Chuyên đề Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 - 2020 theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa là bước đi tất yếu mà mỗi nước, mỗi dân tộc đều phải trải qua nhằm phát huy tốt nhất cơ hội của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết về vật chất – kỹ thuật, về con người và khoa học công nghệ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế nhanh và mạnh để huy động có hiệu quả nhất mọi nguồn lực, tăng năng suất lao động, thay đổi đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Mỗi quốc gia khi muốn thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đều đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý đặc biệt là cơ cấu ngành công nghiệp nhất là khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển như vũ bão. Việc nghiên cứu phát triển ngành công nghiệp, hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp từ đó nhận biết được các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh trước mắt và những ngành có triển vọng trong tương lai sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển bền vững của đất nước. Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp luôn phải xác định rõ được mối quan hệ giữa nội bộ các ngành, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế. Các mối quan hệ được thể hiện cả về mặt số lượng cũng như chất lượng và được xác lập trong những giai đoạn lịch sử nhất định phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cụ thể của từng nước, từng vùng lãnh thổ. Thanh Hóa là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, nằm gần vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và trên trục giao lưu chủ yếu giữa Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ nên có vai trò rất quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của vùng Bắc trung bộ nói riêng và cả nước nói chung. Những năm gần đây, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa tại tỉnh Thanh Hóa đã được cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm. Tuy nhiên, Thanh Hóa vẫn là một tỉnh nông nghiệp, công nghiệp đã có bước phát triển nhưng còn chậm, sức cạnh tranh còn nhiều yếu kém, yếu tố hiện đại trong ngành công nghiệp chưa được hình thành rõ nét. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh bên cạnh những mặt được, có hiệu quả thì còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cả về lý luận lẫn thực tiễn nhất là khi đã có sự hình thành, phát triển của Khu kinh tế tổng hợp Nghi Sơn với nhiều công trình kinh tế quan trọng tạo ra cục diện phát triển mới, đồng thời đang mở ra cơ hội rất lớn để công nghiệp Thanh Hóa bứt phá trong thời gian tới. Do đó, Thanh Hóa đang rất cần có một cơ cấu ngành công nghiệp hợp lý thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phấn đấu cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2020. Nhận thấy được điều đó, em đã đi sâu vào tìm hiểu và chọn đề tài “Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 – 2020 theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Đây thực sự đang trở thành một vấn đề hết sứa thiết thực và cấp thiết tại tỉnh Thanh Hóa hiện nay. Bài chuyên đề của em gồm ba nội dung chính: Chương I: Một số vấn đề lý luận về cơ cấu ngành công nghiệp và sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp. Chương II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2000 – 2009 Chương III: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 – 2020. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sơn và các cô chú, anh chị tại Viện chiến lược phát triển – Ban nghiên cứu và phát triển các ngành sản xuất đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này.

doc105 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Lượt xem: 2053 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Chuyên đề Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 - 2020 theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG, BIỂU LỜI MỞ ĐẦU DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1.1: Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2000 – 2007 26 Bảng 2.1.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế theo khu vực kinh tế thời kỳ 2001 – 2010 29 Bảng 2.1.3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 31 Bảng 2.1.4: Tình hình thu hút vốn đầu tư ( giá hiện hành) 32 Bảng 2.2.1: Hiện trạng phát triển công nghiệp 37 Bảng 2.2.2. Số lao động tăng thêm ngành công nghiệp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2001 – 2007 40 Bảng 2.2.3: Quy mô và tỷ trọng vốn đầu tư phát triển công nghiệp trong tổng vốn đầu tư phát triển tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2001 – 2009 42 Bảng 2.2.4: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển công nghiệp Thanh Hóa giai đoạn 2001 – 2009 phân theo nhóm ngành công nghiệp 44 Bảng 2.2.5: Cơ cấu GTSX công nghiệp các phân ngành trong nội bộ ngành CNKT 46 Bảng 2.2.6: Hệ thống các trạm biến áp ở Thanh Hóa đến năm 2007 55 Bảng 2.2.7: Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế 56 Bảng 2.2.7: Hiện trạng phát triển công nghiệp theo 3 vùng kinh tế 58 Bảng 3.3.1 : Dự báo vốn đầu tư tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 -2020 89 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế theo ngành kinh tế thời kỳ 2001 – 2010 29 Biểu 2: GTSX công nghiệp tỉnh Thanh Hóa qua các năm 38 Biểu 3: Cơ cấu công nghiệp theo phân ngành cấp I giai đoạn 2000 – 2008 45 Biểu 4: Cơ cấu các phân ngành 48 Biểu 5: Cơ cấu nội bộ ngành SXPPĐKN 54 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CCCN : Cơ cấu công nghiệp CDCCNCN : Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa TTCN : Tiểu thủ công nghiệp KTTĐ : Kinh tế trọng điểm KTĐL : Kinh tế động lực XHCN : Xã hội chủ nghĩa KCN : Khu công nghiệp CNKT : Công nghiệp khai thác CNCB : Công nghiệp chế biến SXPPĐKN : Sản xuất phân phối điện khí nước GTSX : Giá trị sản xuất VLXD : Vật liệu xây dựng LỜI MỞ ĐẦU Công nghiệp hóa – hiện đại hóa là bước đi tất yếu mà mỗi nước, mỗi dân tộc đều phải trải qua nhằm phát huy tốt nhất cơ hội của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết về vật chất – kỹ thuật, về con người và khoa học công nghệ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế nhanh và mạnh để huy động có hiệu quả nhất mọi nguồn lực, tăng năng suất lao động, thay đổi đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Mỗi quốc gia khi muốn thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đều đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý đặc biệt là cơ cấu ngành công nghiệp nhất là khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển như vũ bão. Việc nghiên cứu phát triển ngành công nghiệp, hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp từ đó nhận biết được các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh trước mắt và những ngành có triển vọng trong tương lai sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển bền vững của đất nước. Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp luôn phải xác định rõ được mối quan hệ giữa nội bộ các ngành, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế. Các mối quan hệ được thể hiện cả về mặt số lượng cũng như chất lượng và được xác lập trong những giai đoạn lịch sử nhất định phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cụ thể của từng nước, từng vùng lãnh thổ. Thanh Hóa là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, nằm gần vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và trên trục giao lưu chủ yếu giữa Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ nên có vai trò rất quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của vùng Bắc trung bộ nói riêng và cả nước nói chung. Những năm gần đây, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa tại tỉnh Thanh Hóa đã được cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm. Tuy nhiên, Thanh Hóa vẫn là một tỉnh nông nghiệp, công nghiệp đã có bước phát triển nhưng còn chậm, sức cạnh tranh còn nhiều yếu kém, yếu tố hiện đại trong ngành công nghiệp chưa được hình thành rõ nét. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh bên cạnh những mặt được, có hiệu quả thì còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cả về lý luận lẫn thực tiễn nhất là khi đã có sự hình thành, phát triển của Khu kinh tế tổng hợp Nghi Sơn với nhiều công trình kinh tế quan trọng tạo ra cục diện phát triển mới, đồng thời đang mở ra cơ hội rất lớn để công nghiệp Thanh Hóa bứt phá trong thời gian tới. Do đó, Thanh Hóa đang rất cần có một cơ cấu ngành công nghiệp hợp lý thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phấn đấu cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2020. Nhận thấy được điều đó, em đã đi sâu vào tìm hiểu và chọn đề tài “Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 – 2020 theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Đây thực sự đang trở thành một vấn đề hết sứa thiết thực và cấp thiết tại tỉnh Thanh Hóa hiện nay. Bài chuyên đề của em gồm ba nội dung chính: Chương I: Một số vấn đề lý luận về cơ cấu ngành công nghiệp và sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp. Chương II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2000 – 2009 Chương III: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 – 2020. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sơn và các cô chú, anh chị tại Viện chiến lược phát triển – Ban nghiên cứu và phát triển các ngành sản xuất đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này. CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU CÔNG NGHIỆP VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ tỉ lệ giữa các bộ phận hợp thành một tổng thể kinh tế, các bộ phận này có những mối liên hệ hữu cơ, những tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng, các quan hệ tỉ lệ được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, chúng luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể Giáo trình kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội . Có thể nói trong các vấn đề khác nhau của nhiệm vụ xây dựng đất nước, cơ cấu kinh tế là vấn đề then chốt và có ý nghĩa quyết định nhất. Nó không chỉ thể hiện ở quan hệ tỷ lệ mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại về nội dụng bên trong của hệ thống kinh tế, thể hiện tính chất và trình độ phát triển hệ thống kinh tế của một quốc gia. Sự phát triển của lực lượng sản xuất nhất định sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỷ lệ cân đối tương ứng với các bộ phận. Tỷ lệ đó được thay đổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng nhu cầu đó. Vì vậy, sự biến đổi của cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự thay đổi không ngừng của lực lượng sản xuất, nhu cầu tiêu dùng và đặc điểm chính trị, xã hội của từng thời kì. Sự vận động và phát triển này là xu hướng phổ biến của mọi quốc gia. Song mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia lại có sự khác nhau. Sự khác nhau đó bị chi phối bởi quan hệ sản xuất, bởi các đặc trưng văn hoá xã hội, bởi các yếu tố lịch sử của mỗi dân tộc. Do đó, các nước có thể có hình thái kinh tế-xã hội giống nhau, song lại vẫn có sự khác nhau trong hình thành cơ cấu kinh tế, vì điều kiện kinh tế, xã hội và quan điểm chiến lược mỗi nước khác nhau. Cơ cấu kinh tế được phân tích theo hai phương diện: Phương diện thứ nhất, mặt vật chất kĩ thuật của cơ cấu, bao gồm: Cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế phản ánh số lượng, vị trí, tỉ trọng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế. Cơ cấu theo quy mô, trình độ kĩ thuật, công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất phản ánh chất lượng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế-xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất. Phương diện thứ hai, xét về mặt kinh tế-xã hội, bao gồm: Cơ cấu theo các thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của mọi thành viên xã hội. Cơ cấu kinh tế theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hoá tiền tệ. Nó phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các ngành, lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất. Như vậy, dưới các góc độ khác nhau cơ cấu kinh tế được phân thành nhiều loại như cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng, cơ cấu đối ngoại, cơ cấu tích lũy… Mỗi loại cơ cấu phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận và qua cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân. Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế là sự kết hợp giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế hoặc từng loại hình sản xuất, từng xí nghiệp trong nội bộ ngành, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa các ngành với nhau. Nó có vai trò quan trọng nhất phản ánh tập trung nhất trình độ phát triển của phân công lao động xã hội và trình độ phát triển chung của lực lượng sản xuất, trực tiếp giải quyết mối quan hệ cung – cầu trên thị trường, đảm bảo sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Liên Hợp Quốc đã thống nhất phân loại ngành theo ba khu vực: khu vực I – nông nghiệp, khu vực II – công nghiệp và khu vực III – dịch vụ. Các ngành này có mối quan hệ tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển trong quá trình hoạt động sản xuất. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế từ dạng này sang dạng khác phù hợp với sự phát triển của phân công lao động xã hội, sự phát triển của lực lượng sản xuất và các nhu cầu phát triển khác của xã hội. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế mang tính khách quan thông qua những nhận thức chủ quan của con người. Những tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vĩ mô bao gồm: tỷ trọng của các phần tử cơ cấu của hệ thống (theo GDP, lao động) và các chỉ tiêu chất lượng (như năng suất lao động, tiêu hao điện năng trên một đồng GDP, tỷ lệ hộ đói nghèo, tỷ lệ người thất nghiệp…). Khi có sự tác động của con người, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu đã hình thành một số khái niệm: Điều chỉnh cơ cấu là quá trình chuyển dịch cơ cấu trên cơ sở thay đổi một số mặt một số yếu tố của cơ cấu, làm cho nó thích ứng với điều kiện khách quan từng thời kỳ, không tạo ra sự thay đổi đột biến, tức thời. Theo định nghĩa này thì điều chỉnh cơ cấu chỉ diễn ra sau một khoảng thời gian nhất định vì nó là một quá trình và sự phát triển của các ngành phải dẫn đến sự thay đổi mối quan hệ tương đối ổn định vốn có của chúng (ở thời điểm trước đó). Trên thực tế, sự thay đổi này là kết quả của quá trình: Xuất hiện thêm một số ngành mới hay mất đi một số ngành đã có, tức là có sự thay đổi về số lượng cũng như loại ngành trong nền kinh tế. Hay là sự tăng trưởng về quy mô với nhịp độ khác nhau của các ngành dẫn đến thay đổi cơ cấu. Cải tổ cơ cấu là quá trình chuyển dịch mang tính thay đổi về mặt bản chất so với thực trạng cơ cấu ban đầu, nhanh chóng tạo ra sự đột biến. Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, các chiến lược cơ cấu và việc điều chỉnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia không chỉ thuần túy được nhìn nhận dưới góc độ chuyển dịch ngành kinh tế trong phạm vi từng quốc gia mà còn phải tính tới sự hoạt động của mạng lưới sản xuất đa quốc gia. Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một nước sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng cạnh tranh để có được chỗ đứng vững chắc trên thị trường và sự linh hoạt để có thể ứng phó, thích nghi với những biến động trên thị trường thế giới. Cơ sở lý thuyết của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Lý thuyết các giai đoạn phát triển kinh tế của Rostow Rostow cho rằng quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia được chia thành 5 giai đoạn và ứng với mỗi một giai đoạn là một dạng cơ cấu ngành kinh tế đặc trưng thể hiện bản chất phát triển của giai đoạn ấy. Cụ thể: Giai đoạn 1: Xã hội truyền thống. Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là nền kinh tế thống trị bởi sản xuất nông nghiệp với năng suất lao động thấp do sản xuất chủ yếu bằng công cụ thủ công, tích lũy gần như là con số 0. Cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ này là cơ cấu nông nghiệp thuần túy. Giai đoạn 2: Chuẩn bị cất cánh. Đây được coi là thời kỳ quá độ giữa xã hội truyền thống và sự cất cánh với nội dung cơ bản là chuẩn bị những điều kiện tiên quyết để cất cánh: những hiểu biết khoa học – kỹ thuật đã bắt đầu được áp dụng vào sản xuất trong cả nông nghiệp và công nghiệp; Giáo dục được mở rộng và có những cải tiến phù hợp với những yêu cầu mới của sự phát triển; Nhu cầu đầu tư tăng lên đã thúc đẩy sự hoạt động của ngân hàng và sự ra đời của các tổ chức huy động vốn. Tuy vậy tất cả các hoạt động này chưa vượt qua được phạm vi giới hạn của một nền kinh tế truyền thống, năng suất thấp. Cơ cấu ngành là cơ cấu nông – công nghiệp. Giai đoạn 3: Cất cánh. Là giai đoạn trung tâm trong sự phân tích các giai đoạn phát triển của Rostow, thể hiện một đất nước bước vào giai đoạn phát triển hiện đại và ổn định. Những yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự cất cánh là huy động được nguồn vốn đầu tư cần thiết, tỷ lệ tiết kiệm tăng, khoa học – kỹ thuật tác động mạnh vào nông nghiệp và công nghiệp. Công nghiệp giữ vai trò đầu tàu, có tốc độ tăng trưởng nhanh, đem lại lợi nhuận lớn. Cơ cấu ngành kinh tế đã là công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ. Giai đoạn 4: Trưởng thành. Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là tỷ lệ đầu tư tăng liên tục, lên tới 20% thu nhập quốc dân thuần túy; khoa học – kỹ thuật mới được áp dụng trên toàn bộ các mặt hoạt động kinh tế. Nhiều ngành công nghiệp mới, hiện đại phát triển, nông nghiệp được cơ giới hóa, nhu cầu xuất nhập khẩu tăng mạnh, sự phát triển kinh tế trong nước hòa đồng vào thị trường quốc tế. Cơ cấu ngành kinh tế là công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp. Giai đoạn 5: Tiêu dùng cao. Cơ cấu lao động đã thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ dân cư đô thị và lao động có tay nghề, có trình độ chuyên môn cao. Cơ cấu ngành có dạng dịch vụ - công nghiệp. Có thể nói đứng trên góc độ mối quan hệ giữa sự chuyển dịch cơ cấu với quá trình phát triển thì Rostow đã chỉ ra một sự lựa chọn hợp lý về dạng cơ cấu ngành tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của mỗi quốc gia. Theo lý thuyết này hầu hết các nước đang phát triển và đang trong quá trình công nghiệp hóa nằm ở trong khoảng giai đoạn 2 và 3. Về mặt cơ cấu kinh tế, phải bắt đầu hình thành được những ngành công nghiệp chế biến có khả năng thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng. Ngoài ra, sự chuyển tiếp từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 đi kèm với sự thay đổi của những ngành chủ lực, đóng vai trò đầu tàu. Do đó Rostow đã nhấn mạnh tới nhân tố mang tính quyết định của sự cất cánh là kỹ thuật mới được áp dụng, mà kỹ thuật mới thì bao giờ cũng được áp dụng vào ngành công nghiệp cụ thể. Ông đã gọi ngành công nghiệp cụ thể giữ vai trò đầu tàu này là ngành chủ đạo. Có nghĩa là, trong chính sách cơ cấu, cần xét đến trật tự ưu tiên phát triển những ngành, lĩnh vực có khả năng đảm trách vai trò đầu tàu kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau. Mô hình kinh tế nhị nguyên Athur Lewis là người đầu tiên đưa ra mô hình này. Ông đã đưa ra giả thuyết nền kinh tế song song tồn tại hai khu vực với hai nhóm ngành. Khu vực kinh tế truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, khu vực này có đặc trưng là rất trì trệ, năng suất lao động rất thấp và tình trạng dư thừa lao động. Do ruộng đất có hạn và trình độ lao động cũng như áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ ngày một tăng, nên trong nông nghiệp số lượng lao động giảm nhưng vẫn tăng sản xuất. Bộ phận lao động dư thừa này có nhu cầu việc làm rất lớn, sẵn sàng di chuyển đến khu vực khác có việc làm và thu nhập cao hơn hiện tại. Khu vực thứ hai là khu vực công nghiệp hiện đại, khu vực này có năng suất lao động cao, tích lũy lớn, tạo ra khả năng tự phát triển không phụ thuộc vào trình độ chung của nền kinh tế hiện tại. Do lao động dư thừa nên việc chuyển một phần lao động thặng dư từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp không gây ảnh hưởng gì đến sản lượng nông nghiệp. Bên cạnh đó, năng suất lao động cao và tiền công cao hơn nên khu vực công nghiệp thu hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang, và do lao động trong khu vực nông nghiệp quá dư thừa và tiền công thấp hơn nên các ông chủ công nghiệp có thể thuê mướn nhiều nhân công mà không phải tăng thêm tiền công, lợi nhuận của các ông chủ ngày càng tăng; giả định rằng toàn bộ lợi nhuận sẽ được đem tái đầu tư thì nguồn tích lũy để mở rộng sản xuất trong khu vực công nghiệp ngày càng tăng lên. Như vậy, có thể rút ra từ lý thuyết này một nhận định là để thúc đẩy sự phát triển, các quốc gia đang phát triển cần phải mở rộng khu vực công nghiệp hiện đại bằng mọi giá mà không quan tâm đến khu vực truyền thống. Sự tăng trưởng của khu vực công nghiệp tự nó sẽ thu hút hút hết lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp chuyển sang và từ trạng thái nhị nguyên, nền kinh tế sẽ chuyển sang một nền kinh tế công nghiệp phát triển. Lý thuyết nhị nguyên của Lewis tiếp tục được nhiều kinh tế gia nổi tiếng (như G. Ranis, J Fei, Harris) khác tiếp tục nghiên cứu và phân tích. Luận cứ của họ xuất phát từ khả năng phát triển và tiếp nhận lao động của khu vực công nghiệp hiện đại. Khu vực này có nhiều khả năng lựa chọn công nghệ sản xuất, trong đó có công nghệ sử dụng nhiều lao động nên về nguyên tắc có thể thu hút hết lượng lao động dư thừa của khu vực công nghiệp. Nhưng việc di chuyển lao động được giả định là do chênh lệch về thu nhập giữa lao động của hai khu vực kinh tế trên quyết định (các tác giả giả định rằng thu nhập của lao động công nghiệp tối thiểu cao hơn 30% so với lao động trong khu vực nông nghiệp). Như vậy, khu vực công nghiệp chỉ có thể thu hút lao động nông nghiệp khi có sự dư thừa lao động nông nghiệp và chênh lệch tiền công giữa hai khu vực đủ lớn. Nhưng khi nguồn lao động nông nghiệp dư thừa ngày càng cạn dần thì khả năng duy trì sự chênh lệch về tiền lương này sẽ ngày một khó khăn. Ðến khi đó, việc tiếp tục di chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp sẽ làm giảm sản lượng nông nghiệp và làm cho giá cả nông sản tăng lên, và kéo theo đó là mức tăng tiền công tương ứng trong khu vực công nghiệp. Sự tăng lương của khu vực công nghiệp này đặt ra giới hạn về mức cầu tăng thêm đối với lao động của khu vực này. Như thế, về mặt kỹ thuật, mặc dù khu vực công nghiệp có thể thu hút không hạn chế lượng lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang thì về mặt thu nhập và độ co giãn cung cầu thì khả năng tiếp nhận lao động từ khu vực nông nghiệp của khu vực công nghiệp là có hạn. Cơ cấu kinh tế theo lý thuyết cân đối liên ngành Mô hình đưa ra giả thuyết về phát triển tất cả các ngành hay phát triển cân đối giữa các ngành và nội bộ từng ngành. Những người ủng hộ quan điểm phát triển cân đối đều cho rằng phải phát triển đồng đều ở tất cả mọi ngành kinh tế quốc dân để nhanh chóng công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu. Luận cứ của họ như sau: * Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành có liên quan mật thiết với nhau, "đầu ra" của ngành này là "đầu vào" của ngành kia và như vậy, sự phát triển đồng đều và cân đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung cầu trong sản xuất. * Sự phát triển cân đối giữa các ngành như thế giúp tránh được các ảnh hưởng tiêu cực của thị trường thế giới và hạn chế được mức độ phụ thuộc vào các nền kinh tế khác, qua đó tiết kiệm được nguồn ngoại tệ. * Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối giữa tất cả các ngành là nền tảng vững chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nước đang phát triển. Lý thuyết này khi đưa ra được các quốc gia đang phát triển đi theo con đường công nghiệp hóa hướng nội (công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu) rất ưa chuộng. Tuy nhiên, khi được áp dụng thực tế đã bộc lộ những yếu điểm như: Việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối và hoàn chỉnh đã đẩy các nền kinh tế đến chỗ khép kín và tách biệt với thế giới bên ngoài, điều này đi ngược lại với xu thế quốc tế hóa và toàn cần hóa, không tận dụng được những lợi ích tíc
Luận văn liên quan