Đề tài Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn và đảm bảo tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được khẳng định trong Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX và gần Đây đại hội Đảng lần thứ X. Qua đó, có thể thấy rõ mục tiêu chiến lược phất triển đất nước trong những năm tới mà trọng tâm là đưa đất nước ta đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện địa. Để thực hiện được mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010, Đảng đã chỉ rõ phải “ Đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý.” , đổng thời, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dowis sự lánh đạo của Đảng được đề ra như một nhiệm vụ chiến lược với phương châm “ Nhà nước quản lý xã hôi bằng pháp luật, trong đó VBQPPL ban hành cần đảm bảo không chỉ sớ lượng kịp thời mà chất lượng văn bản ban hành, đạt hiệu quả trong áp dụng pháp luật. Để đáp ứng được yêu cầu này không thể không kể tới việc đảm bảo tính hợp Hiến, tính hợp pháp và tính thồng nhất cảu VBQPPL. Như vậy, tính hợp Hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của VBQPPL là yêu cầu khách quan, tất yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật Nhà nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu của tình hình hiện nay, nhất là trong bối cảnh hiện nay của nước ta, một nước đang gấp rút hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO, hoạt động và xây dựng VBQPPL của các chủ thể còn nhiều hạn chế và bất cập. Tính ban hành VBQPPL không đảm bảo tính họp Hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của VBQPPL còn phổ biến ở nhiều cấp, nhiều ngành, địa phương, gây nhiều bức xúc trong nhân dân và ảnh hưởng totí hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và tiến trình hội nhập kinh tế thế giới cảu nước ta. Xuất phát từ thực trạng đó, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn và đảm bảo tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất củaVBQPPL trong hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL có ý nghĩa rất quan trọng và càn thiết.

doc40 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Lượt xem: 2306 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn và đảm bảo tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời nói đầu Quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được khẳng định trong Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX và gần Đây đại hội Đảng lần thứ X. Qua đó, có thể thấy rõ mục tiêu chiến lược phất triển đất nước trong những năm tới mà trọng tâm là đưa đất nước ta đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện địa. Để thực hiện được mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010, Đảng đã chỉ rõ phải “ Đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý..” , đổng thời, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dowis sự lánh đạo của Đảng được đề ra như một nhiệm vụ chiến lược với phương châm “ Nhà nước quản lý xã hôi bằng pháp luật, trong đó VBQPPL ban hành cần đảm bảo không chỉ sớ lượng kịp thời mà chất lượng văn bản ban hành, đạt hiệu quả trong áp dụng pháp luật. Để đáp ứng được yêu cầu này không thể không kể tới việc đảm bảo tính hợp Hiến, tính hợp pháp và tính thồng nhất cảu VBQPPL. Như vậy, tính hợp Hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của VBQPPL là yêu cầu khách quan, tất yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật Nhà nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu của tình hình hiện nay, nhất là trong bối cảnh hiện nay của nước ta, một nước đang gấp rút hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO, hoạt động và xây dựng VBQPPL của các chủ thể còn nhiều hạn chế và bất cập. Tính ban hành VBQPPL không đảm bảo tính họp Hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của VBQPPL còn phổ biến ở nhiều cấp, nhiều ngành, địa phương, gây nhiều bức xúc trong nhân dân và ảnh hưởng totí hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và tiến trình hội nhập kinh tế thế giới cảu nước ta. Xuất phát từ thực trạng đó, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn và đảm bảo tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất củaVBQPPL trong hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL có ý nghĩa rất quan trọng và càn thiết. Chương I: Lý luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật Khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật: Theo luật ban hành VBQPPL năm 2008 tại Điều 1 “1.Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này hoặc tronh lụt ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội. 2.Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, thủ tục được quy định trong luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật”. Ngoài ra dưới gốc độ khoa học, VBQPPL còn được định nghĩa: “VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự và hình thức luật định, trong đó chứa đựng những quy tắc xử sự mang tính chất bắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản và được thực hiện nhiều lần trong thực tiễn đời sống” 2.Khái quát về tính hợp Hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật 2.1.Tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật Hợp hiến là “đúng với quy định của Hiến pháp”.Theo đó, tính hợp Hiến của VBQPPL được hiểu là: mọi VBQPPL do các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền ban hành phải phù hợp với Hiến pháp. Tại Điều 146 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 có quy định “Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của nhà nước và có hiệu lực pháp lí cao nhất, mọi văn bản phải phù hợp với Hiến pháp”. Vì là luật cơ bản của nhà nước nên ngôn ngữ của Hiến pháp thường cô đọng, xúc tích, mang tính định hướng, Hiến pháp quy định những nguyên tắc cơ bản về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp…Đó là những nguyên tắc mang tính nền tảng và dựa vào đó Quôc hội ban hành các văn bản pháp luật khác nhằm đảm bảo thực thi trong đời sống xã hội. Để đảm bảo nguyên tắc Hiến pháp là luật cơ bản,có tính pháp lý cao nhất thì các văn bản pháp luật nói chung và VBQPPL nói riêng được tất cả các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, hay nói cách khác phải đảm bảo tính hợp Hiến. Tính hợp Hiến được biểu hiện thông qua hai điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, các VBQPPL không được trái với các quy định cụ thể của Hiến pháp: để đảm bảo VBQPPL không trái với các quy định của Hiến pháp thì cơ quan soạn thảo văn bản phải nắm rõ và hiểu đúng các quy định cụ thể của Hiến pháp liên quan tới lĩnh vực điều chỉnh của văn bản đang soạn thảo. Cần lưu ý rằng các quy định của Hiến pháp có thể được chia làm hai loại: những quy định có giá trị thi hành trực tiếp và những quy định có giá trị thi hành gián tiếp thông qua các đạo luật cụ thể. Ví dụ: nguyên tắc “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” được quy định tại Điều 52 Hiến pháp 1992 có giá trị thi hành trực tiếp và bất kỳ văn bản pháp luật nào dưới Hiến pháp đều phải đảm bảo rằng không có sự phân biệt đối xử đối với công dân trước pháp luật, trong khi quy định khác của Hiến pháp về quyền tự do kinh doanh ( Điều 57 Hiến pháp 1992) thì được coi là quy định có giá trị thi hành gián tiếp bởi lẽ quyền tự do kinh doanh mà Hiến pháp quy định là “tự do kinh doanh theo pháp luật”. Điều này có nghĩa là Hiến pháp giao cho Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền khác ban hành các đạo luật và các VBQPPL dưới luật quy định về quyền tự do kinh doanh của công dân ở mức độ nào, thông qua các hình thức nào và phải tuân thủ các thủ tục nào…Trong trường hợp thứ nhất, khi soạn thảo VBQPPL cần phải cân nhắc là trong những quy định trong dự thảo có hạn chế quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật hay không để trả lời câu hỏi là các quy định có hợp Hiến hay không? Còn trường hợp thứ hai thì cơ quan soạn thảo phải dẫn chiếu tới các văn bản pháp luật khác liên quan đến các quy định về kinh doanh, ví dụ: luật doanh nghiệp và các nghị định…để xác định tính hợp Hiến của các quy định trong dự thảo VBQPPL. Khi kiểm tra tính hợp Hiến của dự thảo VBQPPL, cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm định, thẩm tra cần đặc biệt lưu ý đến các quyền cơ bản của công dân mà Hiến pháp đã quy định để đảm bảo rằng các quyền đó không bị hạn chế. Có thể xây dựng một danh mục kiểm tra các quyền đó bằng cách liệt kê các quyền cơ bản, ví dụ : quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luật, tự do hội họp…để trả lời câu hỏi: liệu dự thảo quy định cụ thể nào đó có vi phạm hoặc làm hạn chế các quyền tự do đó hay không?Nếu Hiến pháp có quy định các quyền đó được thực hiện theo quy định của pháp luật thì cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm định phải tìm kiếm các VBQPPL khác như: luật, pháp lệnh, nghị định…để đối chiếu dự thảo của mình có phù hợp với các quy định của các VBQPPL đã ban hành về lĩnh vực đó hay không. Ví dụ, khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân soạn thảo VBQPPL về việc quản lý các cơ quan báo chí của địa phương mình thì cần phải đối chiếu với Luật báo chí và nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương quy định về việc thi hành Luật Báo chí vì Hiến pháp cho phép tự do báo chí nhưng “theo quy định của pháp luật”. Thứ hai:VBQPPL phải phù hợp với tinh thần của Hiến pháp. Đây là việc không đơn giản vì không dễ dàng hiểu tinh thần của Hiến pháp như thế nào. Tuy nhiên, nếu chỉ quy định rằng VBQPPL chỉ cần không trái với các quy định của Hiến pháp(điều khoản cụ thể của Hiến pháp) thì chưa đủ. Thực tế ban hành và áp dụng pháp luật từ trước tới nay thường có xu hướng đối chiếu áp dụng các điều khoản cụ thể của văn bản pháp luật chứ chưa chú trọng đến các nguyên tắc chung được quy định ở lời nói đầu hoặc phần những quy định chung cuarVBQPPL, do đó việc hiểu và áp dụng pháp luật nhiều khi mang tính máy móc, câu chữ và không có tính thống nhất.Lời nói đầu và phần những quy định chung thông thường xác định mục đích và những nguyên tắc cơ bản của VBQPPL mà các điều khoản cụ thể của văn bản đó sẽ được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản đó, hay nói cách khác chúng đã xác định phần “hồn” hoặc “tinh thần” của VBQPPL. Trở lại vấn đề tinh thần của Hiến pháp, nếu Hiến pháp quy định “không được phân biệt đối xử” thì các văn bản pháp luật, bất luận quy định dưới hình thức gì, nếu có tính chất “bất bình đẳng” giữa các công dân trước pháp luật thì đã không thể coi là không phù hợp với tinh thần của Hiến pháp. Nếu Hiến pháp thừa nhận “quyền tự do kinh doanh” của công dân thì các văn bản pháp luật khác không được phép quy định hạn chế các quyền đó. Tuy nhiên, không có tinh thần của Hiến pháp một cách chung chung mà tinh thần của Hiến pháp được thể hiện từ chính các quy phạm của Hiến pháp. 2.2. Tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật: Theo từ điển tiếng Việt, hợp pháp là: “đúng với pháp luật, không trái với pháp luật”. “Về phương diện pháp lí, khái niệm hợp pháp được sử dụng để chỉ ra ranh giới hợp pháp(đúng với pháp luật, không trái với pháp luật ) và không hợp pháp (không đúng với pháp luật, trái với pháp luật) trong việc nhà làm luật ban hành các quy định, quy phạm rõ rang (và không rõ rang), chính xác (hoặc không chính xác), thống nhất (hoặc không thống nhất), phù hợp (hoặc không phù hợp)…trong nội dung văn bản pháp luật”. Theo đó, tính hợp pháp của VBQPPL được hiểu là VBQPPL cần phải đảm bảo tuân thủ thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật, hay nói cách khác VBQPPL cấp dưới ngoài yêu cầu phù hợp với Hiến pháp thì còn phải phù hợp với VBQPPL cấp trên đã ban hành. Điều đó có nghĩa là pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội phải phù hợp với luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ Quốc hội, nghị định của Chính phủ phải phù hợp với luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quyết định của Thủ tướng Chính phủ phải phù hợp với nghị định của Chính phủ…VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phải phù hợp với VBQPPL của các cơ quan nhà nước và các cá nhân ở trung ương như luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của chủ tịch nước, các nghị quyết liên tịch, thông tư liên tịch..và các văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân cấp trên và nếu là văn bản của Ủy ban nhân dân còn phải phù hợp với văn bản của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Một điểm quan trọng là còn phải đối chiếu với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia khi ban hành các VBQPPL để đảm bảo rằng các VBQPPL không trái với các cam kết quốc tế đó. Biểu hiện tính hợp pháp của VBQPPL: Như trên đã nói, tính hợp pháp của VBQPPL là một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng VBQPPL được ban hành, quyết định sự tồn tại và hiệu lực pháp lý của VBQPPL. Đó là những biểu hiện về thẩm quyền ban hành VBQPPL; nội dung VBQPPL; trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành VBQPPL; thể thức, kỹ thuật trình bày VBQPPL. Thứ nhất:VBQPPL ban hành đúng thẩm quyền do pháp luật quy định Để đảm bảo tính hợp pháp, các VBQPPL không chỉ có nội dung hợp pháp mà còn phải được ban hành đúng thẩm quyền do pháp luật quy định. Thẩm quyền ban hành VBQPPL là giới hạn quyền lực của chủ thể trong quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL. Thực tế cho thấy, mỗi chủ thể được nhà nước trao cho thẩm quyền quản lý một lĩnh vực nhất định và thẩm quyền đó được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật. Khi thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân công, phân cấp, các cơ quan, cá nhân chỉ được thực hiện phần nhiệm vụ trong phạm vi thẩm quyền của mình. Như vậy, thẩm quyền ban hành VBQPPL bao gồm thẩm quyền hình thức và thẩm quyền nội dung. Thẩm quyền này được quy định trong các VBQPPL: Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004; các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể có thẩm quyền.Khi xem xét tính hợp pháp của VBQPPL, yêu cầu về thẩm quyền ban hành VBQPPL được xem xét ở cả hai phương diện: đúng thẩm quyền hình thức và đúng thẩm quyền nội dung. Ban hành VBQPPL đúng thẩm quyền hình thức: Thẩm quyền hình thức được hiểu là các chủ thể ban hành VBQPPL đúng tên gọi do pháp luật quy định. Theo quy định này, mỗi cá nhân, cơ quan trong thẩm quyền của mình chỉ được ban hành một hoặc một số hình thức VBQPPL do luật quy định. Đây chính là quy định của nhà nước nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống VBQPPL, đồng thời đảm bảo duy trì tính hợp pháp của VBQPPL về mặt hình thức. Thẩm quyền về hình thức của các chủ thể trong hoạt động ban hành VBQPPL được quy định trong Điều 2, Điều 21 Luật ban hành VBQPPL 2008 và khoản 2 Điều 1 luật ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, như sau: Quốc hội ban hành Hiến pháp,luật , nghị quyết; Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, nghị quyết; Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định; Chính phủ ban hành nghị định; Thủ tướng ban hành quyết định; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành thông tư; Chánh án tòa án nhân dân tối cao ban hành thông tư; Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết; Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư; Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ với cơ quant rung ương của tổ chức chính trị-xã hội cùng phối hợp ban hành nghị quyết liên tịch; Chánh án tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phối hợp ban hành thông tư liên tịch; Hội đồng nhân dân các cấp ban hành nghị quyết; Ủy ban nhân dân các cấp ban hành quyết định , chỉ thị. So với luật ban hành VBQPPL năm 1996(sửa đổi bổ sung năm 2002) thì luật mới quy định theo hướng đơn giản hóa thẩm quyền. Cụ thể là đã bỏ đi một số loại văn bản của các chủ thể như nghị quyết của Chính phủ, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, quyết định , chỉ thị của Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao… Theo như luật quy định các chủ thể phải đảm bảo cho văn bản ban hành đúng về mặt thẩm quyền hình thức.Một khi các chủ thể vi phạm yêu cầu này cũng có nghĩa là văn bản ban hành không hợp pháp về hình thức theo quy định của pháp luật. Ví dụ: trường hợp Chính phủ ban hành quyết định, thông tư; hay Ủy ban nhân dân ra nghị quyết…tuy nhiên có trường hợp văn bản do chủ thể có thẩm quyền ban hành mặc dù đúng tên loại văn bản được quy định trên nhưng không là VBQPPL.Ví dụ:Chính phủ ban hành VBQPPL dưới hình thức nghị định điều chỉnh địa giới hành chính cấp huyện, xã là nghị định áp dụng pháp luật. Ban hành VBQPPL đúng thẩm quyền về nội dung: Thẩm quyền về nội dung là giới hạn về quyền lực của các chủ thể trong quá trình giải quyết công việc do pháp luật quy định. Về thực chất, đó là “giới hạn của việc sử dụng quyền lực nhà nước mà pháp luật thực định đã đặt ra đối với từng cơ quan trong bộ máy nhà nước về mỗi loại công việc nhất định”.Nói một cách cụ thể, thẩm quyền nội dung là thẩm quyền pháp luật cho phép chủ thể có thẩm quyền ban hành VBQPPL để giải quyết công việc trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ ,quyền hạn. Trên thực tế, thẩm quyền này được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật hiện hành. Đó là thẩm quyền nội bị giới hạn bởi địa vị pháp lý của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước.Thông thường, địa vị pháp lý của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền được quy định rất rõ trong một số đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước như: Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân…hoặc quy định liên quan tới chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước.Ngoài ra thẩm quyền về nội dung còn được giới hạn bởi mức độ thực hiện thẩm quyền: nghĩa là các chủ thể có thẩm quyền có trách nhiệm ban hành VBQPPL để giải quyết công việc phát sinh trong phạm vi thẩm quyền, phạm vi không gian và thời gian do pháp luật quy định. Thứ hai: VBQPPL ban hành phải đảm bảo hợp pháp về nội dung Hệ thống pháp luật Việt Nam là hệ thống tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương. Để đảm bảo tính thống nhất thì VBQPPL phải được ban hành theo trật tự pháp lý từ trên xuống dưới, VBQPPL cấp dưới phải phù hợp với VBQPPL cấp trên. Nói cách khác, văn bản đó phải đảm bảo tính hợp pháp. Muốn như vậy, việc trước tiên khi ban hành VBQPPL là phải xác định căn cứ pháp lý để ban hành. Trong hoạt động ban hành VBQPPL, căn cứ pháp lý là những chuẩn mực pháp luật được quy định trong các văn bản liên quan mà theo đó văn bản được ban hành hợp pháp. Hiện nay, pháp luật chưa có quy định về việc trình bày văn bản với tư cách là căn cứ pháp lý. Tuy nhiên, căn cứ pháp lý để ban hành VBQPPL đảm bảo tính hợp pháp được định hướng viện dẫn theo mục đích ban hành văn bản thường là những văn bản quy định về thẩm quyền của chủ thể ban hành văn bản và các văn bản có liên quan đến nội dung dự thảo.Điều đương nhiên là văn bản được xác định làm căn cứ pháp lý phải là văn bản đang có hiệu lực pháp lý tại thời điểm ban hành văn bản. Thông thường, văn bản đóng vai trò là cơ sở pháp lý đảm bảo tính hợp pháp của VBQPPL là văn bản quy định trực tiếp về thẩm quyền của chủ thể ban hành văn bản. Hiện nay, thẩm quyền của các chủ thể trong hoạt động ban hành VBQPPL được quy định tại nhiều văn bản khác nhau. Muốn xác lập một cách chính xác cơ sở pháp lý củaVBQPPL, trước hết cần xác định nội dung công việc đó thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của các cơ quan nào.Để làm được điều này, chủ thể ban hành văn bản phải hiểu được các quy định của pháp luật hiện hành quan về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước nói chung và của cơ quan ban hành VBQPPL nói riêng. Ví dụ:Trong quyết định của Bộ trưởng Bộ Công thương về việc phê duyệt chương trình xúc tiến thương mại quốc gia năm 2008, nội dung công việc quy định về lĩnh vực xúc tiến thương mại quốc tế, nên thẩm quyền ban hành văn bản là Bộ trưởng Bộ Công thương, vì thế văn bản được xác định làm căn cứ cho quyết định ban hành hợp pháp là văn bản quy định về thẩm quyền, chức năng của Bộ trưởng Bộ công thương, cụ thể là Nghị định của chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương.Căn cứ vào văn bản này, Bộ trưởng mới đủ thẩm quyền ban hành quyết định và quyết định đó mới đảm bảo tính hợp pháp. Trên thực tế, các VBQPPL được ban hành không tồn tại biệt lập mà giữa chúng luôn có mối liên hệ mật thiết với những VBQPPL khác trong cùng một hệ thống. Do đó, quyết định trên của Bộ công thương còn viện dẫn những văn bản khác có nội dung liên quan tới quyết định ban hành.Những văn bản này có ý nghĩa đảm bảo cho quyết định được ban hành một cách hợp pháp và thống nhất. Trong ví dụ trên, VBQPPL có chứa đựng nội dung liên quan tới nội dung văn bản ban hành là quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc ban hành quy chế xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến thương mại quốc gia giai đoạn 2006-2010, là văn bản liên quan trực tiếp tới lĩnh vực xúc tiến thương mại. Thứ nữa, để đảm bảo tính hợp pháp về nội dung của VBQPPL ngoài yêu cầu phải đúng về căn cứ pháp lý, VBQPPL còn phải có nội dung phù hợp với quy định của pháp luật.Khi xem xét tính hợp pháp về nội dung của VBQPPL người ta thường chú trọng tới sự phù hợp, thống nhất về mặt nội dung giữa các văn bản theo nguyên tắc VBQPPL có hiệu lực thấp phải phù hợp với VBQPPL có hiệu lực cao; VBQPPL của cấp dưới phải phù hợp với văn bản của cấp trên; VBQPPL của cấp địa phương phải phù hợp với cấp trung ương; các VBQPPL cùng thứ bậc hiệu lực pháp lý phải hài hòa thống nhất. Trước hết, nội dung hợp pháp thể hiện ở việc VBQPPL phải phù hợp với nội dung văn bản do cấp trên ban hành. Trong nhiều trường hợp, yêu cầu này còn đượ
Luận văn liên quan