Đề tài Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Kinh tế và chính trị là hai mặt lớn nhất của đời sống xã hội. Trong điều kiện đất nước ta hiện nay còn nghèo nàn lạc hậu thì đổi mới nền kinh tế đất nước là điều hết sức cần thiết. Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa thành công thì điều kiện tiên quyết là phải có một nền kinh tế vững chắc ổn định, đáp ứng đầy đủ mọi điều kiện cho đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa thành công. Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một nội dung cốt lõi quan trọng trong các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng ta từ khi đổi mới đến nay. Thời kỳ trước đổi mới, về nhận thức, chúng ta đó nhấn mạnh quá mức và coi chính trị là yếu tố quyết định kinh tế và tất cả các lĩnh vực của đời sống xó hội, mà coi nhẹ vai trũ của kinh tế trong quan hệ với chính trị. Về cơ chế, chúng ta cũng nhận thức một cách đơn giản về tác động của chính trị đối với cơ sở kinh tế. Chính trị tác động quá sâu và chủ quan vào các quá trình kinh tế - xã hội. Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị có ảnh hưởng to lớn đến mọi mặt của hoạt động, đời sống xã hội. Mọi hoạt động khác có diễn ra thuận lợi hay không đỏi hỏi phải dựa trên mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị có diễn ra bình thường hay không. Nhận thức được điều đó, Đảng ta chủ trương “Kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”. Đây là nhận thức đúng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Để nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa chính trị với kinh tế theo quan điểm CN Mác-Lênin và hiểu rõ sự vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, góp phần đấu tranh phê phán những quan điểm tư tưởng và hành động lệch lạc như : tuyệt đối hoá sức mạnh chính trị, hoặc khuynh hướng tuyệt đối hoá tự do kinh tế, buông lỏng, xem nhẹ sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước đối với quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, nhóm lựa chọn phân tích chủ đề: “Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay”

docx18 trang | Chia sẻ: duongneo | Lượt xem: 1767 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Kinh tế và chính trị là hai mặt lớn nhất của đời sống xã hội. Trong điều kiện đất nước ta hiện nay còn nghèo nàn lạc hậu thì đổi mới nền kinh tế đất nước là điều hết sức cần thiết. Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa thành công thì điều kiện tiên quyết là phải có một nền kinh tế vững chắc ổn định, đáp ứng đầy đủ mọi điều kiện cho đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa thành công. Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một nội dung cốt lõi quan trọng trong các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng ta từ khi đổi mới đến nay. Thời kỳ trước đổi mới, về nhận thức, chúng ta đó nhấn mạnh quá mức và coi chính trị là yếu tố quyết định kinh tế và tất cả các lĩnh vực của đời sống xó hội, mà coi nhẹ vai trũ của kinh tế trong quan hệ với chính trị. Về cơ chế, chúng ta cũng nhận thức một cách đơn giản về tác động của chính trị đối với cơ sở kinh tế. Chính trị tác động quá sâu và chủ quan vào các quá trình kinh tế - xã hội. Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị có ảnh hưởng to lớn đến mọi mặt của hoạt động, đời sống xã hội. Mọi hoạt động khác có diễn ra thuận lợi hay không đỏi hỏi phải dựa trên mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị có diễn ra bình thường hay không. Nhận thức được điều đó, Đảng ta chủ trương “Kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”. Đây là nhận thức đúng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Để nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa chính trị với kinh tế theo quan điểm CN Mác-Lênin và hiểu rõ sự vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, góp phần đấu tranh phê phán những quan điểm tư tưởng và hành động lệch lạc như : tuyệt đối hoá sức mạnh chính trị, hoặc khuynh hướng tuyệt đối hoá tự do kinh tế, buông lỏng, xem nhẹ sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước đối với quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, nhóm lựa chọn phân tích chủ đề: “Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay” PHẦN I: MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ I. Khái niệm kinh tế và chính trị Chính trị: là những công việc nhà nước hay xã hội. Phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước. Về thực chất, chính trị là quan hệ về lợi ích (trước hết và cơ bản là lợi ích kinh tế) giữa các giai cấp, các lực lượng XH, các quốc gia, dân tộc mà việc thực hiện lợi ích đó phải thông qua quyền lực nhà nước.Trong chính trị, vấn đề quyền lực chính trị (mà trọng tâm là quyền lực nhà nước) luôn là mục tiêu của các giai cấp. Khi nắm được quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước tức là nắm được công cụ cơ bản nhất để giải quyết các vấn đề lợi ích của các giai cấp. Do vậy, xét từ góc độ quan hệ với kinh tế thì vấn đề chính trị thực chất cũng chính là vấn đề kinh tế bởi vì giải quyết vấn đề quyền lực chính trị sẽ trực tiếp tác động đến động lực của sự phát triển kinh tế. Mác Lênin đã rút ra kết luận : quan hệ chính trị xét về bản chất là do quan hệ kinh tế, chính sự ra đời và tồn tại của giai cấp, chính nhu cầu của các giai cấp quyết định nội dung của các lợi ích chính trị. . Kinh tế: được hiểu là toàn bộ các lĩnh vực, các ngành khác nhau của một nền kinh tế quốc dân, mà cơ sở của nó là các quan hệ cơ bản : quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức và quản lý lao động XH, quan hệ phân phối sản phẩm làm ra. Phạm vi kinh tế là cơ sở cần thiết và sâu xa nhất của xã hội loài người, gần như toàn bộ các mối quan hệ khác trong xã hội đều được quy định bởi lĩnh vực kinh tế, vì vậy nó quyết định chế độ chính trị và quyết định quyền lực nhà nước. II. Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay. Trước tiên, phải khẳng định rằng, quan hệ chính trị với kinh tế là mối quan hệ biện chứng luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau. Trong quá trình đổi mới đất nước, khi xác định đường lối phát triển giữa chính trị và kinh tế, Đảng ta khẳng định “lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm”. Điều này xuất phát từ quan điểm kinh tế là nền tảng của chính trị, kinh tế bao giê cũng quyết định chính trị và điều này được khẳng định hoàn toàn trong lý luận cũng như trong thực tiễn. A, Vai trò của kinh tế đối với chính trị. Có thể khẳng định rằng kinh tế luôn quyết định chính trị mà trước hết, nhân tố kinh tế có tính quyết định nhất, tác động đến đời sống chính trị chính là hệ thống các quan hệ sở hữu. Nếu quan hệ sở hữu thay đổi về căn bản và cùng với nó là sự thay đổi các quan hệ kinh tế khác mà trước hết nó làm biến đổi bản chất của hệ thống các quan hệ sản xuất. Hệ thống các quan hệ sản xuất khi đã thay đổi về căn bản sẽ dẫn đến thay đổi căn bản chế độ chính trị, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Kinh tế thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của chính trị, thậm chí một vấn đề kinh tế không lớn nhưng có thể trở thành một vấn đề chính trị phức tạp, có thể làm đảo lộn đời sống chính trị, xã hội. Lực lượng nào, giai cấp nào nắm kinh tế thì lực lượng đó, giai cấp đó nắm quyền lực chính trị, chi phối đời sống xã hội. Ngược lại, nếu một giai cấp, lực lượng XH đã làm chủ về quyền lực chính trị mà không xây dựng và giữ được địa vị chủ đạo về kinh tế thì sớm muộn cũng sẽ không thể duy trì được quyền lực chính trị. Chính vì vậy, Lênin đã rút ra nguyên lý về mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị:“Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”. Đằng sau các quan hệ chính trị là các quan hệ kinh tế, các quan hệ lợi ích kinh tế. Nguyên lý đó chỉ ra rằng: đường lối chính sách phải phản ánh được nhu cầu và quy luật kinh tế. Chỉ trong điều kiện đó, chính trị mới lãnh đạo, quản lý kinh tế có hiệu quả, mới giữ được vai trò chính trị. Thực tiễn những thời kỳ sau này đó xác nhận tính đúng đắn của nguyên lý ấy biểu hiện ở những thất bại của các đảng cầm quyền rơi vào chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo và quản lý kinh tế - xã hội. B, Vai trò của chính trị với kinh tế. Trong quá trình đổi mới, song song với việc lấy “đổi mới kinh tế làm trọng tâm”, Đảng xác định phải từng “đồng thời từng bước đổi mới chính trị”. Quan điểm này xuất phát từ chính trị mặc dù bị kinh tế quyết định nhưng chính trị lại có tính độc lập tương đối và có sự tác động trở lại kinh tế rất mạnh mẽ sự tác động độc lập của chính trị đến kinh tế. Về mặt lý luận: khi nhấn mạnh vai trò của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định rằng kiến trúc thượng tầng (chính trị) có tính độc lập tương đối và có sự tác động trở lại rất mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng (kinh tế). Về mặt thực tiễn: do nhận thức được quy luật kinh tế khách quan, kiến trúc thượng tầng (chính trị) có vai trò định hướng cho quy luật kinh tế, mang lại phương án tối ưu cho phát triển kinh tế và phục vụ vì lợi ích của giai cấp. Với ý nghĩa đó, chính trị ra đời tồn tại và phát triển trên cơ sở nó có vai trò to lớn tác động đến kinh tế theo những quy luật kinh tế khách quan Biểu hiện sự tác động của chính trị đối với kinh tế: Một là chính trị định hướng cho kinh tế phát triển dựa trên quy luật khách quan, lựa chọn mô hình chiến lược phát triển kinh tế, tham gia vào việc điều tiết, lựa chọn tốc độ phát triển kinh tế. Hai là vai trò tác động của chính trị tác động đến các chủ thể kinh tế: mỗi chủ thể kinh tế có vai trò, địa vị, lợi ích riêng, vì vậy, chính trị phải có sự kiểm soát, tạo điều kiện tác động cho các chủ thể kinh tế phát triển và tạo điều kiện cho họ góp phần vào việc thực hiện lợi ích chung. Ba là vai trò của cơ cấu tổ chức và phương thức tổ chức, quản lý con người-xã hội đối với kinh tế để phát huy được vai trò của nhân tố con người Từ những tác động trên của chính trị đến kinh tế, Lênin cho rằng “Chính trị không thể không giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế”. Luận điểm này khẳng định tính ưu tiên cho chính trị so với kinh tế, tức là kết quả đạt được về phát triển kinh tế phải tính đến việc bảo vệ củng cố và phát triển thành quả chính trị đạt được (củng cố và phát triển hệ thống chính trị). Khi giải quyết các vấn đề kinh tế thì phải góp phần duy trì củng cố quyền lực chính trị. Mặt khác, trong kinh tế dù cải tổ hay đổi mới như thế nào cũng phải luôn giữ vững hệ tư tưởng chính trị vì hệ tư tưởng chính trị quy định phương hướng mục tiêu, bản chất của chế độ xã hội. Trong điều kiện cách mạng XHCN, sự ưu tiên của chính trị so với kinh tế là tất yếu để xây dựng CNXH: đó chính là giành, giữ và sử dụng quyền lực chính trị và xây dựng nền kinh tế mới. Luận điểm này cũng cho thấy phải có quan điểm chính trị khi giải quyết các vấn đề kinh tế và phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước đối với phát triển kinh tế là tất yếu khách quan. Chính trị phải được ưu tiên và giữ hàng đầu so với kinh tế vì chính trị có khả năng can thiệp một cách tự giác vào quá trình kinh tế khách quan. Sự tác động của chính trị đối với kinh tế có thể theo hai hướng : một là nếu chính trị tác động cùng chiều với sự phát triển kinh tế, khi đó chính trị có vai trò tích cực, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội theo hướng chuyên môn hóa, hợp tác hóa. Hai là nếu chính trị tác động ngược chiều với sự phát triển kinh tế, khi đó chính trị là vật cản đối với sự phát triển kinh tế. Vai trò tác động của chính trị đối với kinh tế không chỉ dừng lại ở đó. Trong nhiều trường hợp dù đã có quyết sách chính trị đúng đắn (phản ánh đúng thực trạng và qui luật khách quan của kinh tế), nhưng trình độ năng lực tổ chức chỉ đạo thực tiễn phương thức hoạt động của hệ thống chính trị không vươn tới ngang tầm với nhiệm vụ chính trị đề ra, thì chính trị vẫn có thể cản trở kinh tế hoặc để cho kinh tế phát triển chệch hướng, trái với đường lối chính trị đã lựa chọn. Vì thế chính trị cũng phải tự đổi mới, phải có cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, thiết chế vận hành phù hợp với cơ sở kinh tế. PHẦN 2: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG TA VỀ NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VỚI CHÍNH TRỊ Thử thách lớn nhất đối với đảng cầm quyền trong thời bình xây dựng đất nước là nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị phù hợp với những đặc điểm dân tộc và bối cảnh thời đại.Nhìn lại lịch sử từ năm 1975 đến nay, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm lớn về giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị. I. Giai đoạn 1975 – 1986. Đây là thời kỳ chuyển từ mối quan hệ giữa chính trị với quân sự sang quan hệ giữa chính trị với kinh tế. Đảng và Nhà nước đó bỏ nhiều công sức vào việc tìm tòi một chiến lược kinh tế làm cơ sở cho việc thực hiện mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự quan tâm đó là đúng đắn. Nhưng lựa chọn hình thái kinh tế nào để thực hiện mục tiêu đó thì gặp nhiều khó khăn. Mô hình kinh tế ở các nước xã hội chủ nghĩa đang rơi vào trì trệ, suy thoái dần, nhiều biến động chính trị phát sinh từ kinh tế, thậm chí rối loạn chính trị như ở Trung Quốc vào cuối thập kỷ 60, đầu thập kỷ 70. Cuối cùng thì Đảng lựa chọn chiến lược công hữu hoá, nhà nước hoá toàn bộ lĩnh vực kinh tế thông qua cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng mô hình kinh tế 500 huyện, bỏ qua thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh lâu dài. Kết cục là kinh tế trì trệ và suy thoái, đời sống nhân dân nghèo nàn trong cơ chế bao cấp tràn lan, không được bảo đảm về nhu cầu y tế và giáo dục. Nguyên nhân thất bại trong thực hiện mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị thời kỳ này được Đại hội VI của Đảng chỉ ra một cách tổng quát là bệnh chủ quan duy ý chí. Đi sâu hơn về nguyên nhân thất bại thì thấy rõ đây là bài học chung của các Đảng Cộng sản cầm quyền thế kỷ XX, mà Đảng ta muốn vượt ra cũng không được. Bài học kinh nghiệm này của Việt Nam (cũng như các đảng khác) chỉ ra rằng: công tác lý luận và tư tưởng và tổ chức - cán bộ có tầm quan trọng quyết định đến chất lượng chính trị. Chừng nào công tác này còn yếu kém thì chưa thể đặt mối quan hệ giữa chính trị với kinh tế trên cơ sở khoa học và thực tiễn thời đại hiện nay. II. Giai đoạn đổi mới từ 1986 trở đi. Cột mốc quan trọng trong nhận thức và đổi mới "mối quan hệ kinh tế với chính trị" là Đại hội VI của Đảng (1986). Những giá trị của Đại hội VI có ý nghĩa lâu dài trong công cuộc đổi mới của Việt Nam. Những giá trị tiêu biểu nhất là: Một là chính trị có ổn định thì kinh tế mới phát triển. Đảng ta cho rằng ổn định chính trị không có nghĩa là bảo thủ, trì trệ, ngược lại nó có vai trò quan trọng đảm bảo điều kiện cho các lĩnh vực khác phát triển, làm cho quá trình đổi mới trở nên toàn diện hơn. Ổn định chính trị cũng đồng thời góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình đổi mới đất nước.Để giữ vững ổn định chính trị, tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (3-1989) quyết định các nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo toàn bộ quá trình đổi mới theo đúng định hướng XHCN: “Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan niệm không đúng, làm phong phú những quan niệm đúng về thời đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo vào phát triển chứ không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin”.Một bước đi cực kỳ đứng đắn và thể hiện được bản lĩnh chính trị của Đảng ta biểu hiện bằng nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (8-l989) về công tác tư tưởng trong bối cảnh quốc tế vô cùng phức tạp khi đó: "Chế độ chính trị của chúng ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng... Chúng ta không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị, không để cho các tổ chức chống đối chủ nghĩa xã hội ra đời và hoạt động, không coi việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần là thực hiện chủ trương đa nguyên về kinh tế” Hai là lấy kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị. Chủ trương giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị được tiếp tục nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII: “Phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội” Kinh nghiệm thành công của sự kết hợp đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” Đó là những quan điểm đúng đắn của Đảng ta phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân lao động, những quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong các kỳ Đại hội IX, X với mục tiêu: “đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, văn hóa, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị”. Đại hội XI của Đảng đã đưa ra quan điểm về đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị: “Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương..” Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở nước ta về cơ bản là giống so với các nước khác. Song mặt khác nước ta thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế từ xuất phát điểm là một nền kinh tế kém phát triển, chứa nhiều đặc thù riêng: Đảng ta xác định tư tưởng độc lập tự chủ trong việc xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Công cuộc đổi mới này diễn ra dưới sự chỉ huy của một thể chế chính trị khác hẳn so với các nước đó là nhà nước xã hội chủ nghĩa do đó mối quan hệ kinh tế chính trị ở nước ta còn chứa đựng nhiều điểm riêng đặc trưng. Quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội ta hiện nay là quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa, với hai thành phần kinh tế chủ đạo là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Từ đó trên cơ sở quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa hình thành nên nhà nước Việt nam với thể chế chính trị là một nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ở nước ta hiện nay liên minh giữa công nhân và nông dân, giữ địa vị thống trị về kinh tế do đó cũng nắm vững sự thống trị, Nhà nước Việt nam là nhà nước của dân do Đảng cộng sản Việt nam là Đảng được thành lập bởi giai cấp công nhân lãnh đạo. Hiện nay muốn tiếp tục đi theo con đường xã hội chủ nghĩa thì đòi hỏi nước ta phải có một nền kinh tế vững chắc để làm chỗ dựa phục vụ cho các mục đích chính trị lâu dài. Sức mạnh về kinh tế sẽ là bàn đạp cho mọi hoạt động chính trị vì sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa diễn ra thành công. Ngày nay khi đất nước thực sự bước vào xây dựng và phát triển kinh tế, trung tâm lãnh đạo của Đảng là mặt trận kinh tế. Với tư cách là đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng phải gánh vác sứ mệnh lãnh đạo công cuộc đổi mới và phát triển nền kinh tế của đất nước. Toàn bộ lãnh đạo hoạt động kinh tế đều hướng vào mục tiêu: ổn định chính trị phục vụ dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh , xây dựng thành công chế độ xã hội chủ nghĩa. PHẦN III: NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT NÂNG CAO MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VỚI CHÍNH TRỊ I.Những tồn tại. - Hiện nay trong quá trình đổi mới nền kinh tế thì hoạt động chính trị còn tồn tại nhiều bất cập, tác động xấu tới nền kinh tế. Trước hết phải nói tới việc Nhà nước thọc tay quá sâu vào công việc làm ăn của các cơ sở kinh tế. Nhà nước ta vẫn còn tồn tại thói quan liêu làm cho cơ sở kinh tế không mạnh bạo trong quá trình làm kinh tế. Các đơn vị kinh tế Nhà nước thường làm ăn không có hiệu quả nhưng vì mục đích chính trị như để định hướng nền kinh tế, sản xuất các sản phẩm phục vụ cho an ninh quốc phòng hoặc dùng làm công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế nên vẫn được duy trì dù làm ăn thua lỗ gây thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế. - Các chính sách, luật định, các quy luật về hoạt động kinh tế còn nhiều rắc rối, gây phiền nhiễu cho các hoạt động kinh tế làm các nhà đầu tư ái ngại. Hệ thống luật pháp còn nhiều kẽ hở, mâu thuẫn giữa các điều khoản tạo điều kiện cho tham ô tham nhũng, chiếm đoạt tài sản gây ra bất ổn về kinh tế kéo theo là hàng loạt những bất ổn về đời sống chính trị và xã hội làm giảm lòng tin của người dân vào chế độ. II.Các giải pháp. Để khắc phục những tồn tại trên và đẩy mạnh đổi mới phát triển kinh tế thì có thể áp dụng một số giải pháp sau: A. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường. Cần nhận thức rõ ràng mỗi thành phần kinh tế ở nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội có bản chất kinh tế xã hội riêng chịu sự tác động của các quy luật kinh tế riêng. Bên cạnh sự thông nhất về kinh tế còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn và khác biệt khiến cho nền kinh tế thị trường ở nước ta có khả năng phát triển theo những chiều hướng khác nhau. Để tránh nảy sinh những phát triển của kinh tế theo hướng tiêu cực thì đòi hỏi mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị phải hết sức chặt chẽ. Phải có một chế độ chính trị ổn định, vững chắc để định hướng cho nền kinh tế đúng theo con đường mà Đảngvà nhà nước ta đang đi theo đó là con đường xây dựng chế độ chủ nghĩa xã hội. Giữ vững sự ổn định về chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp: sự ổn định về chính trị bao giê cũng là nhân tố quan trọng đầu tiên nó là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước yên tâm đầu tư. Muốn giữ vững sự ổn định về chính trị ở nước ta hiện nay cần phải giữ và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước phát huy q
Luận văn liên quan