nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức), cả từ góc độ thực tiễn (hành vi đạo đức). Khái niệm rất gần với đạo đức và nhiều khi được sử dụng thay thế cho đạo đức đó là khái niệm luân lí.(7) Về mặt từ ngữ, “luân” là trật tự, “lí” là lẽ phải; luân lí là quy tắc, chuẩn mực được thừa nhận là đúng đắn nhằm thiết lập trật tự. Luân lí không đồng nhất với đạo đức, nó chỉ là bộ phận của đạo đức nhưng đó là phần kết tinh của đạo đức, là phần đạo đức ổn định, bền vững, được thừa nhận rộng rãi, trở thành phổ biến và có giá trị cho tất cả mọi người.(8) Trong mọi xã hội, từ cổ đại đến hiện đại, trên phạm vi toàn thế giới, ở đâu có con người, ở đó có đạo đức. Là một trong những phương tiện quan trọng bậc nhất để quản lí xã hội, đạo đức thể hiện những vai trò nổi bật sau đây: Một là đạo đức xã hội là hệ thống chuẩn mực để mỗi người tự tu thân, dưỡng tâm, rèn luyện nhân cách, lối sống. Nhân cách là những phẩm chất mang tính đặc trưng, tương đối ổn định của cá nhân, thể hiện ở những cách ứng xử của họ. Nhân cách là tổng hợp những đặc tính cá nhân, là kết quả cụ thể của quá trình kết hợp giữa vận động nội tâm của chủ thể với sự tác động đa chiều của môi trường bên ngoài.(9) “Ở Việt Nam khi nói đến nhân cách người ta thường nghĩ đến hai thành phần cơ bản: đức và tài hay phẩm chất và năng lực”.(10) Như vậy, đức (đạo đức) là phương diện căn bản, cốt yếu của nhân cách. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, không có tài thì làm việc gì cũng khó nhưng không có đức sẽ trở thành người vô dụng. Nhân cách của mỗi người, những phẩm chất đạo đức cá nhân không phải tự nhiên mà có, không phải là “bản tính” hay “bẩm sinh”. Sự hình thành và phát triển nhân cách chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó hệ thống thể chế xã hội mà nhất là đạo đức giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Tuỳ thuộc vào hệ chuẩn mực đạo đức của từng xã hội mà hình thành nên con người với những phẩm chất nhất định, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đó. Trên cơ sở hệ thống quan niệm, chuẩn mực đạo đức xã hội, các cá nhân lấy nghiªn cøu - trao ®æi 42 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 đó làm tiêu chuẩn để tu thân, dưỡng tâm, rèn luyện nhân cách, lối sống của mình. Nói một cách cụ thể hơn, đạo đức xác định những chuẩn mực trong giao tiếp, ứng xử mà chủ thể cần hướng tới, nó xác định hành vi nên làm, cần phải làm, không được làm. Nó làm hình thành ở mỗi người thói quen suy nghĩ và hành động phù hợp chuẩn mực xã hội. Đạo đức góp phần quan trọng tạo nên tính kiềm chế, hình thành phong cách sống điềm tĩnh, chủ động trong mọi tình huống. Nó khơi dậy tình cảm yêu thương, quý trọng con người, nó hướng con người xử sự phù hợp với điều thiện. Đạo đức góp phần xây dựng bản lĩnh cá nhân, tạo ra cơ chế phòng ngừa, miễn dịch trước những cám dỗ trong cuộc sống. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng và rèn luyện tinh thần làm việc tận tụy, ý thức trách nhiệm của cá nhân trước người khác và trước cộng đồng, trước Tổ quốc, nhân dân… Vai trò của đạo đức trong việc hình thành, phát triển nhân cách được thực hiện thông qua con đường nhận thức và hoạt động thực tiễn của chủ thể. Trước hết, thông qua gia đình, nhà trường, các thiết chế xã hội, thông qua giao tiếp hàng ngày, đặc biệt, thông qua việc tự ý thức, tự nỗ lực tiếp nhận của bản thân, những quan niệm, quan điểm, tư tưởng chuẩn mực đạo đức xã hội được các chủ thể tiếp thu, hấp thụ, được nội tâm hoá trở thành tri thức, tình cảm, nghĩa vụ, trách nhiệm đạo đức của họ, nói cách khác, trở thành ý thức đạo đức của cá nhân mỗi người. Bằng con đường này, chủ thể tự ý thức về địa vị của mình trong xã hội, ý thức về trách nhiệm và bổn phận của mình, tự xây dựng thành phương châm ứng xử, thành phong cách sống của mình. Điều này được rèn luyện theo thời gian, trở nên ổn định, trở thành những nét đẹp, nết tốt, thành đức hạnh, phẩm hạnh, trở thành nhân cách đạo đức của mỗi người. Nhận thức là cơ sở cho hành vi ứng xử của mỗi người, đến lượt mình, giao tiếp, ứng xử là sự hiện thực hoá kết quả của sự nhận thức, là sự vận dụng những quan điểm, chuẩn mực đạo đức đã được tiếp nhận vào thực tiễn cuộc sống. Nhờ hoạt động thực tiễn “mà lí tưởng trở nên kiên định, tình cảm trở nên sâu sắc, hành vi trở nên nhất quán và nói chung toàn bộ đời sống đạo đức của con người trở nên ổn định”.(11) Nói cách khác, thông qua hoạt động thực tiễn, những tri thức, tình cảm, nghĩa vụ đạo đức của cá nhân được củng cố, được khẳng định và trở nên sâu sắc hơn. Ở khía cạnh khác, sau mỗi hành vi ứng xử, chủ thể thường có sự tự xét mình, tự trách mình, tự đánh giá về bản thân mình, về cách đối nhân, xử thế của mình đồng thời từ phía cộng đồng xã hội cũng luôn có sự đánh giá đối với hành vi, ứng xử đó. Thông qua đánh giá từ phía xã hội sẽ xác định cách ứng xử nào được xã hội cho là đúng đắn, là tốt và ngược lại, qua đó sẽ góp phần củng cố nhận thức, tình cảm và cách ứng xử của chủ thể, góp phần hoàn thiện nhân cách của họ. Thông qua sự tự đánh giá, tự xét mình, tự trách mình, chủ thể càng ý thức sâu sắc hơn về bồn phận, trách nhiệm của mình. Tự xét mình, tự trách mình nghiªn cøu - trao ®æi t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 43 là tự ý thức về phẩm giá cá nhân, là sự chủ động, chân thành, tự giác ngộ, tự kiểm điểm với lương tâm và phẩm giá của mình. Tự xét mình, tự trách mình là thao tác cơ bản trong quan hệ mình với chính mình. Theo Francois Jullien: “Sự hiện diện của quan hệ mình với mình có giá trị vô song đối với nhân cách và bản lĩnh con người”.(12) Đây là đặc thù đồng thời là sức mạnh của đạo đức, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện nhân cách mỗi người. Như vậy, đạo đức xã hội là khuôn vàng thước ngọc cho mỗi người trong tác phong và hành động. Chính vì vậy, trên thực tế, bất cứ hệ thống đạo đức nào cũng đều bao hàm các quy tắc, chuẩn mực để mỗi người rèn luyện và tu dưỡng nhân cách.(13) Tuy nhiên, nhân cách con người có quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện gắn liền với sự trưởng thành và sự tham gia hoạt động xã hội của chủ thể. Vì vậy, tuỳ từng lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tuỳ từng giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, dân tộc, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng xã hội, từng thời đại mà có những chuẩn mực đạo đức riêng cho từng đối tượng để họ tu dưỡng, rèn luyện nhân cách, lối sống. Hai là đạo đức là công cụ quan trọng bậc nhất để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, trước hết là các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ, làng xóm, cộng đồng dân cư, tổ chức xã hội. Gia đình là hình thức cộng đồng người được xây dựng chủ yếu trên quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, các thành viên gắn bó hết sức chặt chẽ trong sự chi phối sâu sắc của tình cảm. Gia đình là môi trường lí tưởng trong việc giáo dục con người, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người. Gia đình tốt, cá nhân sẽ tốt, không có gia đình, con người không có điều kiện để phát triển và hoàn thiện. Gia đình là cái nôi của tình thương và trách nhiệm, tình cảm và trách nhiệm trong gia đình là cơ sở của tình cảm và trách nhiệm trước đồng loại. Gia đình là tế bào, là nền tảng của xã hội, là xã hội thu hẹp, vì vậy, “trong ấm, ngoài êm”, gia đình tốt, xã hội sẽ tốt, gia đình hoà thuận, hạnh phúc là cơ sở tạo nên xã hội ổn định, trật tự. Chính vì vậy, có thể nói, các hệ thống đạo đức đều hướng tới việc thiết lập và củng cố, giữ gìn trật tự, ổn định trong gia đình. Việt Nam và các nước Á Đông chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, ở những nước này, đạo đức có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn ổn định, trật tự trong gia đình. Theo quan điểm của Nho giáo, người quân tử muốn trị quốc, bình thiên hạ thì trước hết phải tu thân, tề gia. Trong “tam cương”(14) của Nho giáo có tới hai mối quan hệ là trong gia đình (quan hệ cha con, quan hệ chồng vợ). Ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”, “gia quy”, “gia lễ”, “gia pháp”, “gia phong” chính là những quy tắc ứng xử trong gia đình, trong đó bao gồm hầu hết là những chuẩn mực đạo đức hoặc được xây dựng trên nền tảng đạo đức. Không chỉ gia đình truyền thống mà cả gia đình hiện đại đều duy trì, bảo vệ mô hình của mình, xác định trách nhiệm, bổn phận của các thành viên trong gia đình chủ yếu bằng những chuẩn mực đạo đức. Có thể nói, trong gia nghiªn cøu - trao ®æi 44 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 đình truyền thống Việt Nam, một khi đạo đức trở nên bất lực mới có chỗ cho pháp luật và khi phải sử dụng pháp luật để xác định quyền, nghĩa vụ của mỗi thành viên thì gia đình đó có biểu hiện của sự lung lay. Chính sự xa rời chuẩn mực đạo đức trong gia đình đã tạo nên sự lung lay, bất ổn, thậm chí khủng hoảng, tan vỡ gia đình. Vì vậy, có thể nói, đạo đức là công cụ, phương tiện để xây dựng và bảo vệ gia đình, nó có vai trò hết sức quan trọng trong việc giữ gìn ổn định trật tự gia đình, giữ gìn lề thói gia đình, bảo vệ những giá trị truyền thống, giá trị văn hoá gia đình, đảm bảo gia đình ngày càng đầm ấm, hạnh phúc, bảo vệ gia đình khỏi những nguy cơ tan vỡ. Đạo đức điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình bằng cách xác định địa vị của từng thành viên trong gia đình, xác định trách nhiệm của mỗi thành viên đối với người khác cũng như đối với việc phát triển gia đình, giữ gìn kỉ cương, nền nếp gia phong, giữ gìn và phát huy truyền thống gia đình. Từ các mối quan hệ trong gia đình, đạo đức mở rộng phạm vi điều chỉnh tới các mối quan hệ trong họ hàng, làng xóm. Quan hệ huyết thống, thân tộc là sợi dây cố kết cộng đồng khá bền vững. Trong thời kì hiện đại, mặc dù quan hệ huyết thống, thân tộc không còn khả năng cố kết cộng đồng như trước đây, song “một giọt máu đào” vẫn “hơn ao nước lã”, “đi việc làng để giữ lấy họ, đi việc họ để giữ lấy anh em” vẫn là phương châm sống của người Việt. Nghiên cứu lịch sử Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trải qua hàng nghìn năm bị ngoại bang đô hộ nhưng dân tộc Việt Nam vẫn giành lại được độc lập chính là xuất phát từ yếu tố cố kết, gắn bó chặt chẽ trong các cộng đồng làng xã. Trong các cộng đồng ấy, người ta cần có nhau, biết sống vì nhau, từng cá nhân đều xác định được vị trí, vai trò, bổn phận, trách nhiệm của mình trước người khác và trước cộng đồng. Đạo đức chính là phương tiện quan trọng nhất đảm bảo sự gắn kết các mối quan hệ trong họ, ngoài làng, giữ gìn ổn định trật tự cộng đồng, giữ gìn tình làng nghĩa xóm theo phương châm “thứ nhất cận lân, thứ nhì cận thân”, “bán anh em xa mua láng giềng gần”. Nó là cơ sở của sự đoàn kết, yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn, lúc tối lửa tắt đèn. Đạo đức cũng có vai trò quan trọng trong việc thiết lập, giữ gìn, củng cố các mối quan hệ trong nội bộ các cơ quan, tổ chức trong xã hội. Có thể nói, tổ chức vững mạnh là do các thành viên đều tốt, có phẩm chất đạo đức, có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Chính vì vậy, bất kì cơ quan, tổ chức nào cũng đều đặt ra tiêu chí về phẩm chất đạo đức đối với các thành viên. Trong trường hợp này, đạo đức là cơ sở để mỗi thành viên tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, xây dựng lối sống, hoàn thiện nhân cách, giữ gìn kỉ luật của cơ quan, tổ chức, giữ quan hệ đúng mực, thân thiện với đồng chí, đồng nghiệp, góp phần làm hài hoà hoá các mối quan hệ trong nội bộ cơ quan, tổ chức. Ở khía cạnh khác, các mối quan hệ trong nội bộ cơ quan, tổ chức được điều chỉnh trước hết bằng thể chế do chính nó đặt ra. Tuy nhiên nhìn chung, hệ thống thể chế của các cơ quan, tổ chức có khá nhiều quy định là sự thể chế hoá các nghiªn cøu - trao ®æi t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 45 quan niệm, tư tưởng đạo đức hoặc ghi nhận các quy tắc, nguyên tắc đạo đức. Thậm chí, những chuẩn mực đạo đức xã hội mặc dù không được ghi nhận trong hệ thống thể chế của một cơ quan, tổ chức nhưng khi đã trở thành những giá trị chung phổ biến, nó vẫn có thể được sử dụng để điều chỉnh mối quan hệ trong nội bộ cơ quan, tổ chức đó. Trên thực tế, có những tổ chức xã hội, trong cơ cấu của nó có thiết chế chuyên xem xét đánh giá về đạo đức của các thành viên.(15) Đạo đức điều chỉnh các mối quan hệ xã hội bằng cách xác định nghĩa vụ, bổn phận cho các chủ thể. Trên cơ sở các chuẩn mực đạo đức xã hội, tuỳ thuộc vào việc tu thân, dưỡng tâm, mỗi người tự xác định vị trí, vai trò của mình, tự xác định nghĩa vụ, bổn phận, trách nhiệm của mình, tự biết cách điều chỉnh lời nói, hành động của mình sao cho phù hợp. Ba là đạo đức là công cụ hướng thiện, hướng hành vi con người đến nhân đạo, nhân văn. “Thiện” là sự tốt lành, là tất cả những hành vi, ứng xử “có vai trò tích cực, có tác động thuận lợi trong đời sống”, mang lại “lợi ích cho con người và cho xã hội”.(16) “Thiện” tức là làm những điều có ích, có lợi cho người khác và cho xã hội, là đấu tranh chống lại cái ác, cái bất công. Điều thiện luôn phù hợp với lẽ công bằng, nhân đạo bởi đó chính là biểu hiện cụ thể của sự thương yêu, thông cảm, chia sẻ, giúp đỡ, đùm bọc, quí trọng sâu sắc con người, tôn trọng và bảo vệ các giá trị con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho con người. Nhìn chung, ai cũng luôn mong muốn vươn tới điều thiện bởi vì điều đó đem lại hạnh phúc cho chính mình và cho người khác. Trong xã hội, một khi cái ác còn tồn tại thì “chiến đấu cho cái thiện, đẩy lùi cái ác đã trở thành ước mơ, khát vọng, đã trở thành chất men, thành động lực, kích thích, cổ vũ nhân loại vươn lên, xốc tới”.(17) Đạo đức là công cụ hướng thiện, nó ra đời nhằm hướng hành vi con người theo giá trị nhân bản của cuộc sống, bởi vì “đạo đức là lĩnh vực thực sự người”,(18) “cái gốc của đạo đức là lòng nhân ái”, “nội dung xã hội của đạo đức hay luân lí bắt nguồn từ quan niệm người này giúp đỡ người khác một cách vô tư”.(19) “Đạo đức chính là bản chất của con người trong quá trình phát triển của mình theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của cái thiện”.(20) Đạo đức làm nảy nở những giá trị nơi con người, phát triển những gì cao quý, tốt đẹp trong bản thân mỗi người. Nhờ có đạo đức, con người sống với nhau ngày càng có tình, quan hệ giữa người với người ngày càng trở nên gắn bó chặt chẽ, xã hội ngày càng trở nên nhân đạo hơn, nhân văn hơn. Chỉ bằng tình thương và tinh thần nhân đạo cao cả của đạo đức, với tình cảm “thương người như thể thương thân”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “thương cho trót, vót cho tròn”, “lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”… mới khiến người ta thực hiện hành vi giúp đỡ lẫn nhau một cách hào hứng, tận tâm, tuyệt đối, đến cùng. Đạo đức là mục tiêu đồng thời cũng là động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người đấu tranh chống lại cái ác, cái nghiªn cøu - trao ®æi 46 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 bất công, cái đi ngược lại lợi ích của cộng đồng. Trong xã hội có thể có nhiều hệ thống đạo đức khác nhau, tuy nhiên tất cả mọi nền đạo đức đều hướng con người đến việc làm điều lành tránh điều dữ. Đạo đức là con đường đạt tới chí chân, chí thiện, chí mĩ, nhân đạo, nhân văn - những hằng số giá trị của loài người. Khuyến khích cái thiện, lên án cái ác, hướng hành vi con người vươn tới cái thiện, xây dựng thái độ căm thù đối với cái ác, thái độ kiên quyết đấu tranh chống lại cái ác là vai trò quan trọng của đạo đức. Bốn là đạo đức góp phần quan trọng trong việc củng cố, giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống, thuần phong mĩ tục, bản sắc của dân tộc. Có thể nói, đây là thế mạnh của đạo đức, là địa hạt của nó, bởi vì, đạo đức trước hết và chủ yếu là phản ánh đời sống tinh thần của xã hội. Giữa truyền thống, phong tục tập quán và đạo đức xã hội có sự giao thoa, chồng lấn, xoắn bện lấy nhau. Có thể nói, trong đời sống cộng đồng, nếu xử sự nào đó không phù hợp với đạo đức xã hội, bị cộng đồng phản đối thì tuyệt đối không thể trở thành truyền thống, phong tục, tập quán. Nhìn chung các truyền thống tốt đẹp, các thuần phong, mĩ tục đều được khái quát hoá thành những quan niệm, quan điểm đạ
Luận văn liên quan