Chuyên đề Hoàn thiện quá trình thẩm định các dự án đầu tư xây dựng công trình tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội

Ít có thiết chế nào tác động đến đời sống của con người và xã hội mạnh mẽ bằng Ngân hàng và hoạt động của nó. Ra đời từ rất sớm và không ngừng phát triển cả về qui mô, số lượng, chất lượng các dịch vụ, cho đến nay hệ thống Ngân hàng với hàng ngàn chi nhánh hoạt động trên toàn thế giới đóng một vai trò hết sức quan trọng. Tại Việt Nam, trong quá trình đổi mới và phát triển, hoạt động của ngành Ngân hàng cũng đang được hoàn thiện, các Ngân hàng thương mại đã xác lập được vị trí vững chắc trong nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò lớn trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta tiến nhanh theo kịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Trong hoạt động của Ngân hàng, cho vay là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất, song cũng là hoạt động có rủi ro cao nhất. Tổn thất do rủi ro trong lĩnh vực này sẽ giảm thu nhập dự tính, gây thua lỗ, thậm chí dẫn Ngân hàng đến chỗ phá sản. Do vậy, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong tín dụng vừa là mục tiêu, vừa là nhân tố quan trọng để cạnh tranh và phát triển của mỗi Ngân hàng thương mại. Từ những bài học kinh nghiệm trong giai đoạn cuối thập kỉ 90 của thế kỉ trước, do việc tăng quy mô tín dụng một cách ồ ạt đã để lại một khối lượng nợ tồn đọng khá lớn trong hệ thống các Ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam, nên trong những năm gần đây, vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu của Ngân hàng. Vì vậy, trước mỗi quyết định tài trợ Ngân hàng phải cân nhắc kĩ lưỡng khả năng rủi ro và sinh lời dựa trên qui trình phân tích tín dụng nghiêm ngặt, đặc biệt là quá trình thẩm định dự án. Trong các dự án xin vay vốn của Ngân hàng, chiếm một tỉ trọng vốn vay lớn vẫn là các dự án xin vay vốn để đầu tư xây dựng công trình. Đặc điểm của các dự án này là có độ rủi ro cao. Thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá sức mạnh tài chính khả năng tự chủ tài chính trong kinh doanh, nhu cầu và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng là cơ sở để cán bộ thẩm định đưa ra quyết định cho vay hay không và mức cho vay là bao nhiêu. Để tránh được rủi ro trong hoạt động này, Ngân hàng nhất thiết phải nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư. Trên cơ sở kiến thức đã được học và nghiên cứu thực tế trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Quân đội, nhận thức được vai trò quan trọng của công tác thẩm định dự án đầu tư và những hạn chế trong quy trình và phương pháp thẩm định tại Ngân hàng, em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “ Hoàn thiện quá trình thẩm định các dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ngân hàng TMCP Quân đội” Bài viết của em gồm 2 phần chính: Chương 1: Thực trạng hoạt động thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ngân hàng Quân đội. Chương 2: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ngân hàng Quân đội.

doc70 trang | Chia sẻ: tuandn | Lượt xem: 2348 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Chuyên đề Hoàn thiện quá trình thẩm định các dự án đầu tư xây dựng công trình tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Ít có thiết chế nào tác động đến đời sống của con người và xã hội mạnh mẽ bằng Ngân hàng và hoạt động của nó. Ra đời từ rất sớm và không ngừng phát triển cả về qui mô, số lượng, chất lượng các dịch vụ, cho đến nay hệ thống Ngân hàng với hàng ngàn chi nhánh hoạt động trên toàn thế giới đóng một vai trò hết sức quan trọng. Tại Việt Nam, trong quá trình đổi mới và phát triển, hoạt động của ngành Ngân hàng cũng đang được hoàn thiện, các Ngân hàng thương mại đã xác lập được vị trí vững chắc trong nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò lớn trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta tiến nhanh theo kịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Trong hoạt động của Ngân hàng, cho vay là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất, song cũng là hoạt động có rủi ro cao nhất. Tổn thất do rủi ro trong lĩnh vực này sẽ giảm thu nhập dự tính, gây thua lỗ, thậm chí dẫn Ngân hàng đến chỗ phá sản. Do vậy, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong tín dụng vừa là mục tiêu, vừa là nhân tố quan trọng để cạnh tranh và phát triển của mỗi Ngân hàng thương mại. Từ những bài học kinh nghiệm trong giai đoạn cuối thập kỉ 90 của thế kỉ trước, do việc tăng quy mô tín dụng một cách ồ ạt đã để lại một khối lượng nợ tồn đọng khá lớn trong hệ thống các Ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam, nên trong những năm gần đây, vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu của Ngân hàng. Vì vậy, trước mỗi quyết định tài trợ Ngân hàng phải cân nhắc kĩ lưỡng khả năng rủi ro và sinh lời dựa trên qui trình phân tích tín dụng nghiêm ngặt, đặc biệt là quá trình thẩm định dự án. Trong các dự án xin vay vốn của Ngân hàng, chiếm một tỉ trọng vốn vay lớn vẫn là các dự án xin vay vốn để đầu tư xây dựng công trình. Đặc điểm của các dự án này là có độ rủi ro cao. Thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá sức mạnh tài chính khả năng tự chủ tài chính trong kinh doanh, nhu cầu và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng là cơ sở để cán bộ thẩm định đưa ra quyết định cho vay hay không và mức cho vay là bao nhiêu. Để tránh được rủi ro trong hoạt động này, Ngân hàng nhất thiết phải nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư. Trên cơ sở kiến thức đã được học và nghiên cứu thực tế trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Quân đội, nhận thức được vai trò quan trọng của công tác thẩm định dự án đầu tư và những hạn chế trong quy trình và phương pháp thẩm định tại Ngân hàng, em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “ Hoàn thiện quá trình thẩm định các dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ngân hàng TMCP Quân đội” Bài viết của em gồm 2 phần chính: Chương 1: Thực trạng hoạt động thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ngân hàng Quân đội. Chương 2: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ngân hàng Quân đội. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Đinh Đào Ánh Thủy; các cô chú, anh chị trong Phòng dự án và quan hệ khách hàng lớn đã giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề này. Chương I: Thực trạng thẩm định các dự án đầu tư xây dựng công trình tại MB I. Tình hình thẩm định các dự án đầu tư xây dựng công trình tại MB 1. Đặc điểm các dự án đầu tư xây dựng công trình 1.1. Qui mô tiền vốn, vật tư lao động cần thiết cho dự án đầu tư xây dựng công trình thường rất lớn Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Qui mô vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Qui mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi các CBTĐ phải thận trọng trong việc tính toán chi phí, doanh thu, và các chỉ số đo lường hiệu quả vì phải tính toán những con số phức tạp hơn, dễ bị nhầm hơn. Nếu đồng ý cho vay thì CBTĐ phải có xây dựng các giải pháp kế hoạch giải ngân vốn hợp lý với tiến độ đầu tư, quản lý chặt chẽ vốn đầu tư, nhằm tránh lãng phí và nâng cao sử dụng hiệu quả vốn. 1.2. Thời kỳ đầu tư kéo dài Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho tới khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình đầu tư xây dựng kéo dài hàng chục năm. Thời kỳ đầu tư kéo dài gây không ít khó khăn cho CBTĐ trong việc tính toán và dự đoán việc tăng hay giảm chi phí, doanh thu, các chỉ tiêu hiệu quả, phải trả lời được các câu hỏi: cái gì tăng, cái gì giảm tăng bao nhiêu, giảm bao nhiêu, có lợi hay bất lợi cho dự án… Một vấn đề thực trạng tại các Ngân hàng hiện nay nữa là: Do tình trạng thiếu nguồn vốn trung dài hạn đã tồn tại từ lâu trong hệ thống Ngân hàng nên nhiều khi Ngân hàng không đủ nguồn vốn trung và dài hạn để tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng công trình mặc dù các dự án này có hiệu quả. 1.3. Đầu tư xây dựng công trình có độ rủi ro cao Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư xây dựng công trình thường cao. Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó, có nguyên nhân chủ quan từ phía nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng công trình không đạt chất lượng, có nguyên nhân khách quan như giá nguyên vật liệu tăng, rủi ro về văn hóa, kinh tế và chính trị… Do vậy, đứng trên góc độ là người tài trợ vốn cho dự án, CBTĐ cần phải xem xét và đánh giá kỹ lưỡng mức độ rủi ro của dự án để ra quyết định có tài trợ vốn hay không. Từ đó CBTĐ đề xuất các biện pháp quản lý và phòng ngừa rủi ro khi quyết định cho vay vốn. Điều này ảnh hưởng không ít tới thời gian thẩm định dự án đầu tư. 2. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thẩm định các dự án đầu tư xây dựng công trình tại MB 2.1. Phương pháp thẩm định và chỉ tiêu thẩm định Thu thập các tài liệu cần thiết cho việc phân tích đánh giá dự án, tiến hành sắp xếp thông tin và sử dụng các biện pháp sử lý một cách có hệ thống theo các nội dung thẩm định. Trong điều kiện hiện nay, nếu Ngân hàng sử dụng các phương pháp thẩm định cũ với các chỉ tiêu cũ thì kết quả thẩm định sẽ không chính xác, chất lượng thấp. Những phương pháp thẩm định tài chính hiện đại giúp cho việc phân tích đánh giá dự án đầu tư được toàn diện, chính xác và hiệu quả cao. Một trong những yếu tố quan trọng để xác định hiệu quả kinh tế tài chính là tỷ lệ chiết khấu được lựa chọn để tính toán. Nếu tỷ lệ này quá thấp sẽ kích thích đầu tư vào các dự án kém hiệu quả nhưng nếu quá cao sẽ hạn chế đầu tư. Hiện nay có rất nhiều phương pháp thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình khác nhau nhưng việc lựa chọn phương pháp, chỉ tiêu thẩm định nào cho phù hợp với điều kiện của từng dự án cũng rất quan trọng. Các phương pháp thẩm định hiện đại không chỉ xem xét dự án trong trạng thái tĩnh mà còn phân tích trạng thái động của thị trường. Điều quan trọng là Ngân hàng thương mại phải biết áp dụng một cách đồng bộ các chỉ tiêu để vừa đảm bảo tính chính xác toàn diện, kết hợp được ưu điểm của các chỉ tiêu phù hợp với điều kiện tình hình thực tế của các ngành vùng, mỗi dự án cũng như điều kiện của Ngân hàng. 2.2. Thông tin Trong hoạt động thẩm định dự án đầu tư , mục tiêu quan trọng đối với Ngân hàng là khả năng trả nợ và sự đảm bảo an toàn vốn vay. Như vậy, Ngân hàng rất cần những thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời và đầy đủ của các thông tin này phụ thuộc một phần vào việc lập thẩm định tài chính dự án đầu tư của chủ đầu tư và thông tin của chủ thể có liên quan. Bên cạnh đó, phương pháp thu thập xử lý, phân tích và sử dụng thông tin của Ngân hàng cũng rất quan trọng. Nó ảnh hưởng đến chất lượng thông tin và khả năng đảm bảo thông tin cho công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nếu thông tin không đầy đủ chính xác, kịp thời và không cập nhật thì không những trong vấn đề thẩm định dự án đầu tư gặp trở ngại, khó khăn, không thể thực hiện được mà còn trong cả quá trình thẩm định dự án đầu tư nói chung sẽ không thể thực hiện được. Việc phân tích, đánh giá các dự án mang tính phiến diện, không khách quan, không phản ánh đúng bản chất của dự án. Từ đó làm ảnh hưởng tới chất lượng công tác thẩm định dẫn đến các kết luận sai về tính khả thi của dự án làm ảnh hưởng tới lợi ích của nhà đầu tư và gây thiệt hại cho nền kinh tế. Vì vậy, làm thế nào để có được những thông tin đầy đủ, chính xác kịp thời phục vụ cho công tác thẩm định tài chính là một nhiệm vụ hết sức cấp thiết mà các Ngân hàng thương mại phải làm. Thiết lập được một hệ thống thông tin tốt sẽ trợ giúp cho Ngân hàng trong việc nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình. 2.3. Con người Con người là nhân tố quyết định chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình. Con người với trình độ, kỹ năng tri thức, kinh nghiệp của mình là nhân tố trung tâm liên kết phối hợp các nhân tố, các vấn đề… trong công tác thẩm định dự án đầu tư nói chung và trong công tác thẩm định dự án đầu tư nói riêng. Việc thẩm định, phương pháp thẩm định, chỉ tiêu thẩm định, kỹ thuật phân tích hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ, sự lựa chọn và được thực hiện bởi người thẩm định. Trong cơ chế thị trường cạnh tranh hiện nay, các Ngân hàng thương mại cũng không thể tránh khỏi quy luật đó của nền kinh tế, vì vậy, các Ngân hàng thương mại phải có giải pháp tối ưu nhất trong hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư nhằm đảm bảo Ngân hàng hoạt động có hiệu quả cao nhất. Kết quả thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình là kết quả xem xét đánh giá chủ quan của con người theo cơ sở khoa học và các tiêu chuẩn thẩm định khác nhau. Nhân tố cong người ở đây đòi hỏi phải hội tụ đủ các yêu cầu như: trình độ chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm và phẩm chất đạo đức. 2.4. Tổ chức quản lý điều hành Thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp của rất nhiều các hoạt động có mối quan hệ liên quan gắn bó hữu cơ với các hoạt động khác. Kết quả của công tác này phụ thuộc phần lớn vào công tác tổ chức quản lý và điều hành, sự phối hợp nhịp nhàng của các bên. Công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình được tổ chức quản lý và điều hành một cách khoa học, chặt chẽ nhưng vẫn đảm bảo tính khách quan sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp, liên kết được các cá nhân trong nội bộ Ngân hàng và gây được ảnh hưởng, uy tín lớn của Ngân hàng đối với xã hội, rút ngắn thời gian thẩm định mà vẫn đảm bảo chất lượng công tác này. 2.5. Các nhân tố khác Có thể coi đây là các nhân tố tác động từ bên ngoài tới chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư xây dựng. Đó là sự yếu kém, không đồng bộ, thiếu ổn định trong cơ chế, chính sách của Nhà nước gây khó khăn cho các hoạt động của Ngân hàng nói chung và hoạt động thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình nói riêng. Tuổi đời của dự án xây dựng công trình thường khá dài là một trong những nguyên nhân gây không ít khó khăn cho công tác thẩm định. Vì khi tiến hành thẩm định Ngân hàng không thể dự đoán trước được tất cả các rủi ro có thể xảy ra. 3. Căn cứ thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình tại MB 3.1. Căn cứ vào hồ sơ của dự án Theo văn bản quản lý hiện hành, hồ sơ dự án phải bao gồm phần thuyết minh dự án và phần thiết kế cơ sở: - Nội dung phần thuyết minh của dự án gồm: + Sự cần thiết và mục tiêu đầu tư, đánh giá nhu cầu thị trường, tiêu thụ sản phẩm đối với dự án sản xuất kinh doanh, hình thức đầu tư xây dựng công trình, địa điểm xây dựng, nhu cầu sử dụng đất, điều kiện cung cấp nguyên vật liệu, nhiên liệu và các yếu tố đầu vào khác. + Mô tả về quy mô và diện tích xây dựng công trình, các hạng mục công trình bao gồm công trình chính, công trình phụ và các công trình khác, phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ và công suất. + Tổng mức đầu tư của dự án, khả năng thu xếp vốn, nguồn vốn và khả năng cung cấp vốn theo tiến độ, phương án hoàn trả vốn đối với dự án có yêu cầu thu hồi vốn, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội của dự án. - Nội dung thiết kế cơ sở của dự án: Giải pháp thiết kế chủ yếu, bảo đảm đủ điều kiện để xác định tổng mức đầu tư và triển khai các bước tiếp theo, bao gồm thuyết minh và các bản vẽ. 3.2. Căn cứ pháp lý khi thẩm định các dự án đầu tư xây dựng công trình * Các căn cứ chung áp dụng cho tất cả các dự án vay vốn: + Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH 10 – 12/12/1997; Luật sửa đổi, bổ xung 1 số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH 11 ngày 15/6/2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành. + Thông tư số 05/2009/TT-NHNN ngày 07 tháng 04 năm 2009 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất đối với các tổ chức cá nhân vây vốn trung và dài hạn Ngân hàng thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất – kinh doanh. + Luật đầu tư số 59/2006/QH 11 ngày 29/11/2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2007 và các văn bản hướng dẫn thi hành. + Luật doanh nghiệp số 6/2006/QH11 ngày 29/11/2006. * Các căn cứ riêng đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình: + Các định mức kinh tế kỹ thuật theo quy định cụ thể của Bộ xây dựng, lĩnh vực cụ thể của từng dự án xây dựng công trình. + Quy hoạch phát triển hoặc định hướng của NN đối với ngành xây dựng. 3.3. Tiêu chuẩn, quy phạm và các định mức trong từng lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật cụ thể Quy phạm về sử dụng đất đai trong các khu đô thị, khu công nghiệp; quy phạm về tĩnh không trong công trình cầu cống, hàng không, tiêu chuẩn cấp công trình, tiêu chuẩn về môi trường, tiêu chuẩn về công nghệ, kỹ thuật riêng của từng ngành… 3.4. Các quy ước thông lệ quốc tế Các điều ước quốc tế chung đã ký kết giữa các tổ chức quốc tế hay nhà nước với nhà nước (về hàng hải, hàng không, đường sông…) quy định của các tổ chức tài trợ vốn (WB, IMF, ADB, JBIC…), các quỹ tín dụng xuất khẩu của các nước, các quy định về thương mại, tín dụng, bảo lãnh, bảo hiểm… Ngoài ra kinh nghiệm thực tế trong quá trình thẩm định dự án cũng là căn cứ quan trọng để thẩm định dự án đầu tư. 3.5. Các thông tin cán bộ thẩm định tự tìm hiểu và điều tra về dự án Cán bộ thẩm định tìm hiểu nguồn thông tin từ nhiều nguồn khác nhau: - Nguồn thông tin tư liệu: + Tìm hiểu nhà cung ứng thiết bị, nguyên vật liệu, để đánh giá tình hình thị trường đầu vào của dự án. + Tìm hiểu từ các phương tiện thông tin đại chúng: Báo, đài, mạng, máy tính… từ các cơ quan quản lý Nhà Nước, quản lý Doanh nghiệp. + Tìm hiểu qua các báo cáo, nghiên cứu, hội thảo, chuyên đề về ngành xây dựng. + Tìm hiểu từ các dự án đầu tư cùng loại. + Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực dự án. - Các nguồn khác: + Báo cáo nghiên cứu và phân tích ngành xây dựng. + Qui hoạch phát triển ngành hoặc định hướng của chính phủ đối với ngành xây dựng, khu vực xây dựng. 3.6. Các quy định của Ngân hàng quân đội Cán bộ thẩm định thực hiện thẩm định dự án dựa vào quy trình tác nghiệp thẩm định dự án. Đây là văn bản quy định và hướng dẫn các tác nghiệp thẩm định một dự án đầu tư của cán bộ thẩm định và các phòng nghiệp vụ trong các hệ thống của Ngân hàng Quân Đội, được vận dụng trong các tác nghiệp tín dụng trung và dài hạn cho vay theo dự án đầu tư, đồng thời tài trợ trung dài hạn, ủy thác đầu tư dự án hoặc thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp của Ngân hàng. Cụ thể là căn cứ vào Quy trình Nghiệp vụ tín dụng QTNV_01/MCSB-TINDUNG của Ngân hàng TMCP Quân đội và phụ lục 5 “ Hướng dẫn thẩm định dự án đầu tư” kèm theo. 3.7. Các quy định chung của Ngân hàng Nhà nước Để quản lý nền kinh tế, NHNN cũng tham gia quản lý hoạt động tín dụng, trong đó có hoạt động thẩm định dự án đầu tư. Bằng các văn bản pháp luật, Nhà nước đóng vai trò tạo lập 1 sân chơi công bằng văn minh cho tất cả các Ngân hàng thương mại tham gia. 4. Qui trình thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình tại MB Các bước thực hiện khi thẩm định: Bước 1: Đơn vị thẩm định tiếp nhận hồ sơ dự án, chịu trách nhiệm, soát lại và thông báo cho đơn vị gửi hồ sơ sửa đổi bổ xung hồ sơ đầy đủ và hợp lệ. Bước 2: Khi đã có Hồ sơ dự án đầy đủ hợp lệ, các cán bộ thẩm định sẽ tiến hành phân tích, đánh giá toàn bộ các nội dung của dự án cũng như đánh giá mức độ tin cậy của các số liệu trong dự án. Bước 3: Lãnh đạo đơn vị thẩm định chịu trách nhiệm tổng hợp đánh giá của cán bộ thẩm định thành báo cáo thẩm định nêu rõ đề xuất và ý kiến riêng của phòng dự án. Bước 4: Thực hiện tái thẩm định, quản trị rủi ro sau đó trình Chủ tịch Hội Đồng tín dụng. Bước 5: Nếu dự án lớn và có tầm quan trọng thì sau khi được chủ tịch hội đồng tín dụng thông qua sẽ đệ trình Tổng giám đốc, nếu quan trọng hơn sẽ phải trình Chủ tịch Hội Đồng quản trị, nếu dự án quan trọng đặc biệt sẽ phải trình lên thường trực Hội Đồng quản trị để ra quyết định. 5. Phương pháp thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình tại MB 5.1. Thẩm định theo trình tự Việc thẩm định dự án được tiến hành theo một trình tự từ sự tổng quát đến chi tiết, kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau. + Thẩm định tổng quát: là việc xem xét khái quát các nội dung cần thẩm định của dự án, qua đó đánh giá một cách chung nhất tính đầy đủ, phù hợp, hợp lý của dự án như: Hồ sơ dự án, tư cách pháp lý của chủ đầu tư… Thẩm định tổng quát cho phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ quy mô, tầm quan trọng của dự án. Vì xem xét tổng quát các nội dung của dự án, do đó ở giai đoạn này khó phát hiện được các vấn đề cần phải bác bỏ, hoặc các sai sót của dự án cần bổ sung hoặc sửa đổi. Chỉ khi tiến hành thẩm định chi tiết, những vấn đề sai sót của dự án mới được phát hiện. + Thẩm định chi tiết: Được tiến hành sau thẩm định tổng quát. Việc thẩm định này được tiến hành tỉ mỉ, chi tiết với từng nội dung của dự án từ việc thẩm định các điều kiện pháp lý, tài chính và kinh tế xã hội của dự án. Mỗi nội dung xem xét đều đưa ra những ý kiến đánh giá đồng ý hay cần phải sửa đổi thêm hoặc không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, mức độ tập trung cho những nội dung cơ bản có thể khác nhau tùy theo đặc điểm và tình hình cụ thể của dự án. 5.2. Thẩm định theo phương pháp đối chiếu so sánh Nội dung của phương pháp này là so sánh, đối chiếu nội dung dự án với các chuẩn mực luật pháp quy định, các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật thích hợp, thông lệ ( quốc tế và trong nước) cũng như các kinh nghiệm thực tế, phân tích, so sánh để lựa chọn phương án tối ưu. Phương pháp so sánh được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau: + Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn về cấp công trình do Nhà nước quy định hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được. + Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công nghệ quốc gia, quốc tế. + Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đòi hỏi. + Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư. + Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công, tiền lương, chi phí quản lý… của ngành theo các định mức kinh tế - kỹ thuật chính thức hoặc các chỉ tiêu kế hoạch và thực tế. 5.3. Thẩm định theo phương pháp phân tích độ nhạy Phân tích độ nhạy của dự án là xem xét sự thay đổi các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án ( lợi nhuận, thu nhập thuần, tỷ suất hoàn vốn nội bộ…) khi các yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu đó thay đổi. Phân tích độ nhạy nhằm xem xét mức độ nhạy cảm của dự án đối với sự biến động của các yếu tố có liên quan. Hay nói cách khác, phân tích độ nhạy nhằm xác định hiệu quả của dự án trong điều kiện biến động của các yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu hiệu quả tài chính đó. Theo phương pháp này, trước hết phải xác định được những yếu tố gây ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án. Sau đó dự kiến một số tình huống bất trắc có thể xảy ra trong tương lai theo chiều hướng xấu đối với các dự án như: vượt chi phí đầu tư, giá các chi phí đầu vào tăng, giá tiêu thụ sản phẩm giảm, có thay đổi về chính sách thuế theo hướng bất lợi. Mức độ sai lệch so với dự kiến của các yếu tố ảnh hưởng đến đến dự án trong những tình huống xấu thường được chọn từ 10%- 20%. 5.4. Thẩm định theo phương pháp dự báo Hoạt động đầu tư mang tính chất lâu dài.Vì vậy việc vận dụng phương pháp này để đánh giá chính xác tính khả thi cảu dự án là vô cùng quan trọng. Nội dung của phương pháp này là sử dụng các số liệu thống kê điều tra được và vận dụng các phương pháp dự báo thích hợp để kiểm tra
Luận văn liên quan