Chuyên đề Đánh giá hiệu quả kinh tế cây cà phê trên địa bàn huyện Hướng hoá tỉnh Quảng Trị

Hiện nay trên thế giới có trên 80 quốc gia sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này trong đó có Việt Nam. Nhu cầu về cà phê càng tăng khi đời sống con người ngày càng đầy đủ và cùng với nhu cầu sử dụng tăng, yêu cầu về chất lượng cà phê cũng cao hơn. Vì thế, để nghành cà phê phát triển các nước sản xuất cà phê cần phải chú trọng đến chất lượng sản phẩm bên cạnh sự gia tăng về diện tích và sản lượng. Ở Việt Nam, cà phê dược trồng từ năm 1857, sau năm 1930 có khoảng 5.900 ha, năm 1975 có khoảng 20.000 ha và tổng sản lượng trên 6.000 tấn. Sau năm 1986 đát nươc ta thực hiện công cuộc đổi mới, cây cà phê phát triển mạnh nhất là cà phê vối (Robusta) ở Tây Nguyên. Hiện nay tổng diện tích trồng cà phê car nước khoảng 521.000 ha, giảm gần 500 ha so với năm 2008, trong đó diện tích trồng mới, tái canh, ghép cải tạo khoảng 6.000 ha. Cây cà phê đả trở thành cây công nghiệp chủ lực có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam Ở Việt Nam, một số địa phương như Tây Nguyên, các vùng miền núi Phía Bắc và Bắc Trung Bộ, do có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển nên những nơi này đã hình thành các vùng sản xuất cà phê lớn. Hiện nay, cà phê là một trong những cây trồng lâu năm được ưa chuộng và được khuyến khích phát triển. Song song với việc mở rộng quy mô sản xuất, người dân kết hợp đầu tư thâm canh, áp dụng những tiến bộ khoa học trong kỹ thuật để nâng cao năng suất cây trồng và hướng đến sản xuất cà phê theo hướng hàng hóa. Ngày nay, nhiều trung tâm mua bán và các kênh phân phối sản phẩm cà phê đã và đang được hình thành nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nghành cà phê Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém trong khâu sản xuất, chế biến và phân phối sản phẩm.

pdf71 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Lượt xem: 1433 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Chuyên đề Đánh giá hiệu quả kinh tế cây cà phê trên địa bàn huyện Hướng hoá tỉnh Quảng Trị, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN **** CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Đề tài: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY CÀ PHÊ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯỚNG HOÁ TỈNH QUẢNG TRỊ HỒ CHÁNH THI Niên khoá 2007 - 2011 Đại học Kin h tế Hu ế BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN **** CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Đề tài: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY CÀ PHÊ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯỚNG HOÁ TỈNH QUẢNG TRỊ Giảng viên hướng dẫn : TS. Bùi Đức Tính Sinh viên thực hiện : Hồ Chánh Thi Lớp : R7 - KTNN Huế, tháng 05 năm 2011 Đại học Kin h tế Hu ế Lời cảm ơn Lời đầu tiên em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn và kính trọng sâu sắc đối với Thầy, TS Bùi Đức Tính, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình hoàn thành chuyên đề này. Em luôn được Thầy cung cấp các tài liệu, các chỉ dẫn hết sức quý báu khi cần thiết trong suốt thời gian thực hiện chuyên đề. Em cũng xin thể hiện sự kính trọng và lòng biết ơn đến Quý Thầy Cô trong trường Đại Học Kinh Tế - ĐH Huế, những người đã trang bị cho em rất nhiều kiến thức chuyên ngành, cũng như sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của quý Thầy Cô đối với em trong suốt quá trình học tập. Tất cả các kiến thức mà em lĩnh hội được từ bài giảng của các Thầy Cô là vô cùng quý giá. Nhân đây, con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Bố, Mẹ và những người thân trong gia đình, cảm ơn những tình cảm và những lời động viên con trong suốt quá trình hoàn thành chuyên đề này. Tôi cũng xin được cảm ơn tất cả anh chị trong Phòng NN&PTNT huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị, những người đã cung cấp và chia sẻ những tài liệu, thông tin quý báu trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành chuyên đề này. Quang Nam, tháng 5 năm 2011 Hồ Chánh ThiĐại học Kin h tế Huế DANH MỤC SƠ ĐỒ BIỂU ĐỒ Biểu đồ Tên Trang Biểu đồ 1: Thị phần của các nước sản xuất cà phê chính năm 2006.......................... 17 Sơ đồ Sơ đồ 1: Kênh tiêu thụ sản phẩm cà phê trên địa bàn Huyện Hướng Hóa................. 50 Đại học Kin h tế Hu ế DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng Tên Trang Bảng 1: Định mức bón phân hóa học qua từng thời kỳ của cây cà phê ..................... 12 Bảng 2: Thị trường xuất khẩu chính của cà phê Việt Nam (2/2009) ......................... 20 Bảng 3: Diên tích năng suất và sản lượng cà phê của huyện Hướng Hoá năm 2008 – 2010 ........................................................................................................ 28 Bảng 4: Đặc điểm cơ bản của các hộ điều tra ............................................................ 30 Bảng 5: Diện tích của các hộ điều tra......................................................................... 32 Bảng 6: Tình hình trang bị tư liệu lao động của các nông hộ điều tra ....................... 33 Bảng 7: Tình hình sử dụng vốn sản xuất cà phê của các hộ điều tra ......................... 35 Bảng 8: Chi phí sản xuất 1 ha cà phê ở thời kỳ KTCB .............................................. 37 Bảng 9: Chi phí sản xuất 1 ha cà phê ở thời kỳ KD trong năm 2010......................... 40 Bảng 10: Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất cà phê ở huyện Hướng Hoá năm 2010...................................................................................... 42 Bảng 11:Phân tổ lợi nhuận theo quy mô diện tích ..................................................... 45 Bảng 12: Phân tổ lợi nhuận theo nguồn vốn .............................................................. 46 Bảng 13: Phân tổ lợi nhuận theo mức đầu tư thời kỳ kinh doanh .............................. 46 Đại học Kin h tế Hu ế PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay trên thế giới có trên 80 quốc gia sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này trong đó có Việt Nam. Nhu cầu về cà phê càng tăng khi đời sống con người ngày càng đầy đủ và cùng với nhu cầu sử dụng tăng, yêu cầu về chất lượng cà phê cũng cao hơn. Vì thế, để nghành cà phê phát triển các nước sản xuất cà phê cần phải chú trọng đến chất lượng sản phẩm bên cạnh sự gia tăng về diện tích và sản lượng. Ở Việt Nam, cà phê dược trồng từ năm 1857, sau năm 1930 có khoảng 5.900 ha, năm 1975 có khoảng 20.000 ha và tổng sản lượng trên 6.000 tấn. Sau năm 1986 đát nươc ta thực hiện công cuộc đổi mới, cây cà phê phát triển mạnh nhất là cà phê vối (Robusta) ở Tây Nguyên. Hiện nay tổng diện tích trồng cà phê car nước khoảng 521.000 ha, giảm gần 500 ha so với năm 2008, trong đó diện tích trồng mới, tái canh, ghép cải tạo khoảng 6.000 ha. Cây cà phê đả trở thành cây công nghiệp chủ lực có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam Ở Việt Nam, một số địa phương như Tây Nguyên, các vùng miền núi Phía Bắc và Bắc Trung Bộ, do có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển nên những nơi này đã hình thành các vùng sản xuất cà phê lớn. Hiện nay, cà phê là một trong những cây trồng lâu năm được ưa chuộng và được khuyến khích phát triển. Song song với việc mở rộng quy mô sản xuất, người dân kết hợp đầu tư thâm canh, áp dụng những tiến bộ khoa học trong kỹ thuật để nâng cao năng suất cây trồng và hướng đến sản xuất cà phê theo hướng hàng hóa. Ngày nay, nhiều trung tâm mua bán và các kênh phân phối sản phẩm cà phê đã và đang được hình thành nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nghành cà phê Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém trong khâu sản xuất, chế biến và phân phối sản phẩm... Do sự hạn chế về cơ sở hạ tầng và những yếu kém trong nghành công nghiệp chế biến nên cà phê nước ta vẫn chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô chưa qua chế biến. Tập tục sản xuất và kỹ thuật canh tác của người dân vùng cao cũng ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và chất lượng cà phê. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho chúng ta là cần rút Đại ọc Kin h tế Hu ế ra bài học thiết thực từ những khó khăn trên để có phương hướng phát triển phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành cà phê Việt Nam. Hướng Hóa là huyện miền núi của tỉnh Quảng Trị cách biên giới Việt – Lào chừng 20 km về phía đông, cách thành phố Đông Hà khoảng 64 km về phía tây. Những dân tộc tập trung sinh sống chủ yếu gồm: Dân tộc Kinh, dân tộc Vân Kiều, dân tộc Pa Cô. Hướng Hóa có 2 thị trấn và 20 xã. Khí hậu và thổ nhưởng ở đây rất thích hợp cho cây trồng công nghiệp như: Cà phê, sắn, cao suCà phê là cây công nghiệp mũi nhọn của Hướng Hóa, giá trị xuất khẩu hàng năm đạt 160-200 tỷ đồng, giúp hàng ngàn hộ nông dân thoát nghèo, vươn lên khá, giàu. Diện tích cà phê chủ yếu tập trung ở các xã Hướng Phùng, Hướng Tân Mặc dù sản xuất cà phê ở Hướng Hóa đã đạt được những bước tăng trưởng, tuy nhiên nơi đây vẫn chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên, diễn biến sâu bệnh phức tap. Điêu đó ảnh hưởng không nhỏ đến đến đời sống cũng như hiệu quả sản xuất cà phê của người dân. Mặt khác người dân ở đây chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người, trình độ hiểu biết còn hạn chế nên việc sử dụng đất sản xuất cà phê chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của huyện. Đăc biệt, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp của người dân còn hạn chế, hiệu quả trong sản xuất nông ghiệp còn thấp. Vì vậy, tôi thiết nghỉ việc tìm hiểu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất cà phê của các nông hộ ở hướng hóa là rất cần thiết. Từ đó tìm ra nhưng giải pháp thích hợp nhằm phát triển một cách bền vững và đúng đắn. Xuất phát từ những lý do trên nên tôi chọn chuyên đề “Đánh giá hiệu quả kinh tế cây cà phê của các nông hộ Huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị”.Đại ọc Ki tế H uế 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục tiêu chung Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là thông qua việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá hiệu quả sản xuất cây cà phê trên địa bàn huyện Hướng Hóa. Phân tích những khó khăn hạn chế của các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất cây cà phê trên địa bàn huyện. Từ đó đề xuất những giải pháp tích cực góp phần phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế của cây cá phê cho người dân địa phương. 2.2. Mục tiêu cụ thể. - Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hiệu quả sản xuất cà phê của các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu. - Đánh giá tực trạng và hiệu quả kinh tế của việc trồng cà phê các nông hộ. - Đề suất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cà phê của các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: Các nông hộ trồng cà phê Huyện Hướng Hóa Tỉnh Quảng Trị. Từ việc phỏng vấn các nông hộ trồng cà phê, những nhà thu mua và nông trường sản xuất kinh doanh cà phê theo mẫu phiếu điều tra. Tổng số mẫu phiếu điều tra là 40 nông hộ trồng cà phê thuộc xã Hướng Tânhuyện Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị. * Phạm vi nghiên cứu + Phạm vi không gian: - Địa bàn nghiên cứu là xã Hướng Tân huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị. + Phạm vi thời gian : Số liệu về tình hình sản xuất cà phê của hộ nông dân tại phòng Nông nghiệp huyện qua 3 năm 2008-2010. Còn số liệu điều tra thực tế ở địa bàn thì lấy trong 2 năm 2009-2010. Đại học Kin h tế Hu ế 4. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp duy vật biện chứng. - Phương pháp thu thập số liệu. + Số liệu thứ cấp: Hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng một số nguồn thông tin thứ cấp được thu thập từ các báo cáo,tài liệu của cáccơ quan chức năng như UBND huyện Hướng Hoá, Phòng Nong Nghiệp. Ngoài ra, các thông tin trong các đề tài đã được công bố, các tư liệu sách báo, tạp chí, niên giám thống kê, các website cũng là nguồn thôngtin bổ ích trong quá trình nghiên cứu của tôi. + Số liệu sơ cấp : Là những số liệu mà tôi thu thập được từ việc phỏng vấn các nông hộ trồng cà phê, những nhà thu mua và nông trường sản xuất kinh doanh cà phê theo mẫu phiếu điều tra. Tổng sốphiếu điều tra là 40 hộ trồng cà phê thuộc xã Hướng Tân huyện Hướng Hoá. Đại học Kin h tế Hu ế PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Cơ sở lý luận. 1.1.2. Khái niệm và phương pháp xác định hiệu quả kinh tế 1.1.2.1. Khái niệm Hiệu quả kinh tế là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh đồng thời cũng là mối quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Đó là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng, trình độ tổ chức quản lí, sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư trong đó có cả nhũng nông hộ. Theo nhà khoa học Đức(Stenien, Hanau) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tang kết quả hữu ích hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kì, góp phần làm tăng thêm lợi ích xã hội. Nhưng theo các tác giả Farrell, Schultz, Rizzo và Ellis thì cho rằng hiệu quả kinh tế đạt được trong sản xuất nông nghiệp phải phân biệt được ba khái niệm về hiệu quả: Hiệu quả kỷ thuật, hiệu quả phân phối, hiệu quả kinh tế. Hiêu quả kỷ thuật là số sản phẩm đầu ra có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực được sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỷ thuật hay công nghệ áp dụng trong lâm nghiệp. Nó cho ta biết một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất sẽ đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Hiệu quả phân phối là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá bán sản phẩm và giá đầu vào được tính đến phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí chi thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả phân phối là hiệu quả kỷ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá đầu ra. Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân phối. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Việc đánh giá hiệu Đại học Kin h tế Hu ế quả kinh tế được coi là căn cứ để xác định phương hướng đạt tăng trưởng cao trong sản xuất lâm nghiệp. 1.1.2.2. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Như vậy muốn xác định được hiệu quả kinh tế thì ta phải xác định được kết quả và chi phí bỏ ra. Chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh là toàn bộ các chi phí cho các yếu tố đầu vào như: đất đai, lao động, tiền vốn, nguyên vật liêu, giống.... Công thức: C QH  Trong đó, H là hiệu quả kinh tế Q là khối lượng sản phẩm thu được C là chi phí bỏ ra Phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng dem lại bao nhiêu kết quả, do đó giúp ta so sánh được hiệu quả ở các quy mô khác nhau. 1.1.2 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu - Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị tính bằng tiền của các sản phẩm trong một đơn vị được tạo ra trong một thời kỳ nhất định. - Chi phí trung gian (IC): Là bộ phận cấu thành trong tổng giá trị sản xuất, bao gồm chi phí vật chất và dịch vụ dùng cho sản xuất. - Giá trị gia tăng (VA): Kết quả cuối cùng thu được sau khi trừ đi chi phí trung gian của hoạt động sản xuất và được xác định bằng công thức: VA = GO - IC - GO/IC: Cho biết một đồng chi phí trung gian được đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất. Hiệu suất này càng cao thì sản xuất càng có hiệu quả. Đại học Kin h tế Hu ế - VA/IC: Cho biết một đồng chi phí trung gian được đầu tư tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng. 1.1.3. Lịch sử phát triển cây cà phê ở Việt Nam Lần đầu tiên cà phê được đưa vào Việt Nam vào năm 1875, giống Arabica được người Pháp mang từ đảo Bourton sang trồng ở phía Bắc sau đó lan ra các tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Bố Trạch, Sau thu hoạch chế biến dưới thương hiệu “Arabica du Tonkin”, cà phê được nhập khẩu về Pháp. Sau khi chiếm nước ta thực dân Pháp thành lập các đồn điền cà phê như Chinê, Xuân Mai, Sơn Tây chúng canh tác theo phương thức du canh du cư nên năng suất thấp giảm từ 400 – 500 kg/ha những năm đầu xuống còn 100 – 150 kg/ha khi càng về sau. Để cải thiện tình hình, Pháp du nhập vào nước ta hai giống mới là cà phê vối (C. robusta) và cà phê mít ( C. mitcharichia) vào năm 1908 để thay thế, các đồn điền mới lại mọc lên ở phía Bắc như ở Hà Tĩnh (1910), Yên Mỹ (1911, Thanh Hoá), Nghĩa Đàn (1915, Nghệ An). Thời điểm lớn nhất (1946 – 1966) đạt 13.000 ha. Năm 1925, lần đầu tiên được trồng ở Tây Nguyên, sau giải phóng diện tích cà phê cả nước khoảng 20.000 ha, nhờ sự hỗ trợ vốn từ quốc tế, cây cà phê dần được chú trọng, đến năm 1980 diện tích đạt 23.000 ha, xuất khẩu trên 6000 tấn. Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn. Sau đó, bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi. Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350 nghìn ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002). Trận sương muối năm 1994 ở Brasil đã phá huỷ phần lớn diện tích cà phê ở nước này, cộng hưởng đợt hạn hán kéo dài năm 1997 đã làm nguồn cung trên toàn thế giới sụp giảm mạnh, giá tăng đột biến đã khích lệ mở rộng diện tích cà phê ở Việt Nam, đầu tư kỹ thuật canh tác thâm canh, chuyên canh, nhờ đó diện tích và sản lượng tăng nhanh, trung bình 23,9%/năm, đưa tổng diện tích cây cà phê năm 2000 lên đến 516,7 nghìn ha, chiếm 4,14% tổng diện tích cây trồng của Việt Nam, đứng thứ ba chỉ sau hai loại cây lương thực chủ lực là lúa (chiếm 61,4%) và ngô (chiếm 5,7%). Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, sản lượng tăng lên trên 20%/năm (và các năm 1994, 1995, 1996 sản lượng tăng thậm chí còn cao hơn với tỷ lệ lần lượt là Đại ọc Kin h tế Hu ế 48,5%, 45,8% và 33%). Năm 2000, Việt Nam có khoảng 520 nghìn ha cà phê, tổng sản lượng đạt 800 nghìn tấn. Nếu so với năm 1980, diện tích cà phê của Việt Nam năm 2000 đã tăng gấp 23 lần và sản lượng tăng gấp 83 lần. Mức sản lượng và diện tích vượt xa mọi kế hoạch trước đó và suy đoán của các chuyên gia trong nước và quốc tế. Cho đến nay sản lượng cà phê cả nước chiếm 8% sản lượng nông nghiệp, chiếm 25% giá trị xuất khẩu và là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới với hai tỉnh có diện tích canh tác lớn nhất là ĐăkLăc và Gia Lai, mang lại việc làm ổn định, thu nhập cao cho hàng triệu người. Góp phần ổn định kinh tế xã hội ở những vùng xa xôi hẻo lánh, dân tộc ít người, 1.1.4. Đặc điểm, yêu cầu sinh thái và quy trình sản xuất của cây cà phê 1.1.4.1. Đặc điểm sinh học của cây cà phê Cà phê là một chi thực vật thuộc họ thiên thảo. Họ này bao gồm 500 chi khác nhau với trên 6000 loài nhiệt đới. Chi cà phê bao gồm nhiều loại cây lâu năm khác nhau. Tuy nhiên không phải loài nào cũng chứa cafein trong hạt¸một số loài khác xa với những cây cà phê ta thường thấy. Loài thứ nhất có tên thông thường trong tiếng việt là cà phê chè (coffs Arabica), đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới. Loài thứ 2 là cà phê vối (Coffes Canephonra hay Coffea Robusta) chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê. Ngoài ra còn có Coffea Liberica và Coffea Excelsa (cà phê mít) với sản lượng không đáng kể. + Cây : Cây cà phê chè có thể cao tới 6m, cà phê vối tới 10m. Tuy nhiên ở các trang trại cà phê người ta thường cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2 - 4 m, thuận lợi cho việc thu hoạch. Cây cà phê có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm hình oval. Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn nhiều. Chiều dài của lá khoảng 8- 15cm, rộng 4-6cm. Rễ cây cà phê là rễ cọc, cắm sâu vào lòng đất từ 1-2,5m với rất nhiều rễ phụ tỏa ra xung quanh làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng nuôi cây. Đại học Kin h tế Hu ế + Hoa : Hoa cà phê màu trắng, có 5 cánh thường mọc thành chùm đôi hoặc chùm ba. Hoa chỉ nở vài 3 - 4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng. Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 đến 34.000 bông hoa. + Quả: Cà phê là cây tự thụ phấn, do đó gió và côn trùng có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh sản của cây. Sau khi thụ phấn từ 7 - 9 tháng cây sữ cho quả hình bầu dục, bề ngoài như quả anh đào. Trong thời gian chín màu sắc của quả thay đổi từ xanh sang vàng rồi cuối cùng là đỏ. Quả màu đen khi đã chín nẫu. Thông thường một quả cà phê chứa 2 hạt, chúng được bao bọc bởi lớp thịt bên ngoài. Hạt có thể hình tròn hoặc dài, lúc còn tươi có màu xám vàng, xám xanh hoặc xanh. 1.1.4.2 Yêu cầu sinh thái của cây cà phê Cà phê chè catimor có khả năng cho năng suất cao ở mật độ trồng dày và sớm cho quả. Đây là giống cà phê chè đầu tiên ở Việt Nam có khả năng đề kháng rất cao đối với bệnh rỉ sắt và hiện đang là giống được trồng rộng rãi trong cả nước thay thế các giống cũ kém chất lượng. Cây cà phê chè đòi hỏi một số điều kiện sinh thái nhất định đảm bảo cho quá trình sinh trưởng và phát triển của nó. Những địa phương nào hội tụ được một số điều kiện sau thì mới có thể sản xuất cà phê chè theo hướng sản xuất hàng hóa bền vững: - Khí hậu: + Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp đối với cây cà phê chè trong khoảng 19 – 23oC. Khả năng chịu lạnh tương đối yếu, nhất là khi cây còn nhỏ mới trồng, nếu gặp sương muối sẽ dễ bị cháy lá và sinh trưởng kém. Cây cà phê yêu cầu chênh lệch nhiệt độ ngày đêm tương đối cao để tích lũy chất khô nhằm tạo hương vị thơm ngon đặc trưng. + Lượng mưa và ẩm độ: Cà phê chè là cây ưa ẩm và lượng mưa bình quân hàng năm thích hợp khoảng 1200-1500mm. Cà phê đòi hỏi độ ẩm khoảng trên 75%. Sau khi thu hoạch, cây cà phê cần có thời gian khô hạn nhẹ khoảng 2-3 tháng để phân hóa mầm hoa. Sau đó nếu đủ độ ẩm thì hoa phát triển. Đại học Kin h tế Hu ế + Ánh sáng: Ánh sáng là một trong các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cà phê. Cà phê cần đến ánh sáng, nhất là ánh sáng tán xạ. Vì vậy trồng cà phê cần có cây che bóng. + Gió: Hầu hết các loại gió đều gây tác hại đối với cây cà phê vì ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn và làm rụng quả, trừ trường hợp gió nhẹ giúp cây thoát nước nhanh và tăng cường quá trình trao đổi chất. - Đất đai: Cây cà phê chè có thể trồng trên nhiều loại đất như đất đỏ, đất phù sa cổ, đất xám, đất đá vôi, đất đồi dốc có độ cao trên 500m. Là loại cây lâu năm có bộ rễ ăn sâu nên muốn cây cà phê chè sinh trưởng phát triển tốt thì đất cần có độ dày tầng đất sâu trên 70cm, tơi xốp và giàu chất hữu cơ, không bị úng nước trong mùa mưa. Ngoài các yêu
Luận văn liên quan