Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội: cơ sở lý luận và thực tiễn

Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài, có thể khẳng định rằng việc nghiên cứu một cách cơbản, toàn diện, có hệ thống vấn đề về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội có ý nghĩa quan trọng, rất cần thiết đối với sựphát triển xã hội và quản lý quá trình phát triển đó. Bởi lẽ, việc giải quyết các xung đột xã hội không ngừng nảy sinh trong đời sống xã hội, tạo ra sự đồng thuận xã hội chính là động lực thúc đẩy phát triển xã hội. Việc chậm giải quyết, giải quyết không đúng các xung đột xã hội sẽcản trở thậm chí triệt tiêu sự phát triển của xã hội trong những giai đoạn nhất định.

pdf243 trang | Chia sẻ: khactoan_hl | Ngày: 18/05/2015 | Lượt xem: 1981 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội: cơ sở lý luận và thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VIỆN KHOA HỌC Xà HỘI VIỆT NAM ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC Xung ®ét x∙ héi vµ ®ång thuËn x∙ héi trong qu¸ tr×nh ph¸t triÓn x∙ héi vµ qu¶n lý ph¸t triÓn x∙ héi: c¬ së lý luËn vµ thùc tiÔn M· sè: KX.02.09/06-10 B¸O C¸O TæNG HîP kÕt qu¶ nghiªn cøu Chủ nhiệm đề tài: GS.TS. Võ Khánh Vinh 8070 HÀ NỘI, 2009 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài, có thể khẳng định rằng việc nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện, có hệ thống vấn đề về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội có ý nghĩa quan trọng, rất cần thiết đối với sự phát triển xã hội và quản lý quá trình phát triển đó. Bởi lẽ, việc giải quyết các xung đột xã hội không ngừng nảy sinh trong đời sống xã hội, tạo ra sự đồng thuận xã hội chính là động lực thúc đẩy phát triển xã hội. Việc chậm giải quyết, giải quyết không đúng các xung đột xã hội sẽ cản trở thậm chí triệt tiêu sự phát triển của xã hội trong những giai đoạn nhất định. Thực tiễn trên thế giới ngày nay cho thấy, việc giải quyết không tốt các mâu thuẫn, xung đột giữa các quốc gia, các dân tộc, các tôn giáo đang là những trở ngại lớn cho hòa bình, ổn định và phát triển chung toàn cầu cũng như của từng khu vực. Một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra những khủng hoảng về kinh tế, đói nghèo, bệnh tật... trên thế giới hiện nay là những xung đột trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội trên thế giới. Ở nước ta hiện nay, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đem lại cho chúng ta nhiều thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục. Tuy nhiên, trên con đường đổi mới, chúng ta còn phải vượt qua nhiều khó khăn, thử thách lớn, chẳng hạn: nước ta chưa thoát hẳn ra khỏi ngưỡng cửa của sự nghèo nàn, tăng trưởng kinh tế chưa ổn định và bền vững, tỷ lệ thất nghiệp còn cao; chính sách đổi mới và mở cửa bên cạnh những tích cực cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp như phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội và tham nhũng gia tăng; lối sống ích kỷ cùng với những thói hư, tật xấu đang có nguy cơ lây lan mạnh. Trong khi đó, nhiều chính sách phát triển kinh tế xã hội còn có những bất cập, việc triển khai thực hiện còn nhiều vướng mắc, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, chưa đồng bộ, cơ chế quản lý còn nhiều 2 hạn chế cần khắc phục, sửa đổi,... Những khó khăn, thách thức này hàng ngày, hàng giờ làm nảy sinh những xung đột, mâu thuẫn lớn, nhỏ mà nếu không được phát hiện, xử lý kịp thời và đúng đắn sẽ có khả năng gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Thực tế cho thấy, từ những mâu thuẫn, xung đột về lợi ích trong tất cả lĩnh vực, nếu không được giải quyết kịp thời, đúng đắn sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường. Có thể lấy những sự kiện tiêu cực ở Thái Bình, Hà Tây, Tây Nguyên, và gần đây nhất là vụ Thích Quảng Độ, Thích Khổng Tăng... làm ví dụ. Từ những xung đột, mâu thuẫn về đất đai ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, do chậm và không được giải quyết thỏa đáng đã dẫn đến sự kiện làm mất trật tự xã hội ở mức độ rộng. Cũng vì không nắm bắt kịp thời và chậm giải quyết những mâu thuẫn nhỏ trong việc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội và vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên, để những thế lực xấu lợi dụng kích động một số đồng bào dân tộc gây rối, tạo không khí căng thẳng ở địa phương. Đến nay, dù rằng chúng ta đã có nhiều thành tựu to lớn trong chính sách phát triển xã hội, nhưng những vụ khiếu kiện đông người kéo dài xảy ra ở nhiều nơi và ngay cả tại Thủ đô Hà Nội, trong đó có những trường hợp đã bị những kẻ cơ hội chính trị như Thích Quảng Độ và Thích Khổng Tăng lợi dụng, chứng tỏ vẫn còn những mâu thuẫn, xung đột xã hội chưa được giải quyết kịp thời hoặc giải quyết chưa thỏa đáng. Bên cạnh những khó khăn và thách thức, Việt Nam cũng có nhiều thuận lợi và cơ hội, trong đó, phải đặc biệt nhấn mạnh truyền thống vốn có của nhân dân Việt Nam là đoàn kết rộng rãi, tương trợ và đùm bọc lẫn nhau. Truyền thống này đã được phát huy trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tuy nhiên, trong điều kiện mới, để phát huy truyền thống đó, cần hiểu rõ hơn về bản chất, hình thức và các điều kiện đảm bảo đồng thuận xã hội và từ đó, phát huy được truyền thống đoàn kết dân tộc. Thực tiễn đổi mới đất nước thời gian qua cho thấy, trước những khó khăn lớn, nhân dân ta luôn đoàn kết 3 một lòng, gạt bỏ những lợi ích riêng tư để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nhưng có những lúc tưởng chừng mọi việc đều thuận lợi, sự đồng thuận lại đạt được rất khó khăn. Vậy bản chất vấn đề là ở đâu ? Cần có những điều kiện gì để tạo sự đồng thuận xã hội trong những tình huống này hay tình huống khác ? Đây cũng là những vấn đề cấp thiết mà thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và xây dựng xã hội dân sự đang đặt ra. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phòng ngừa, khắc phục, hạn chế, phát hiện và giải quyết các xung đột xã hội cũng như việc tạo điều kiện và phát huy đồng thuận xã hội có thể có nhiều, nhưng trong đó cần nhấn mạnh hai yếu tố: một là, chưa có một hệ thống lý luận sâu sắc toàn diện về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội làm cơ sở để xây dựng các giải pháp phòng ngừa và giải quyết các xung đột xã hội, phát huy đồng thuận xã hội; hai là, chưa xây dựng được một hệ thống thông tin đáng tin cậy và nhanh chóng về các biểu hiện của xung đột xã hội để có các giải pháp kịp thời, nhanh chóng. Từ những trình bày trên, có thể kết luận rằng thực tiễn phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta cũng như thế giới đang đặt ra yêu cầu cấp bách về nghiên cứu một cách thấu đáo, toàn diện, có hệ thống vấn đề xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trên cơ sở tổng kết một cách toàn diện, đầy đủ thực tiễn về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội và các giải pháp giải quyết xung đột xã hội, tạo ra và phát huy đồng thuận xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội. Vì vậy, đề tài: “Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội - cơ sở lý luận và thực tiễn” có ý nghĩa cấp bách về lý luận cũng như thực tiễn, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và xã hội dân sự vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ở Việt Nam. 4 2. Tình hình nghiên cứu Tình hình nghiên cứu trong nước về đề tài Ở nước ta, có thể nói các công trình nghiên cứu về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội còn rất ít ỏi, thậm chí có thể đếm trên đầu ngón tay những công trình chuyên sâu về vấn đề này. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là vấn đề xung đột xã hội và đồng thuận xã hội không được đề cập, nghiên cứu. Trong thực tế, xung đột xã hội và đồng thuận xã hội được đề cập nhiều dưới các hình thức khác nhau, như mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn trong xã hội, trong lĩnh vực này hay lĩnh vực khác của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,... Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu vấn đề xung đột xã hội và đồng thuận xã hội ở những khía cạnh, bình diện nhất định. Hơn nữa, phần lớn các công trình này nghiên cứu về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong chừng mực và ở phạm vi có liên quan đến những vấn đề nghiên cứu khác. Như vậy, có thể nói về lý luận thì vấn đề xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong quá trình phát triển và quản lý phát triển xã hội mới chỉ được nghiên cứu riêng rẽ từng mặt, từng góc độ, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống vấn đề này. Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp Nhà nước và cấp Bộ nghiên cứu về vấn đề này. Tình hình nghiên cứu ngoài nước về đề tài Nhìn chung, không có nhiều chuyên khảo tầm cỡ nghiên cứu riêng về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội. Vấn đề này thường được các tác giả nước ngoài nghiên cứu lồng ghép với những vấn đề khác hoặc trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác. Chẳng hạn, xung đột xã hội và đồng thuận xã hội thường được xem xét trong mối quan hệ giữa cá nhân, Nhà nước, xã hội, hoặc trong mối quan hệ của các giai cấp, các tầng lớp, các nhóm xã hội. Trong thời gian gần đây, vào khoảng những năm 2000, lý luận về xung đột xã hội mới bắt đầu được đưa vào chương trình đào tạo đại học nhưng không phải là môn học chính ngoại trừ trong ngành xã hội học tại một số nước. 5 Những vấn đề được các tác giả đề cập nhiều nhất trong khi nghiên cứu về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là: khái niệm, bản chất, nội dung, phân loại xung đột xã hội và đồng thuận xã hội, các hình thức biểu hiện của xung đột xã hội, mối quan hệ giữa xung đột xã hội và đồng thuận xã hội; vai trò của đồng thuận xã hội và xung đột xã hội trong quá trình phát triển của xã hội, các giải pháp giải quyết xung đột xã hội, vai trò của pháp luật trong việc giải quyết xung đột xã hội... Tuy nhiên, có thể thấy là cho đến nay các kết quả nghiên cứu vẫn còn ở mức khiêm tốn. Nhiều vấn đề, trong đó kể cả những vấn đề có tính chất cơ bản của đồng thuận xã hội và xung đột xã hội cũng còn rất nhiều quan điểm khác nhau, chưa được làm sáng tỏ, chẳng hạn nguyên nhân và điều kiện của xung đột xã hội, điều kiện tiên quyết của đồng thuận xã hội, quy luật vận động của xung đột xã hội và đồng thuận xã hội... Điểm nổi bật nhất trong lý luận về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội ở ngoài nước theo chúng tôi là sự thừa nhận chung về vai trò và sự tồn tại khách quan của xung đột xã hội và đồng thuận xã hội, những thành công trong nghiên cứu về hình thức biểu hiện và một số giải pháp khắc phục xung đột xã hội, tăng cường và củng cố đồng thuận xã hội. Trong xã hội học cũng như trong khoa học pháp luật của một số nước, xung đột xã hội và đồng thuận xã hội được xem như là một nội dung quan trọng. Hầu hết các giáo trình giảng dạy đại học luật và xã hội học đề đưa vấn đề về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội thành một nội dung giảng dạy. Đây là những thành tựu và kinh nghiệm cần được nghiên cứu để tham khảo, học tập. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Mục tiêu của đề tài - Phân tích những vấn đề lý luận về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. - Phân tích thực trạng, xu hướng và những vấn đề đặt ra về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam. 6 - Đề xuất quan điểm và giải pháp giải quyết xung đột xã hội và phát huy đồng thuận xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam. Các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài - Xây dựng cơ sở lý luận về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội phục vụ phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. - Đánh giá thực trạng xung đột xã hội và thực trạng giải quyết các xung đột xã hội, dự báo về sự vận động của các xung đột xã hội trong tương lai gần. - Đánh giá thực trạng đồng thuận xã hội, thực trạng các giải pháp xây dựng, củng cố và phát triển đồng thuận xã hội và hiệu quả của các giải pháp đó, dự báo về tình hình đồng thuận xã hội ở nước ta trong thời gian tới. - Đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp phòng ngừa, khắc phục, giải quyết xung đột xã hội; xây dựng, củng cố, tăng cường và phát huy đồng thuận xã hội. - Cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020. - Đề xuất phương thức chuyển giao và sử dụng kết quả nghiên cứu, đề xuất cơ quan quản lý cụ thể. 4. Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài Phương pháp luận chung để nghiên cứu tất cả các nội dung của đề tài là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xã hội và bản chất xã hội, về cơ cấu, kết cấu xã hội, về mâu thuẫn xã hội, xung đột xã hội, về đồng thuận xã hội, về lợi ích của cá nhân, của tầng lớp xã hội, của Nhà nước và của xã hội. Để nghiên cứu các nội dung về xã hội xã hội và đồng thuận xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội chúng tôi vận dụng quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc hợp với phương pháp so sánh - loại hình, phương pháp quy nạp - diễn dịch và phương pháp lịch sử cụ thể. 7 Trên cơ sở quan điểm tiếp cận được nêu ở trên, phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu đề tài này là: - Phân tích, tổng hợp; - Phương pháp so sánh lịch sử; - Phương pháp quy nạp - diễn dịch; - Các phương pháp xã hội học cụ thể: điều tra, khảo sát, phỏng vấn chuyên gia, tọa đàm... 8 Phần I NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ XUNG ĐỘT Xà HỘI Chương I LỊCH SỬ VÀ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT Xà HỘI TRONG PHÁT TRIỂN Xà HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN Xà HỘI 1. Lịch sử về xung đột xã hội 1.1. Các quan niệm thời Cổ đại về xung đột xã hội Trong thời kỳ Cổ đại, con người đã quan tâm nghiên cứu xung đột xã hội và vai trò của nó đối với đời sống xã hội. Các nhà triết học Hy Lạp Cổ đại là những người đầu tiên làm sáng tỏ một cách tương đối bản chất của các cuộc xung đột xã hội. Heraclít đã lập luận về các cuộc chiến tranh và xung đột xã hội dựa trên hệ thống các quan điểm chung về thế giới quan. Ông cho rằng chiến tranh và xung đột xã hội là quy luật chung duy nhất thống trị trên hành tinh và lập luận về vai trò tích cực của các cuộc xung đột đối với quá trình phát triển xã hội. Xung đột xã hội, theo Heraclít, hiện diện với tính cách là thuộc tính quan trọng và tất yếu của đời sống xã hội. Một mặt chia sẻ với các quan điểm của Heraclít, Epicơ cho rằng những hậu quả tiêu cực của các cuộc xung đột xã hội buộc mọi người phải sống trong trạng thái hòa bình và ổn định. Những ước mơ về một trạng thái xã hội không có xung đột xã hội bước đầu được lập luận dựa vào những biện luận như vậy. Trong thời kỳ đầu phát triển của mình, triết học cơ đốc giáo cố gắng chứng minh tính ưu việt của hòa bình, của đồng thuận và tình anh em giữa mọi người với nhau. Một số nhà triết học cơ đốc giáo thế kỷ II và thế kỷ III đã lập luận chống lại các cuộc xung đột vũ trang, nhưng vào lúc đó, lập luận của các nhà triết học đó tác động không lớn đến quá trình phát triển tất yếu của lịch sử. Đến đầu thế kỷ IX với học thuyết “Khristos”, nguyên tắc về tính xung đột đã bắt đầu bị nghi ngời. 9 Trong thời kỳ Phục sinh, người ta đã nêu ra những đánh giá khác nhau và phức tạp về các cuộc xung đột xã hội. Trong thời kỳ này, những người theo chủ nghĩa nhân đạo thường xuyên lên án các cuộc xung đột xã hội và các cuộc xung đột vũ trang. Erazm Potterđamskij cho rằng xung đột xã hội có lôgic riêng là khi tất cả các tầng lớp dân cư của đất nước bị cuốn hút vào quỹ đạo của xung đột xã hội thì xung đột xã hội sẽ phản ứng theo phản ứng dây chuyền tương tư và phân tích tính phức tạp của việc rung hòa các quan điểm của các bên đối lập trong cuộc xung đột xã hội, thậm chí kể cả trường hợp khi cả hai bên cùng dựa trên quan điểm tư tưởng thống nhất. Nhà triết học người Anh Ph.Becơn lập luận về bản chất của các cuộc xung đột xã hội, phân tích các nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột xã hội trong nội bộ đất nước, xem xét một cách cụ thể các điều kiện vật chất, chính trị và tâm lý của các cuộc xung đột xã hội và những phương thức khắc phục các cuộc xung đột đó. Ông đặc biệt chú ý đến vai trò quyết định của các nguyên nhân vật chất đối với sự hình thành các vụ mất trật tự xã hội, các cuộc xung đột xã hội, một trong những nguyên nhân đó là tình trạng nghèo đói về vật chất của nhân dân. Ph.Becơn nhấn mạnh rằng, “trong quốc gia có bao nhiêu người bị bần cùng hóa thì có bấy nhiêu người sẵn sàng trở thành kẻ nổi loạn”1. Khi đưa ra các giải pháp ngăn ngừa các cuộc xung đột xã hội, ông cho rằng “mỗi một căn bệnh” đều có thứ thuốc của mình. Các giải pháp đó, theo Becơn là: xóa bỏ các nguyên nhân mang tính vật chất của các cuộc xung đột xã hội, nghệ thuật sử dụng các mánh khóe chính trị, có thủ lĩnh thích hợp có khả năng hợp nhất mọi người lại với nhau và khả năng đàn áp các vụ lộn xộn và nổi loạn của dân chúng. 1.2. Các quan niệm thời Cận đại về xung đột xã hội Trong thời kỳ này, các nhà dân chủ nước Anh và các nhà khai sáng nước Pháp công khai phê phán các cuộc xung đột vũ trang, sự xâm lược và dùng bạo lực. Họ coi các cuộc xung đột vũ trang là những tàn tích của thời kỳ man rợ và cho rằng chỉ có việc xóa bỏ những nền tảng phong kiến mới tiến đến được nền 1 Becơn. Ph. Tuyển tập: 02 tập, M.1979, T.2, tr.382 (tiếng Nga). 10 hòa bình vĩnh cửu. Chính vì vậy trong các công trình nghiên cứu của thời kỳ này, các nhà dân chủ nước Anh và các nhà khai sáng nước Pháp đã chú ý nhiều đến việc tìm kiếm các hình thức tổ chức hợp lý đời sống xã hội, loại trừ các nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột xã hội vốn bám sâu vào các Nhà nước lỗi thời lúc đó. Đến thế kỷ thứ XVIII các nhà tư tưởng đã cố gắn nhận thức lôgic thống nhất của sự phát triển thế giới, xem xét đời sống xã hội trong phạm vi lịch sử toàn thế giới. Tất cả các khía cạnh của những vấn đề đó được thể hiện rõ nét nhất trong triết lý của Zh.Zh.Russo (1712-1778) về xã hội. Quá trình lịch sử thế giới theo cách hiểu của Russo thì dường như được chia thành ba thời điểm cấu thành: trước hết, đó là sự tồn tại của “trạng thái tự nhiên” khi con người có được sự tự do và bình đẳng, tiếp đến là sự phát triển của nền văn minh làm cho con người bị mất đi trạng thái bình đẳng, tự do và hạnh phúc và cuối cùng, bằng việc ký kết “Khế ước xã hội”, con người lại một lần nữa tìm thấy sự hòa hợp vốn đã mất đi trong các quan hệ xã hội, tìm thấy “thế giới vĩnh hằng”, tìm thấy sự đồng thuận và sự thống nhất. Thật ra, những vấn đề trên đây làm bùng nổ các cuộc tranh luận sôi nổi của thời kỳ Cận đại. I.Kant cho rằng tình hình hòa bình giữa những người hàng xóm láng giềng không phải là trạng thái tự nhiên..., ngược lại, tình hình chiến tranh là trạng thái tự nhiên, do vậy theo Kant hòa bình và đồng thuận cần phải được thiết lập. Trong thời kỳ lịch sử Cận đại, người ta cũng đã nêu ra những ý kiến rất khác nhau về các nguyên nhân của các cuộc xung đột xã hội và triển vọng khắc phục chúng. Tuy nhiên, trong tất cả những ý kiến vốn vất đa dạng và khác nhau đó, người ta cũng tìm thấy khá nhiều điểm giống nhau chẳng hạn như đều thừa nhận vai trò quyết định của sự đồng thuận giữa mọi người với nhau đối với sự phát triển của xã hội; đều đánh giá tính chất tiêu cực của các cuộc nổi loạn, mất trật tự xã hội và chiến tranh đã xảy ra ở thời kỳ Trung đại, cũng như đều hy vọng tới một viễn cảnh “hòa bình vĩnh cửu” trong tương lai. Vào đầu thế kỷ XIX Heghen đã đánh giá các cuộc chiến tranh và các cuộc xung đột xã 11 hội theo một cách tiếp cận khác. Trước hết, ông bàn luận nhiều hơn về vai trò tích cực của các cuộc chiến tranh đối với sự phát triển xã hội. Bản thân sự chuyển biến của quá trình lịch sử đặt ra nhu cầu phải nhận thức sâu sắc hơn các quá trình phát triển xã hội vốn rất phức tạp, do đó phải nhận thức sâu sắc hơn vai trò của các cuộc xung đột xã hội đối với đời sống xã hội. Trong thế kỷ XIX, các lý luận, học thuyết về xã hội bắt đầu nhìn nhận rằng, đấu tranh, các cuộc xung đột xã hội và các cuộc đụng độ không đơn giản là những hiện tượng có thể mà là những hiện tượng tất yếu của thực tiễn xã hội. Hơn thế nữa, xuất hiện những lý luận, học thuyết muốn lập luận cho sự hiện diện dường như vĩnh cửu của các nguyên nhân của các cuộc xung đột xã hội và bằng cách đó lập luận cho tính không thể tránh khỏi mang tính nguyên tắc của các cuộc xung đột trong đời sống xã hội. Trong công trình nghiên cứu “Kinh nghiệm về quy luật dân số”, nhà kinh tế học người An, linh mục Tomax Mal’tutx (1766-1834) cho rằng sự đấu tranh của mọi người vì các phương tiện tồn tại là hiện tượng tất yếu, còn các cuộc xung đột xã hội có thể xảy ra là nhân tố vĩnh cửu của sự
Luận văn liên quan