Báo cáo thực tập cuối khóa Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón NPK (3-6-1) đến sinh trưởng của lát hoa (chukrasia tabularis ajuss) giai đoạn 1 - 3 tháng tuổi tại vườn ươm cơ sở 3

Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) là cây gỗ lớn thuộc họ Xoan (Meliaceae Juss), là cây gỗ lớn mọc khá nhanh. Gỗ có màu hồng nhạt, có ánh vân đẹp, cứng và nặng trung bình, dễ làm, ít co giãn, không bị mối mọt, thường dung để đóng đồ đạc, làm gỗ dán lạng hoặc trang sức bề mặt. Dễ gây trồng và có thể phát triển trên diện rộng của các tỉnh Bắc Trung Bộ [2]. Chất lượng cây con đem trồng rừng đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất lâm nghiệp. Chất lượng cây con đem trồng rừng phụ thuộc vào chất lượng hạt giống và kỹ thuật chăm sóc cây con, trong đó bón phân và phân loại phân bón là một trong những nhân tố quyết định. Bón đủ phân và bón phân hợp lý sẽ phát huy hết tiềm năng của cây, cây con sẽ đủ tiêu chuẩn trồng rừng. Thực tế cho thấy bón phân có tác động rất lớn đến sinh trưởng và chất lượng cây con. Một nguyên tắc quan trọng trong việc bón phân cho cây trồng là phải cân đối NPK. Đây là các nguyên tố đa lượng cây cần nhiều nhất, nếu thiếu một chất nào cũng đều ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và năng suất của cây. Ngược lại nếu bị thừa cũng không có lợi cho cây, lại tốn thêm chi phí. Nhu cầu các chất NPK khác nhau tùy theo loại cây và giai đoạn sinh trưởng của cây. Phân bón NPK (3-6-1) là loại phân bón tổng hợp. Trong đó thành phần gồm các nguyên tố N, P, K, là 3 trong các nguyên tố có ý nghĩa quan trọng trong đời sống thực vật. Để nâng cao sự hiểu biết của mình về công tác vườn ươm và góp phần nâng cao chất lượng cây con đem trồng rừng tôi thực hiện chuyên đề: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón NPK (3-6-1) đến sinh trưởng của Lát hoa ở giai đoạn 1- 3 tháng tuổi tại vườn ươm cơ sở 3 trường Đại học Hồng Đức". Kết quả của đề tài sẽ góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất cây con lát hoa.

doc55 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Lượt xem: 4188 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Báo cáo thực tập cuối khóa Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón NPK (3-6-1) đến sinh trưởng của lát hoa (chukrasia tabularis ajuss) giai đoạn 1 - 3 tháng tuổi tại vườn ươm cơ sở 3, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP BÁO CÁO THỰC TẬP CUỐI KHOÁ Chuyên nghành: Lâm học Đề tài: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN NPK (3-6-1) ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA LÁT HOA (Chukrasia tabularis A.Juss) GIAI ĐOẠN 1 - 3 THÁNG TUỔI TẠI VƯỜN ƯƠM CƠ SỞ 3 TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC Người thực hiện : Đào Thị Thắm Giáo viên hướng dẫn : Ths. Bùi Thị Huyền Thanh Hoá, tháng 05 năm 2011 TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP BÁO CÁO THỰC TẬP CUỐI KHOÁ Chuyên nghành: Lâm học Đề tài: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN NPK (3-6-1) ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA LÁT HOA (Chukrasia tabularis A.Juss) GIAI ĐOẠN 1 - 3 THÁNG TUỔI TẠI VƯỜN ƯƠM CƠ SỞ 3 TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC Người thực hiện : Đào Thị Thắm Lớp : K10 Đại Học Lâm Học Khoá học : 2007 - 2011 Giáo viên hướng dẫn : Ths. Bùi Thị Huyền Thanh Hoá, tháng 05 năm 2011 MỤC LỤC MỤC  NỘI DUNG  TRANG    Lời lời cảm ơn……………………………………………...  4    Mở đầu……………………………………………………..  5   Chương I  Tổng quan về tài liệu nghiên cứu…………………………..  6   1.1  Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu ………………………..  6   1.2  Cơ sở khoa học của việc bón phân………………………...  7   1.3  Những nghiên cứu trên thế giới…………………………..  10   1.4  Những nghiên cứu ở Việt Nam…………………………..  10   1.4.1  Những nghiên cứu về phân bón……………………………  11   1.4.2  Những nghiên cứu về cây Lát hoa…………………………  12   Chương II  Đối tượng, mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu  14   2.1  Đối tượng nghiên cứu……………………………………...  14   2.2  Mục tiêu nghiên cứu……………………………………….  14   2.3  Nội dung nghiên cứu……………………………………….  14   2.4  Phương pháp nghiên cứu…………………………………..  14   2.4.1  Phương pháp bố trí thí nghiêm…………………………….  14   2.4.2  Chỉ tiêu theo dõi……………………………………………  16   2.4.3  Phương pháp theo dõi chỉ tiêu……………………………..  16   2.4.4  Phương pháp sử lý số liệu………………………………….  18   Chương III  Kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả nghiên cứu……...  22   3.1  Đặc điểm khu vực và đối tượng nghiên cứu……………….  22   3.1.1  Đặc điểm về điều kiện tự nhiên……………………………  22   3.1.2  Đặc điểm về điều kiện sản xuất……………………………  23   3.2  Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón NPK (3:6:1) ở các nồng độ khác nhau đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây gieo ươm…………………………………………..  23   3.2.1  Ảnh hưởng của phân bón NPK (3:6:1) đ ến chiều cao cây  25   3.2.2  Ảnh hưởng của phân bón NPK (3:6:1) đến đường kính cổ rễ…………………………………………………………...  28   3.2.3  Ảnh hưởng của phân bón NPK (3:6:1) đến chiều dài lá…...  30   3.3  Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng của cây con……………………………………………………..  32   3.4  Xác định nồng độ phân bón thích hợp……………………  34   3.5  Đề xuất các giải pháp kỹ thuật chăm sóc và bón phân cho cây gieo ươm……………………………………………….  41   Chương IV  Kết luận, tồn tại và kiến nghị………………………………  43   4.1  Kết luận…………………………………………………….  43   4.2  Tồn tại……………………………………………………...  43   4.3  Kiến nghị…………………………………………………...  44    Tài liệu tham khảo…………………………………………  46   DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1) TN  Thí nghiệm   2) CT  Công thức   3) ĐC  Đối chứng   4) Hvn  Chiều cao cây   5) D0  Đường kính cổ rễ   6) Ll  Chiều dài lá   7) LN  Lần nhắc   7) TB  Trung bình   8)  Giá trị trung bình   9) LSD0.05  Ngưỡng so sánh   10) CV%  Sai số thí nghiệm   11) PROB  Xác xuất   LỜI CẢM ƠN Được sự nhất trí của trường Đại học Hồng Đức, Khoa Nông lâm ngư nghiệp, Bộ môn lâm nghiệp đã tiến hành kỳ thực tập cuối khoá của mình tại vườn ươm cơ sở 3 trường ĐH Hồng Đức từ ngày 10/1 đến ngày 20/5/2010 với nội dung “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón NPK (3-6-1) đến sinh trưởng của L át hoa giai đoạn 1 - 3 tháng tuổi tại vườn ươm”. Để thực hiện được báo cáo này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Hồng Đức, Ban chủ nhiệm khoa Khoa Nông lâm ngư nghiệp, các thầy cô giáo trong bộ môn Lâm nghiệp và cô giáo hướng dẫn. Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa nông lâm ngư nghiệp và các thầy cô giáo trong bộ môn Lâm nghiệp đặc biệt là cô giáo hướng dẫn Bùi Thị Huyền đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về trình độ, thời gian và kinh phí nên báo cáo không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn! Thanh Hóa, tháng 5 năm 2010 Sinh viên : Đào Thị Thắm MỞ ĐẦU Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) là cây gỗ lớn thuộc họ Xoan (Meliaceae Juss), là cây gỗ lớn mọc khá nhanh. Gỗ có màu hồng nhạt, có ánh vân đẹp, cứng và nặng trung bình, dễ làm, ít co giãn, không bị mối mọt, thường dung để đóng đồ đạc, làm gỗ dán lạng hoặc trang sức bề mặt. Dễ gây trồng và có thể phát triển trên diện rộng của các tỉnh Bắc Trung Bộ (2(. Chất lượng cây con đem trồng rừng đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất lâm nghiệp. Chất lượng cây con đem trồng rừng phụ thuộc vào chất lượng hạt giống và kỹ thuật chăm sóc cây con, trong đó bón phân và phân loại phân bón là một trong những nhân tố quyết định. Bón đủ phân và bón phân hợp lý sẽ phát huy hết tiềm năng của cây, cây con sẽ đủ tiêu chuẩn trồng rừng. Thực tế cho thấy bón phân có tác động rất lớn đến sinh trưởng và chất lượng cây con. Một nguyên tắc quan trọng trong việc bón phân cho cây trồng là phải cân đối NPK. Đây là các nguyên tố đa lượng cây cần nhiều nhất, nếu thiếu một chất nào cũng đều ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và năng suất của cây. Ngược lại nếu bị thừa cũng không có lợi cho cây, lại tốn thêm chi phí. Nhu cầu các chất NPK khác nhau tùy theo loại cây và giai đoạn sinh trưởng của cây. Phân bón NPK (3-6-1) là loại phân bón tổng hợp. Trong đó thành phần gồm các nguyên tố N, P, K, là 3 trong các nguyên tố có ý nghĩa quan trọng trong đời sống thực vật. Để nâng cao sự hiểu biết của mình về công tác vườn ươm và góp phần nâng cao chất lượng cây con đem trồng rừng tôi thực hiện chuyên đề: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón NPK (3-6-1) đến sinh trưởng của Lát hoa ở giai đoạn 1- 3 tháng tuổi tại vườn ươm cơ sở 3 trường Đại học Hồng Đức". Kết quả của đề tài sẽ góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất cây con lát hoa. CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1. Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu Lát hoa là cây gỗ lớn, cao 25 – 30m, đường kính 120 – 130cm. Thân thẳng, lá kép lông chim một lần chẵn. Lá chét 7 – 10 đôi mọc cách, dài 10 – 12cm, rộng 5 – 6cm, hình trái xoan hoặc mũi mác, đầu có mũi nhọn. Hoa nở vào tháng 4 – 5, quả hình bầu dục có đầu nhọn dài 4 – 5cm, rộng 2 – 3cm, mỗi ô có nhiều hạt chất ngang thành 2 hàng, quả chín váo tháng 11 (2(.   Lát hoa sống ở những vùng đá vôi hoặc thung lũng núi đá hoặc núi đất, mọc tới độ cao 800mưa sáng, mọc chậm, sống lâu, khi nhỏ ưa bóng, sinh trưởng nhanh. Cây 10 tuổi trở lên có tốc độ sinh trưởng chậm hơn (2(. Ở Việt Nam Lát hoa phân bố nhiều ở các tỉnh phía bắc từ Hà Tĩnh trở ra Thanh Hoá, Lạng Sơn (2( . Gỗ nặng, màu hồng nhạt, lõi màu đỏ, có ánh đồng, vân đẹp, thớ mịn, ít co giãn, cong vênh, không bị mối mọt, thường được dùng đóng đồ gỗ cao cấp. Lát hoa được dùng để cải tạo, phục hồi rừng hoặc trồng rừng phân tán (2(. Kỹ thuật hạt giống: Quả chín từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau. Khi chín chuyển từ màu xanh sang màu nâu sẫm. Hạt lúc chín có màu cánh dán. Quả thu về rải đều phơi trong nắng nhẹ, rồi đập lấy hạt. Hạt phơi trong nắng nhẹ sau 2 ngày kiểm tra hạt khô đem cất trữ băng cách cho hạt vào lọ sành, trên rắc một lớp tro mỏng, để nơi thoáng mát hoặc bảo quản lạnh bằng cách giữ nhiệt độ thường xuyên 00C, sau 10 tháng tỷ lệ nảy mầm giảm 5% so với khi mới thu hái (3( . Kỹ thuật nhân giống bằng hạt. Hạt tốt trước khi gieo phải xử lý bằng cách ngâm nước ấm 35 -400C trong 3 – 5 giờ, vớt ra rửa chua rồi ngâm. Hàng ngày rửa chua. Khi hạt nứt nanh đem gieo. Gieo vãi hạt sau đó lấp một lớp đất mỏng 0.3 – 0,5cm, trên phủ rơm rạ đã tẩy trừ sâu nấm để giữ ẩm. (3(. Kỹ thuật chăm sóc cây con trong vườn ươm (3( bao gồm: - Tưới nước đủ ẩm để giữ ẩm cho đất sau khi cấy, tưới thường xuyên và liên tục 2lần/ngày vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát trong 20 ngày đầu sau khi cấy, sau đó có thể giảm xuống 1lần/ngày hoặc chỉ tưới khi đất khô. - Che bóng cho cây sau khi cấy - Nhổ cỏ phá váng định kỳ 10-15 ngày 1 lần, cỏ trên mặt luống phải luôn sạch, kết hợp với dung que vót nhọn xới nhẹ lớp váng tạo trên mặt bầu. - Bón thúc định kỳ để thúc đẩy sinh trưởng của cây con. Sau khi tưới phân phải tưới rửa bằng nước lã. Không được tưới nước vào những ngày nắng gắt, vào lúc buổi trưa. tốt nhất là nên bón vào những ngày râm mát hoặc mưa phùn. 1.2. Cơ sở khoa học của việc bón phân. Phân bón có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của thực vật nói chung và Lát hoa nói riêng. Nó không những có tác dụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển cơ thể thực vật. Theo nhiều tài liệu trên thế giới, chí sử dụng phân bón chiếm 30%. Việc kết hợp cân đối các nguồn phân, khả năng cung cấp của đất, thế thống canh tác, giống cây trồng, điều kiện thời tiết thích hợp sẽ nâng cao hiệu quả sư dụng phân bón, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững. Phân bón là các chất hữu cơ hoặc vô cơ chứa các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng đươc bón trực tiếp vào đất hoặc hoà lẫn vào nược phun, xử lý hạt giống, rễ và cây con. Cây trồng cần cung cấp các chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển. Các chất dinh dưỡng này bao gồm các nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng và các nguyên tố khoáng cần thiết cho cây, chúng đều có trong đất và được cây tròng hấp thụ qua hệ thống rễ. Tuy nhiên số lượng các nguyên tố này đất không có khả năng cung cấp đủ cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng, do đó phải bón phân bổ sung. Hiện tượng cây thiếu các nguyên tố vi lượng vẫn xảy ra do trong đất quá nghèo hoặc bón không đủ phân hữu cơ, nhu cầu dinh dưỡng của cây cao mà đất không cung cấp đủ. Viêc bón phân cho cây trồng phải tiến hành thường xuyên và được chú trọng để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt và nâng cao sức sống cho cây trồng. Bón phân cũng như những biện pháp kỹ thuật canh tác khác nhau, thường không chỉ gây ra một tác động trực tiếp dẫn đến một kết quả nào đó mà thường có nhiều tác động lên các thành tố trong hệ sinh thái và có thể dẫn đến những kết quả khác nhau. Do đặc điểm của quá trình phản ứng dây chuyền và quá trình tiếp nhận các tác động từ bên ngoài vào các  hệ sinh thái mà có thể có những tác động rất mạnh nhưng không gây ra hiệu quả gì đáng kể, trong khi đó, có những tác động nhẹ nhàng, nhưng được nhân lên trong phản ứng dây chuyền và tạo nên những hiệu quả rất lớn. Bón phân hợp lý có thể không cần sử dụng những lượng phân bón mà có thể đạt được hiệu quả rất cao (16(. Theo Nguyễn Xuân Quát (1985)[6], để giúp cây con sinh trưởng và phát triển tốt, vấn đề bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện tính chất của ruột bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết. Trong giai đoạn vườn ươm, những yếu tố được đặc biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụ gia. Đạm (N) là chất dinh dưỡng cần cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Mặc dù hàm lượng trong cây không cao, nhưng nitơ lại có vai trò quan trọng bậc nhất. Thiếu nitơ cây không thể tồn tại. Nitơ là thành phần quan trọng cấu tạo nên tất cả các axit amin và từ các axit amin tổng hợp nên tất cả các loại protein trong cơ thể thực vật. Vai trò của protein đối với sự sống của cơ thể thực vật là không thể thay thế được. Nitơ có mặt trong axit nucleic, tham gia vào cấu trúc của vòng porphyril, là những chất đóng vai trò quan trọng trong quang hợp và hô hấp của thực vật. Nói chung, nitơ là dưỡng chất cơ bản nhất tham gia vào thành phần chính của protein, vào quá trình hình thành các chất quan trọng như amino axit, men, nhiều loại vitamin trong cây như B1, B2, B6…Nitơ thúc đẩy cây tăng trưởng, đâm nhiều chồi, lá to và xanh, quang hợp mạnh. Nếu thiếu đạm, cây sinh trưởng chậm, còi cọc, lá ít và có kích thước nhỏ và hơi vàng. Nhưng nếu bón thừa đạm cũng gây tác hại cho cây. Biểu hiện của triệu chứng thừa đạm là cây sinh trưởng quá mức, cây dễ đổ ngã, nhiều sâu bệnh, lá có màu xanh đậm vì diệp lục được tổng hợp nhiều (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [10]; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [11]; Ekta Khurana and J.S. Singh, 2000[12]; Thomas D. Landis, 1985[7]). Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng. Lân có tác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ. Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả. Cây được cung cấp đầy đủ lân sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất chua và kiềm. Nếu thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây phồng cứng, lá màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng; thân cây mềm, thấp; năng xuất chất khô giảm. Ngoài ra, thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng đạm. Một vài loại lá kim khi thiếu lân lá sẽ đổi màu xanh thẫm, tím, tím nâu hay đỏ. Ở những loài cây lá rộng, thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu xanh đậm, xen kẽ với các vết nâu, cây tăng trưởng chậm. Khi thừa lân không thấy tác hại nghiêm trọng như thừa nitơ (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [10]; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [11]; Ekta Khurana and J.S. Singh, 2000[12]; Thomas D. Landis, 1985[7]). Kali (K) đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng, quá trình đồng hóa của cây, điều khiển quá trình sử dụng nước, thúc đẩy quá trình sử dụng đạm ở dạng NH4+, giúp cây tăng sức đề kháng, cứng chắc, ít đổ ngã, chống sâu bệnh, chịu hạn và rét . Do vậy, nếu thiếu kali, thì cây có biểu hiện về hình thái rất rõ như lá hơi ngắn, phiến lá hẹp và có màu lục tối, sau chuyển sang vàng, xuất hiện những chấm đỏ, lá bị khô (cháy) rồi rủ xuống (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [13]; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [9]). Các chất phụ gia thường được sử dụng là xơ dừa, tro trấu…Chúng có tác dụng làm xốp đất, giữ ẩm, thoáng khí… Phân bón là 1 trong các biện pháp kỹ thuật được sử dụng phổ biến thường xuyên đem lại hiệu quả lớn. Tuy nhiên bón phân cần phải cân đối để cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất và mùa vụ cụ thể sẽ đảm bảo năng xuất cao, chất lượng tốt (17(. 1.3. Những nghiên cứu trên thế giới Dinh dưỡng khoáng và Nitơ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống thực vật, điều kiện dinh dưỡng khoáng và Nitơ là một trong những nhân tố chi phối có hiệu quả nhất đến quá trình sinh trưởng và phát triển ở thực vật. Mở đầu là nhà thực vật học Hà Lan – Van Helmont (1629), ông đã trồng cây liễu nặng 2.25kg vào thùng chứa 80kg đất. Một năm sau cây liễu nặng 66kg trong khi đất chi giảm 66g. Tác giả kết luận: cây chỉ cần nước để sống. Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX thuyết Mùn do Thaer (1873) đề xuất cho từng cây hấp thụ mùn để sống. Đến thế kỷ XIX nhà hoá học người Đức Liibig (1840) đã xây dựng thuyết chất khoáng. Liibig cho rằng độ màu mỡ của đất là do muối khoáng trong đất. Ông nhấn mạnh rằng việc bón phân hoá học cho cây sẽ làm tămg năng suất cây trồng. Năm 1963, Kinur và Chiber khẳng định việc bón phân vào đất cho từng thời kỳ khác nhau là khác nhau. Cũng năm đó, Turbittki đã đưa ra quan điểm: “Các biện pháp bón phân sẽ được hoàn thiện một cách đúng đắn theo sự hiểu biết sâu sắc về nhu cầu dinh dưỡng của cây, loại đất và phân bón”. Vào năm 1964 ông Prianitnikov đưa ra quan điểm: phân bón là nguồn dinh dưỡng bổ xung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây, từng tuổi cây cần có những nghiên cứu cụ thể tránh lãng phí phân bón không cần thiết. Việc bón phân thiếu hoặc thừa đều dẫn đến biểu hiện về chất lượng cây kém đi ,sinh trưởng chậm. Năm 1974, Polster, Fidler và Lir cũng đã kết luận: sinh trưởng của cây thân gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng từ trong đất trong suốt quá trình sinh trưởng. Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây thân gỗ qua các thời kỳ khác nhau là khác nhau… Theo Thomas (1985)[5], chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng. Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của lá. Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con. Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Anh, Nhật, Trung Quốc… đã sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất phẩm chất nông sản, không làm ô nhiễm môi trường như: Atonik, Yogen…(Nhật Bản), Cheer, Organic…(Thái Lan), Bloom Plus, Solu Spray, Spray – NGrow…(Hoa Kỳ), Đặc đa thu, Đặc Phong, Diệp lục tố… (Trung Quốc). Nhiều chế phẩm đã được khảo nghiệm và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. 1.4. Những nghiên cứu ở Việt Nam 1.4.1. Những nghiên cứu về phân bón Đi đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến nguyễn Hữu Thước (1963), Nguyễn Ngọc Tân (1985), Nguyễn Xuân Quát (1985), Trần Gia Biển (1985)...các tác giả đều đi đến kết luận chung rằng mỗi loại cây trồng có yêu câu về loại phân, nồng độ, phương thức bón, tỷ lệ hỗn hợp phân bón hoàn toàn khác nhau (4(. Để thăm dò phản ứng của cây con với phân bón, Nguyễn Xuân Quát (1985)[4] và Hoàng Công Đãng (2000) [2] đã bón lót super lân, clorua kali, sulphat amôn với tỷ lệ từ 0- 6% so với trọng lượng ruột bầu. Đối với phân hữu cơ, các tác giả thường sử dụng phân chuồng hoai (phân trâu, phân bò và phân heo) với liều lượng từ 0 – 25% so với trọng lượng bầu. Một số nghiên cứu cũng hướng vào xem xét phản ứng của cây gỗ non với nước. Tuy vậy, đây là một vấn đề khó, bởi vì hiện nay còn thiếu những điều kiện nghiên cứu cần thiết (Nguyễn Xuân Quát, 1985)[4]. Năm 1989, Trương Thị Thảo đã nghiên cứu về dinh dưỡng NPK đối với Thông nhựa đã cho thấy dinh dưỡng không những ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Thông nhựa mà còn ảnh hưởng đến khả năng nhiễm bệnh của cây. Bón phân hợp lý làm tăng sức đề kháng của cây đối với bệnh phấn trắng [ ]. Năm 2000, Hoàng Công Đãng trong luận văn tiến sỹ đã đề cập đến ảnh hưỏng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng và sinh khối của loài cây bần chua, trong đó tác giả đã nghiên cứu tác động riêng lẽ của từng loại phân NPK đến sinh trưởng và chất lượng cây con bần chua… [2] Từ kết quả nghiên cứu của nhà bác học của nhiều nhà khoa học trong nước cho thấy đối với từng loài, từng giai đoạn phát triển khác nhau thì yêu cầu về phân bón cũng khác nhau. Các tác giả đã xác định chính xác định lượng phân bón phù hợp để cây con của các loài cây đó sinh trưởng nhanh, chất lượng tốt. 1.4.2. Những nghiên cứu về Lát hoa Ở nước ta theo ông Lê Xuân Ái, ở VN lát hoa được phân bố cực ít tại các tỉnh từ miền Trung trở ra. Riêng miền Đông Nam bộ chỉ duy nhất vườn quốc gia Côn Đảo có lát hoa (14(. Theo nghiên cứu của Lê Đình Khả, năm 2003 chỉ có một loài lát hoa duy nhất là C. tabularis, bị khai thác kiệt quệ và hiện đã có tên trong Sách Đỏ, cần được bảo tồn. Cách đây 35 năm, cây lát hoa, với nguồn giống lấy tại chỗ đã được trồng ở vùng núi Mộc Châu (Sơn La), Lang Chánh (Thanh Hóa), Quỳ Hợp (Nghệ An). Đến năm 1999, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (Viện khoa học Lâm nghiệp) thực hiện một đề tài thuần hóa lát hoa, hợp tác nghiên cứu với các nhà khoa học Ô-xtrây-li-a và các nước khác trong vùng, đã tập hợp được bộ giống 28 lô hạt của 28 xuất xứ (thuộc 9 nước trong khu vực) (15(. Đưa trồng khảo nghiệm ở Việt Nam và Thái Lan cho thấy, khi trồng tập trung trên đất trống và đồi trọc lát hoa bị loài sâu đục nõn (Hypsipyla) phá hại rất nặng nề. Chẳng hạn (theo tài liệu nghiên cứu Lê Đình Khả, Hà Huy Thịnh, Phan Thanh Hương, Mai Trung Kiên), lát hoa
Luận văn liên quan