Đề tài Pháp gia và ảnh hưởng của pháp gia trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam

- Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ nhà Hạ (2.205 – 1.766TCN) đến Thương (1.766 – 1.123TCN) rồi đến Chu (1.123 – 256TCN) Người thầy đề xuất ra Nho Gia là Khổng Tử (551 – 479TCN). Khổng Tử có nói một câu: “Tính Tương Cận – Tập Tương Viễn”. Nghĩa là con người ta, khi sinh ra, đấng tạo hóa đã ban cho mọi người tính chất, tính nết, bản chất gần giống như nhau, gọi là “tính tương cận”; nhưng tùy theo môi trường sống, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo sự giáo dục và các mối quan hệ giữa con người với nhau, mà mọi người sẽ có tính tình, tính nết ngày càng khác nhau, không giống như lúc đầu nữa, gọi là “tập tương viễn”. Như vậy, Khổng Tử nói nhân tính của con người ban đầu gần giống như nhau, nhưng Khổng Tử không nói nhân tính đó là Thiện hay Ác. Còn chủ trương của Khổng Tử trong việc điều tiết xã hội đó là dùng Lễ, tức là dùng đạo đức, lễ giáo, để điều tiết xã hội. - Mạnh Tử (371? – 289?TCN) là hậu nhân của Khổng Tử, cũng theo phái Nho Gia. Mạnh Tử liên quan Khổng Tử qua việc ông theo học một đệ tử của Tử Tư, mà Tử Tư là cháu nội của Khổng Tử. M ạnh Tử có tư tưởng lý tưởng hóa Nho Gia. Ông phát triển “Tính Tương Cận” của Khổng Tử thành “Nhân Chi Sơ Tính Bổn Thiện”, ý ông là chẳng những Tính Tương Cận mà tính đó còn là Tính Thiện. Tuy Khổng Tử chủ trương nhân nghĩa, nhưng Khổng Tử không giải thích bản chất của nhân tính. Mạnh Tử thì cố gắng giải thích bản chất của nhân tính, và ông cho nhân tính là Tính Thiện. Nếu quả thật nhân tính con người là Tính Thiện, thì dùng Lễ điều tiết xã hội quả thật rất dễ dàng. Tuy nhiên, liệu rằng nhân tính có phải thật sự là Tính Thiện hay không? - Về sau, Tuân Tử có ý kiến khác, trái ngược với Mạnh Tử. Niên đại của Tuân Tử không được biết rõ, vào khoảng 298 – 238 TCN. Giống như Mạnh Tử, Tuân Tử cũng muốn giải thích bản chất của nhân tính, và ông cho rằng “Nhân Chi Sơ Tính Bổ Ác”. Và ý tưởng này sẽ được Hàn Phi Tử chấp bút sau này. Tuy nhiên, chủ trương của Tuân Tử vẫn là dùng Lễ để điều tiết xã hội, dùng đạo đức, giáo dục đạo đức để trị thiên hạ. Chính vì vậy mà Tuân Tử không rốt ráo, triệt để, mặc dù sự phát hiện của ông đã rất gần tới giải pháp. Nhưng không sao, hai học trò của ông đã làm tốt hơn ông rất nhiều, cũng là phúc của ông vậy.

pdf17 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 1862 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Pháp gia và ảnh hưởng của pháp gia trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh Khoa Ngân Hàng – Phòng Sau Đại Học Lớp Cao Học UEH_K21_Ngày 2 --o0o-- Đề tài: PHÁP GIA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁP GIA TRONG VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM GVHD: Tiến Sĩ NGUYỄN NGỌC THU Thực hiện: DƯƠ NG TUẤN NGỌC Năm thực hiện 2012 ĐỀ CƯƠNG I. Chương I – Cơ sở hình thành thuyết Pháp Tr ị .....................................................1 1. 03 cơ sở hình thành thuyết Pháp Trị ...............................................................1 2. Các bậc tiền nhân ..............................................................................................4 II. Chương II – Nội dung chính .................................................................................5 1. Sự kết hợp giữa Pháp – Thế - Thuật ...............................................................5 2. Sự kết hợp giữa Nho – Lão – Pháp ...............................................................11 III. Chương III - Ảnh hưởng của Pháp Gia trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam .........................................................................................................13 1. Giá trị còn mãi của Pháp Gia .........................................................................13 2. Ứng dụng Pháp Gia vào Việt Nam ...............................................................14 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH THUYẾT PHÁP TRỊ 1. 03 CƠ SỞ HÌNH THÀNH THUYẾT PHÁP TRỊ a. Thừa nhận: “Nhân chi sơ tính bổn ác” - Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ nhà Hạ (2.205 – 1.766TCN) đến Thương (1.766 – 1.123TCN) rồi đến Chu (1.123 – 256TCN)… Người thầy đề xuất ra Nho Gia là Khổng Tử (551 – 479TCN). Khổng Tử có nói một câu: “Tính Tương Cận – Tập Tương Viễn”. Nghĩa là con người ta, khi sinh ra, đấng tạo hóa đã ban cho mọi người tính chất, tính nết, bản chất gần giống như nhau, gọi là “tính tương cận”; nhưng tùy theo môi trường sống, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo sự giáo dục và các mối quan hệ giữa con người với nhau, mà mọi người sẽ có tính tình, tính nết ngày càng khác nhau, không giống như lúc đầu nữa, gọi là “tập tương viễn”. Như vậy, Khổng Tử nói nhân tính của con người ban đầu gần giống như nhau, nhưng Khổng Tử không nói nhân tính đó là Thiện hay Ác. Còn chủ trương của Khổng Tử trong việc điều tiết xã hội đó là dùng Lễ, tức là dùng đạo đức, lễ giáo,… để điều tiết xã hội. - M ạnh Tử (371? – 289?TCN) là hậu nhân của Khổng Tử, cũng theo phái Nho Gia. Mạnh Tử liên quan Khổng Tử qua việc ông theo học một đệ tử của Tử Tư, mà Tử Tư là cháu nội của Khổng Tử. M ạnh Tử có tư tưởng lý tưởng hóa Nho Gia. Ông phát triển “Tính Tương Cận” của Khổng Tử thành “Nhân Chi Sơ Tính Bổn Thiện”, ý ông là chẳng những Tính Tương Cận mà tính đó còn là Tính Thiện. Tuy Khổng Tử chủ trương nhân nghĩa, nhưng Khổng Tử không giải thích bản chất của nhân tính. M ạnh Tử thì cố gắng giải thích bản chất của nhân tính, và ông cho nhân tính là Tính Thiện. Nếu quả thật nhân tính con người là Tính Thiện, thì dùng Lễ điều tiết xã hội quả thật rất dễ dàng. Tuy nhiên, liệu rằng nhân tính có phải thật sự là Tính Thiện hay không? - Về sau, Tuân Tử có ý kiến khác, trái ngược với Mạnh Tử. Niên đại của Tuân Tử không được biết rõ, vào khoảng 298 – 238 TCN. Giống như Mạnh Tử, Tuân Tử cũng muốn giải thích bản chất của nhân tính, và ông cho rằng “Nhân Chi Sơ Tính Bổ Ác”. Và ý tưởng này sẽ được Hàn Phi Tử chấp bút sau này. Tuy nhiên, chủ trương của Tuân Tử vẫn là dùng Lễ để điều tiết xã hội, dùng đạo đức, giáo dục đạo đức để trị thiên hạ. Chính vì vậy mà Tuân Tử không rốt ráo, triệt để, mặc dù sự phát hiện của ông đã rất gần tới giải pháp. Nhưng không sao, hai học trò của ông đã làm tốt hơn ông rất nhiều, cũng là phúc của ông vậy. - Hai người nổi bậc nhất trong số đệ tử của Tuân Tử là Lý Tư và Hàn Phi Tử. Cả hai đều ảnh hưởng lớn đến lịch sử Trung Quốc. Lý Tư làm thừa tướng của Tần Thủy Hoàng, hãm hại Hàn Phi Tử uống thuốc độc, sau đó dùng học thuyết Pháp Gia của Hàn Phi Tử giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc về cả chính trị lẫn ý thức hệ. - Bàn về Nhân Chi Sơ Tính Bổn Ác: Ta sẽ tạm đặt mình vào suy nghĩ của Hàn Phi Tử, lần lượt phân tích hành vi của con người theo trình tự từ khi sinh ra cho đến khi chết, để thấy có phải Nhân Chi Sơ Tính Bổn Ác hay không? i. M ột đứa bé sinh ra, chưa được giáo dục, chưa được dạy dỗ vẫn biết ngoạm lấy vú mẹ mà bú, nếu có ai bắt nó ra khỏi vú mẹ, nó sẽ giẫy giụa, đá, đạp… chỉ muốn người ta trả vú mẹ lại cho nó. Hành động này, chắc chắn không phải do giáo dục, vì nó chưa được giáo dục, đây là hành động tự phát, bản chất, bản năng… Hàn Phi nói như vậy là ác. (Nếu chưa thuyết phục lắm, xin mời xem ví dụ thứ hai) ii. Lại một đứa khác, lớn hơn, đang ăn một cây kem, nếu có đứa khác giành với nó, cướp của nó, nó sẽ khóc la, đòi người lớn lại bênh vực nó, nếu không, nó sẽ nằm vạ, kêu gào, tru tréo… Hàn Phi cho như vậy là ác. Nhưng khi mẹ nó đến, mẹ nó dạy nó rằng: “Này con, con phải biết chia sẽ, con phải biết thương người, thằng bé kia khổ quá, nghèo quá mới ăn giựt của con, con phải biết chia sẽ với người khác…”. Sau khi nghe mẹ nó giáo huấn, nó sẽ dần dần thiện ra. Như vậy, theo Hàn Phi, Thiện là do giáo dục mà nên, còn bản chất vẫn là ác. iii. Từ xưa đến nay, chỉ nghe người ta dùng từ hướng thiện. Chẳng hạn như: “Tôi đang hướng thiện”. Chưa bao giờ nghe người ta dùng từ hướng ác. Tại vì sao? Tại vì loài người bản chất là ác nên mới Hướng Thiện. Chứ nếu Thiện rồi thì Hướng Thiện làm gì nữa? iv. Mẹ già như chuối chín cây. Gió lay m ẹ rụng con phải mồ côi… Vậy thương mẹ hay thương mình? Chúng ta chịu khó suy nghĩ lại một lần nữa, xem là thương mẹ hay thương mình? Mồ côi tội lắm ai ơi. Đ ói cơm khát nước biết người nào lo? Còn nữa, khi một người thân, một người bạn, một người tri kỉ của ta qua đời, ta khóc, ta thật sự thương bạn hay ta đang khóc vì thương mình? Khi bạn còn sống, ta có người chia buồn. Mỗi lúc ta thất vọng, đau khổ, có người cùng ta nhấp chén rượu, chia điếu thuốc, sớt ly cà phê, nay bạn đi rồi, ta khóc thương bạn hay khóc thân ta giờ đây cô quạnh, không còn ai chịu lắng nghe nỗi khổ của ta? Người về âm cảnh thân thơi thới. Kẻ ở dương gian dạ ngậm ngùi. Người về âm cảnh đương nhiên là thân thơi thới rồi, chết là thoát khổ, thoát khỏi bát khổ: sinh, lão, bệnh, tử, sở cầu bất đắc, thọ biệt li, oán tăng hội, ngủ thụ uẩn… Nhưng người chết vẫn còn ác, chết rồi vẫn ác, chết là thoát khổ, chết là sướng, nhưng sướng mà sợ người trên dương thế biết mình sướng nó chết theo, ta sướng nhưng ta không cho người khác biết ta sướng, cho nên ta sướng ta cười, mà không dám cười lớn, sợ nó nghe, nên mới có câu: “Ngậm cười nơi chín suối”. v. Dẫn chứng cuối cùng. Trong tình yêu, ta thử xem ta yêu người hay ta yêu ta? Khi người yêu ta bỏ ta, và đang vui bên một người khác, có lẽ người ta yêu đang hạnh phúc. Nếu ta Thiện, ta sẽ vui vì cái vui của người yêu, ta sẽ hạnh phúc vì cái hạnh phúc của người yêu. Nhưng không, ta buồn, ta rất buồn, đau khổ, có khi ta hận, ta tức, ta oán trách… vậy thật ra ta thiện hay ta ác? Có khi người ta còn đánh ghen bằng dao lam rạch mặt, tạt axít… Như vậy, trong tình yêu, bản thân ta lầm tưởng rằng ta yêu người, nhưng sự thật không phải ta yêu người mà là ta yêu ta, ta yêu và ta muốn chiếm hữu… Vậy bản chất là Thiện hay Ác? Câu trả lời đã quá rõ. - Sau khi ta đã nghiên cứu Tính Ác của Tuân Tử, mà sau này là Hàn Phi Tử phát triển, chúng ta nhận ra rằng nếu chủ trương giáo dục về lễ, về đạo đức của Nho Gia để điều tiết xã hội, để trị quốc… thì e rằng chưa khả thi lắm ! - Lễ giáo, đạo đức đương nhiên là giá trị quan trọng, con người sống có đạo đức sẽ được mọi người kính trọng, ca tụng. Ta không thể phủ nhận vai trò của lễ giáo, của đạo đức. Nhưng trong một xã hội, nhiều con người, nhiều thành phần với đủ thứ những trình độ, nhận thức khác nhau, nếu ta cứ hô hào, giảng giải, phân tích đạo đức, lễ giáo thì hiệu quả không cao. Cho nên, Nho Gia tỏ ra sự bất lực, thất bại trong việc trị nước. - Đây cũng chính là một trong những cơ sở để Pháp Gia ra đời, thay thế Nho Gia trong việc trị nước. Điều này không có nghĩa rằng là Pháp Gia phủ định sạch trơn Nho Gia, mà chỉ có nghĩa là Pháp Gia hiệu quả hơn Nho Gia trong việc trị nước. Pháp Gia thừa nhận bản tính con người là Ác, và việc cải hóa con người thành Thiện là không quan trọng, không cần con người phải làm Thiện, miễn là đừng làm bậy là được rồi! b. Thừa nhận sự tồn tại của Lý – tính quy luật hay những lực lượng khách quan trong xã hội! Lý chi phối mọi sự vận động của tự nhiên và xã hội. Hàn Phi yêu cầu con người phải nắm lấy cái lý của vạn vật luôn biến hóa mà hành động cho phù hợp. c. Xã hội luôn luôn vận động, biến đổi, muốn tồn tại và phát triển thì phải tuân theo quy luật chung - Các triết gia thường viện dẫn uy quyền cổ nhân làm căn cứ chứng minh học thuyết của mình. Như Khổng Tử viện dẫn Văn Vương và Chu Công. Mặc Tử viện dẫn Vua Vũ đời Hạ còn xa xưa hơn Văn Vương, Chu Công một ngàn năm. Mạnh Tử còn viện dẫn người còn cổ xưa hơn cả Mặc Tử nữa đó là Vua Nghiêu, Vua Thuấn. Rồi kinh khủng hơn, Nho Gia và Mặc Gia sau này còn viện dẫn cả ông tằng ông tổ nữa đó là Phục Hi và Thần Nông. - Như vậy nhìn ngược vào quá khứ, các triết gia này đã tạo ra một sử quan thoái hóa. Bởi vì họ nhất trí rằng thời hoàng kim của con người là ở quá khứ chứ không phải ở tương lai. Họ nhất trí rằng muốn cứu vớt nhân loại thì đừng sáng tân mà hãy phục cổ. Nho Gia chủ trương cai trị con người bằng lễ giáo và đạo đức của người xưa. Mặc Gia chủ trương kiêm ái. Đạo Gia chủ trương xây dựng nước nhỏ, không giao ban các nước khác, sống thuần phác tự nhiên như cổ nhân. Duy chỉ có Pháp Gia có tư tưởng lịch sử tới đâu, tư duy tới đó. Nghĩa là hoàn cảnh đã thay đổi, phải có phương pháp mới để cai trị con người, chứ không nói lý thuyết suông như Nho Gia, không tư duy thoái hóa như Đạo Gia được. - Xã hội luôn luôn vận động, biến đổi, cái cũ không còn phù hợp nữa đương nhiên sẽ có cái mới ra đời thay thế nó. Khi Nho Gia tồn tại và tất yếu, nó đã trở thành hiện thực và vì thế nó hợp lý. Khi xã hội thay đổi, sự phân hóa ngày càng sâu sắc, thì Nho Gia đã mất đi tính tất yếu của mình, vì thế nó không còn là hiện thực và hợp lý nữa. Pháp Gia ra đời, tồn tại và tất yếu, đương nhiên Pháp Gia trở thành hiện thực và hợp lý. Minh chứng hùng hồn nhất là Tần Thủy Hoàng dùng Pháp Gia trị quốc và bình định được thiên hạ. Tạo nên dấu ấn vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc. - Quan niệm “Lịch sử là một tiến trình thay đổi” thì bình thường theo suy nghĩ của ta hiện nay, nhưng nó được xem là một quan niệm cách mạng đối với các thuyết lưu hành của các học phái khác ở Trung Quốc Cổ Đại. - Thương Ưởng nói: “Khi nguyên lý của dân không phù hợp hoàn cảnh thì các chuẩn mực giá trị phải thay đổi; việc đời biến đổi thì nguyên lý thi hành phải khác”. - Hàn Phi Tử nói: “Người xưa chất phác hơn và có lẽ họ đạo đức hơn người thời nay là do hoàn cảnh vật chất chứ không phải do sự lương thiện cao thượng thiên phú. Ngày xưa dân ít tài nguyên dư, nên không tranh giành. Ngày nay dân quá đông mà tài nguyên khan hiếm, đương nhiên phải tranh giành. Hoàn cảnh mới thì rắc rối mới nảy sinh, chỉ có thể giải quyết rắc rối mới bằng các biện pháp mới mà thôi. - Hiện nay tất cả các nước trên thế giới đều dùng Pháp Luật để trị nước, không quốc gia nào dùng cách hô hào, kêu gọi, giảng dạy đạo đức mà có thể giữ gìn được trật tự xã hội. Chỉ trừ những quốc gia đang chiến tranh, do họ chưa thiết lập được Nhà Nước nên chưa có áp dụng Pháp Luật được. - Nhưng tùy thời tùy thế mà Pháp Luật cũng sẽ thay đổi để phù hợp với tồn tại xã hội. Chứ không phải đặt ra một pháp luật là có thể đúng cho mọi quốc gia, mọi thời đại. Tư tưởng này, Hàn Phi cũng có nói trong bộ sách Hàn Phi Tử, cho thấy ông thật nhìn xa trông rộng, thấy được cái mà cái triết gia trước đó không thấy được. Bởi thế mà học thuyết của ông làm nên lịch sử. 2. CÁC BẬC TIỀN NHÂN Đại diện cho Pháp Gia có các tiền nhân sau đây a. Quản Trọng (? – 645TCN) được coi là người đầu tiên bàn về Pháp Luật như một cách trị nước, và chủ trương công bố pháp luật rộng rãi trong công chúng. Đối với ông, người trị nước phải coi trọng Luật, Lệnh, Hình, Chính. Tùy theo thời thế và ý của dân mà đưa ra Pháp một cách rõ ràng, phải chỉ cho dân biết rõ Pháp rồi mới thi hành, và khi thi hành phải giữ cho được lòng tin với dân. Như vậy, có thể coi Quản Trọng là người khởi xướng Pháp Gia. - Quản Trọng tên thật là Quản Di Ngô, phò công tử Củ, sau này phò công tử Tiểu Bạch làm vua nước Tề. Tiểu Bạch là Tề Hoàn Công. b. Thân Bất Hại (401 – 337TCN): Thân Bất Hại là tướng quốc của nước Hàn, chủ trương dùng Thuật. c. Thương Ưởng (390 – 338TCN): Thương Ưởng còn gọi là Thương Quân, hay Vệ Ưởng, làm Thừa Tướng của nước Tần, cũng chủ trương dùng Pháp. Có người nói Thương Ưởng học theo Quản Trọng. Tất nhiên Thương Ưởng cũng có những nét riêng của mình. Ngoài ra Thương Ưởng còn chịu ảnh hưởng của Lý Khôi, Ngô Khởi. d. Thận Đáo (370 – 290TCN): Thận Đáo chủ trương dùng Thế. e. Hàn Phi Tử (280 – 233TCN): Hàn Phi Tử chủ trương kết hợp cả Thuật - Thế - Pháp; đồng thời Hàn Phi Tử còn kết hợp cả Nho – Lão – Pháp lại với nhau, trong đó, Nho Gia là “vật liệu để xây dựng xã hội”, Đạo Gia là “kĩ thuật thi công”, còn Pháp Gia là “bản thiết kế”. Vì vậy, Hàn Phi Tử đương nhiên trở thành người tập đại thành của Pháp Gia, ông là Pháp Gia cuối cùng và cũng là Pháp Gia vĩ đại nhất. CHƯƠNG 2. NỘI DUNG CHÍNH 1. SỰ KẾT HỢP GIỮA PHÁP – THẾ - THUẬT - Phép trị quốc của Hàn Phi Tử là một học thuyết có nội dung hoàn chỉnh được tổng hợp từ Pháp – Thế – Thuật; trong đó, Pháp là nội dung chính của chính sách cai trị, Thế và Thuật là phương tiện để thực hiến chính sách đó. Cả Pháp – Thế – Thuật đều là công cụ trị nước của bậc đế vương. Ba thuyết Pháp – Thế – Thuật của Pháp Gia liên quan chặt chẽ với nhau, chống đỡ lẫn nhau, có cái Thế mới thi hành được Pháp – Thuật, mà có Pháp – Thuật mới giữ vững được Thế, hễ thiếu một là sụp đỗ hết. Vì vậy mà khi xét đến một trong ba cái đó, phải nhắc tới hai cái kia, không thể tách rời hẳn ra được. - Chúng ta sở dĩ tạm thời chia làm ba phần: Pháp – Thế – Thuật chỉ để cho dễ trình bày, chứ thực sự muốn hiểu rõ một phần nào thì phải tham khảo thêm hai phần kia. a. Pháp: Pháp được hiểu là quy định, luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân theo; là tiêu chuẩn khách quan để định rõ danh phận, trách nhiệm của con người trong xã hội. Ông đòi hỏi, bậc minh chủ sai khiến bề tôi, không đặt ý ngoài pháp, không ban ơn trong pháp, không hành động trái pháp. - Chữ “Pháp” trong Nho Gia mang nghĩa những phép tắc. Chữ “Pháp” trong Pháp Gia mang nghĩa là pháp luật. Pháp luật là một thứ tiêu chuẩn để biết đâu là chính đâu là tà, để khen đúng người phải, trách đúng kẻ quấy. Pháp là hiệu lệnh công bố ở các công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc thi hành, thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo pháp. - Áp dụng pháp luật thì kẻ trí phải theo mà kẻ dũng không dám cãi, khiến cho toàn dân noi theo một đường. Pháp luật phân minh thì người trên được coi trọng, không bị lấn lướt, từ đó thế vua càng mạnh, nắm được các mối quan trọng. Quy tắc của pháp luật: - Theo chủ trương của Pháp Gia, vua tượng trưng cho quốc giá, vua là quốc gia, nên vua nắm hết uy quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy nhiên vua không thể muốn đặt luật pháp ra sao cũng được, mà phải theo những nguyên tắc dưới đây: + Luật pháp phải hợp thời: - Trong chương Lịch sử quan của Hàn Phi, Hàn Phi cũng như Thương Ưởng cho rằng lịch sử chuyển biến thời sau không giống như thời trước, mà hễ thời đã khác thì việc cũng phải khác, thánh nhân không theo cổ, phải xét tình hình hiện tại mà tùy nghi tìm biện pháp. - Pháp luật cùng với thời mà thay đổi thì nước trị, trị dân mà hợp với đời thì có kết quả. Thời thay mà pháp luật không đổi thì nước loạn, đời đã thay đổi mà cấm lệnh không biến thì nước bị chia cắt. Cho nên thánh nhân trị dân thì pháp luật theo thời mà thay đổi, cấm lệnh cùng với đời mà biến. + Pháp luật phải soạn sao cho dân hiểu, thống nhất, cố định, dễ thi hành: - “Thống nhất” nghĩa là pháp luật phải quy định cho cả nước theo, chứ nếu mỗi miền có luật lệ cấm lệnh riêng thì dân miền này qua miền khác, cứ tưởng luật lệ như miền mình mà vô tình phạm pháp. - “Thống nhất” còn có nghĩa là khi ban bố pháp lệnh mới thì phải bỏ pháp lệnh cũ, tránh được kẻ gian lợi dụng tình trạng mập mờ mà theo pháp lệnh có lợi cho mình. - “Cố định” nghĩa là không được thay đổi hoài. Đã thưởng thì không đổi ý, đã phạt thì không ân xá. - “Dễ thi hành” nghĩa là pháp luật phải minh bạch, mọi người đều hiểu như nhau; nếu quá tỉnh lược, mỗi người hiểu một cách thì sinh ra nhiều tranh tụng, kẻ gian lợi dụng làm bậy. + Pháp luật phải công bằng, binh vực kẻ yếu, số ít, như vậy mới có trật tự trong nước được: - Pháp luật phải nghiêm minh, công bằng. Không để kẻ mạnh lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đáp số ít, người già hưởng tuổi trời, con nít côi cút được nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm… - Thời Xuân Thu, hình phạt là dành cho dân đen, còn lễ dành cho quý tộc. Chủ trương của Nho Gia là áp dụng lễ cho tất cả các hạng người. Còn chủ trương của Pháp Gia là muốn dùng pháp luật để trừ các đặc quyền đó của quý tộc, kéo họ xuống ngang hàng với bình dân. Đây có thể xem là tiến bộ của Hàn Phi và Thương Ưởng. - Nhưng hạn chế của Pháp Gia là chỉ muốn công bằng mà không muốn có tình thương; pháp luật cứng nhắc, nghiêm minh, không ban ân huệ, không bố thí, xem dân là ác, là tàn bạo dã man, phải dùng pháp nghiêm minh cai trị. Câu hỏi đặt ra là liệu thiếu tình thương thì xã hội có công bằng được hay không? + Pháp luật có tính chất phổ biến, trái với lễ có tính chất bí mật. Pháp luật có tính phổ biến để không một người dân nào có thể viện cớ rằng mình không biết pháp luật nên lỡ phạm pháp. Cách thức làm cho pháp luật phổ biến, đến những kẻ ti tiện nhất trong nước cũng phải biết: - Khắc pháp luật lên các thẻ tre treo ở nơi công cộng. - Sai các quan lại dạy pháp luật cho dân.  Hai cách trên đây là điểm cực tiến bộ của Pháp Gia. Nếu áp dụng lâu, khoảng một thế kỉ chẳng hạn, thì có thể Pháp Gia sẽ có một vị trí quan trọng trong lịch sử triết học cũng như diễn biến của lịch sử Trung Hoa sẽ khác đi nhiều. Tiếc là nhà Tần bị diệt sớm, phải đợi 12 thế kỉ sau, một nhà cách mạng là Vương An Thạch mới có ý dạy luật cho kẻ sĩ để sau bổ dụng họ; nhưng ông chưa kịp cải tổ nền giáo dục thì phe của ông đã bị đảng thủ cựu lật đổ. Lối học từ chương lại sống thêm tám thế kỷ nữa. b. Thế: Thế được hiểu là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể. Địa vị, thế lực, quyền uy đó của người trị vì phải là độc tôn (Tôn quân quyền). Theo Hàn Phi Tử, thế quan trọng đến mức có thể thay thế vai trò của bậc hiền nhân. Muốn thi hành được pháp thì phải có thế. Pháp và thế không tách rời nhau. - Nho Gia trọng hiền trí hơn địa vị, và cái uy thế của vua do giá trị của vua hơn là do địa vị. Con rồng mà bay được, đành rằng dựa vào cái thế của mây, nhưng trước hết là nhờ cái tài của nó, chứ nếu là con giun vô tài thù dù có mây cũng không cưỡi được. - Hàn Phi cho rằng thịnh suy do sức người, không liên quan gì với sức trời. Hàn bênh vực thuyết của Thận Đáo, cho rằng cái “thế” không liên quan gì với giá trị về đạo đức và tài trí của con người; và trong việc trị dân, cứ đợi có ông vua hiền thì ngàn đời mới gặp một ông, không lẽ trong chín trăm chín mươi chín đời kia để cho dân loạn hay sao? - Nếu cứ giữ chặt pháp luật, dùng quyền thế thì nước trị, quay lưng lại, bỏ quyền thế thì nước loạn. - Vì trọng sự cưỡng chế, nên Pháp Gia chủ trương: + Chủ quyền (lập pháp, hành pháp,
Luận văn liên quan