Đề tài Phương pháp sử dụng atlat địa lí Việt Nam trong dạy học môn địa lí lớp 9

- Theo công văn số 8065/BGD&ĐT-GDTrH ngày 14-9-2009 của BGD& ĐT “v/v sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam”: “Năm học 2008-2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hoàn thành việc triển khai chương trình và sách giáo khoa phổ thông mới. Để phù hợp với chương trình và sách giáo khoa mới, năm 2009 Công ty Cổ phần Bản đồ và Tranh ảnh giáo dục tái bản cuốn Atlát Địa lí Việt Nam trên cơ sở chỉnh lí và bổ sung cuốn Atlat Địa lí Việt Nam đã sử dụng từ năm 1994 đến năm học 2008-2009 các nội dung như sau: 1. Thay đổi hệ thống số liệu mới trên toàn cuốn Atlát để cập nhật; 2. Điều chỉnh nội dung một số trang bản đồ trong Atlát; 3. Tách trang bản đồ Đất, thực vật và động vật thành 02 trang: Các nhóm và các loại đất chính; Động vật và thực vật; 4. Bổ sung thêm 03 trang bản đồ: Các hệ thống sông; Kinh tế chung; Các vùng kinh tế trọng điểm. Yêu cầu các địa phương hướng dẫn giáo viên và học sinh sử dụng cuốn Atlat Địa lí Việt Nam tái bản có chỉnh lí và bổ sung do Công ty Cổ phần Bản đồ và Tranh ảnh giáo dục xuất bản năm 2009 trong học tập, kiểm tra và đánh giá bộ môn Địa lí”. - Các bộ môn khoa học đang giảng dạy trong nhà trường hiện nay đều góp phần giúp học sinh phát triển tư duy, nâng cao nhận thức về tự nhiên và xã hội. Trong đó môn Địa lí giữ một vị trí hết sức quan trọng, nó mở mang cho học sinh hiểu biết về thiên nhiên trên Trái Đất, hoạt động văn hoá, xã hội, kinh tế của con người; hướng dẫn các em đi sâu nghiên cứu khoa học, tìm hiểu cấu trúc của Trái Đất, nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, xã hội để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời giúp học sinh biết cách khám phá những điều mới lạ bên ngoài vũ trụ, rất thích hợp với tâm lí học trò thích vươn xa hơn, lên cao hơn, phát hiện những điều kì lạ hơn Riêng ở bậc trung học sơ sở (THCS), mỗi môn học đều yêu cầu những phương pháp giảng dạy thích hợp. Phương pháp đặc trưng của môn Địa lí là sử dụng kênh hình và kênh chữ trong việc dạy và học. Việc giảng dạy kênh chữ đã quen thuộc trong nhà trường, nhưng kênh hình mới được chú trọng từ những năm đổi mới phương pháp dạy học, nên việc vận dụng nó còn nhiều khó khăn bỡ ngỡ, nhất là đối với học sinh lớp 9. Việc sử dụng Atlat địa lí Việt Nam để đọc và phân tích các dữ liệu, rồi đi đến nhận biết kiến thức qua các trang bản đồ trong Atlat là rất cần thiết, đó là một trong những phương tiện để dạy kênh hình hiệu quả, giúp cho học sinh nhận thức đầy đủ kiến thức, tiếp thu nhanh, dễ hiểu, từng bước gây hứng thú và ham mê học tập môn Địa lí; đồng thời tránh được phương pháp diễn giải dài dòng, dễ gây nhàm chán cho các em. Hơn thế nữa trong Atlat thể hiện khá đầy đủ, chi tiết những kiến thức địa lí cơ bản, thông tin tổng hợp và hệ thống, cần thiêt đối với học sinh THCS. Màu sắc trong Atlat đẹp, dễ bắt mắt, giúp giáo viên thuận tiện trong đổi mới phương pháp dạy, hỗ trợ học sinh tự học tập và nghiên cứu. Để tạo nên tập Atlat địa lí Việt Nam không phải giản đơn một sớm một chiều, đó là công sức của bao nhiêu nhà địa lí Việt Nam, làm việc rất khoa học mới có được một tài liệu địa lí rất quan trọng này để dùng trong nhà trường. Do đó chúng ta cần nghiên cứu kĩ phương pháp sử dụng Atlat trong dạy học môn Địa lí chắc chắn sẽ thu được kết quả cao. Trái lại, nếu không sử dụng Atlat sẽ lãng phí một nguồn tư liệu đa dạng, phong phú, một kho tàng kiến thức địa lí, hạn chế phương pháp tư duy lozic, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc giảng dạy và học tập môn Địa lí.

doc28 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Lượt xem: 11168 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Phương pháp sử dụng atlat địa lí Việt Nam trong dạy học môn địa lí lớp 9, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 9 “Giải tỉnh năm học 2010-2011” PHẦN I- ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Cơ sở lý luận - Theo công văn số 8065/BGD&ĐT-GDTrH ngày 14-9-2009 của BGD& ĐT “v/v sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam”: “Năm học 2008-2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hoàn thành việc triển khai chương trình và sách giáo khoa phổ thông mới. Để phù hợp với chương trình và sách giáo khoa mới, năm 2009 Công ty Cổ phần Bản đồ và Tranh ảnh giáo dục tái bản cuốn Atlát Địa lí Việt Nam trên cơ sở chỉnh lí và bổ sung cuốn Atlat Địa lí Việt Nam đã sử dụng từ năm 1994 đến năm học 2008-2009 các nội dung như sau: 1. Thay đổi hệ thống số liệu mới trên toàn cuốn Atlát để cập nhật; 2. Điều chỉnh nội dung một số trang bản đồ trong Atlát; 3. Tách trang bản đồ Đất, thực vật và động vật thành 02 trang: Các nhóm và các loại đất chính; Động vật và thực vật; 4. Bổ sung thêm 03 trang bản đồ: Các hệ thống sông; Kinh tế chung; Các vùng kinh tế trọng điểm. Yêu cầu các địa phương hướng dẫn giáo viên và học sinh sử dụng cuốn Atlat Địa lí Việt Nam tái bản có chỉnh lí và bổ sung do Công ty Cổ phần Bản đồ và Tranh ảnh giáo dục xuất bản năm 2009 trong học tập, kiểm tra và đánh giá bộ môn Địa lí”. - Các bộ môn khoa học đang giảng dạy trong nhà trường hiện nay đều góp phần giúp học sinh phát triển tư duy, nâng cao nhận thức về tự nhiên và xã hội. Trong đó môn Địa lí giữ một vị trí hết sức quan trọng, nó mở mang cho học sinh hiểu biết về thiên nhiên trên Trái Đất, hoạt động văn hoá, xã hội, kinh tế của con người; hướng dẫn các em đi sâu nghiên cứu khoa học, tìm hiểu cấu trúc của Trái Đất, nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, xã hội để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời giúp học sinh biết cách khám phá những điều mới lạ bên ngoài vũ trụ, rất thích hợp với tâm lí học trò thích vươn xa hơn, lên cao hơn, phát hiện những điều kì lạ hơn … Riêng ở bậc trung học sơ sở (THCS), mỗi môn học đều yêu cầu những phương pháp giảng dạy thích hợp. Phương pháp đặc trưng của môn Địa lí là sử dụng kênh hình và kênh chữ trong việc dạy và học. Việc giảng dạy kênh chữ đã quen thuộc trong nhà trường, nhưng kênh hình mới được chú trọng từ những năm đổi mới phương pháp dạy học, nên việc vận dụng nó còn nhiều khó khăn bỡ ngỡ, nhất là đối với học sinh lớp 9. Việc sử dụng Atlat địa lí Việt Nam để đọc và phân tích các dữ liệu, rồi đi đến nhận biết kiến thức qua các trang bản đồ trong Atlat là rất cần thiết, đó là một trong những phương tiện để dạy kênh hình hiệu quả, giúp cho học sinh nhận thức đầy đủ kiến thức, tiếp thu nhanh, dễ hiểu, từng bước gây hứng thú và ham mê học tập môn Địa lí; đồng thời tránh được phương pháp diễn giải dài dòng, dễ gây nhàm chán cho các em. Hơn thế nữa trong Atlat thể hiện khá đầy đủ, chi tiết những kiến thức địa lí cơ bản, thông tin tổng hợp và hệ thống, cần thiêt đối với học sinh THCS. Màu sắc trong Atlat đẹp, dễ bắt mắt, giúp giáo viên thuận tiện trong đổi mới phương pháp dạy, hỗ trợ học sinh tự học tập và nghiên cứu. Để tạo nên tập Atlat địa lí Việt Nam không phải giản đơn một sớm một chiều, đó là công sức của bao nhiêu nhà địa lí Việt Nam, làm việc rất khoa học mới có được một tài liệu địa lí rất quan trọng này để dùng trong nhà trường. Do đó chúng ta cần nghiên cứu kĩ phương pháp sử dụng Atlat trong dạy học môn Địa lí chắc chắn sẽ thu được kết quả cao. Trái lại, nếu không sử dụng Atlat sẽ lãng phí một nguồn tư liệu đa dạng, phong phú, một kho tàng kiến thức địa lí, hạn chế phương pháp tư duy lozic, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc giảng dạy và học tập môn Địa lí. Cơ sở thực tiễn Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay, các giáo viên đã rất chú trọng đến việc sử dụng kênh hình để hướng dẫn học sinh học tập môn Địa lí, những thiết bị đang được sử dụng rộng rãi là: bản đồ treo tường, mô hình, lược đồ, các tranh ảnh, bảng biểu, số liệu thống kê trong sách giáo khoa. Những năm gần đây do tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại đã cung cấp cho ngành Giáo dục nhiều phương tiện tiên tiến khoa học như: máy vi tính, máy chiếu đa năng, băng - đĩa hình, hình ảnh trên mạng intente…giúp cho việc giảng dạy nâng cao hiệu quả, do đó việc sử dụng Atlat để dạy kênh hình đã bị nhiều giáo viên xem nhẹ. Nhưng nếu ta chỉ chú trọng sử dụng các phương tiện hiện đại như máy chiếu, vi tính, mải trình chiếu, học sinh không thể đủ điều kiện tiếp cận được những phương tiện này khi ra khỏi lớp, khả năng tư duy độc lập sẽ bị hạn chế. Song khi biết sử dụng Atlat trong dạy học môn Địa lí lại rất hấp dẫn học sinh và đem lại hiệu quả cao, giúp cho các em chủ động tiếp thu những kiến thức theo nội dung bài học, ít phải ghi nhớ máy móc, sử dụng tiện lợi, vì trong đó có đủ những thông tin cần thiết cho học sinh. Khi sử dụng quen Atlat thì lúc tiếp xúc với bản đồ to các em rất thông thạo, không phải bỡ ngỡ mày mò đọc bản đồ. Hơn nữa trên thực tế đại bộ phận học sinh xuất thân từ những gia đình kinh tế chưa thể đáp ứng để mua sắm những phương tiện hiện đại cho con học tập môn Địa lí. Nhưng nếu con em muốn mua một cuốn Atlat và biết sử dụng để học tập vẫn đạt hiệu quả thì hầu hết các gia đình sẵn sàng đầu tư. Điều quan trọng là người thầy phải hướng dẫn học trò biết cách sẳ dụng Atlat mới tạo được kết quả mong muốn. Khi học sinh biết cách khai thác Atlat địa lí Việt Nam sẽ rất tiện lợi và hiệu quả; dù đi đâu, ở vị trí nào các em cũng có thể đem theo và sử dụng được Atlat để tra cứu các tư liệu dễ dàng, không phải dùng đến các bản đồ cồng kềnh, hay những dụng cụ tài liệu phức tạp, các em vẫn có thể tiếp thu được nhiều kiến thức mới của môn Địa lí. Hiện tại còn một số giáo viên chưa nắm được vai trò của Atlat trong việc giảng dạy môn Địa lí, chưa chú trọng sử dụng nó trong việc giảng dạy, không hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat. Hoặc có người chỉ thông báo cho học sinh xem thêm trong Atlat, không hướng dẫn cụ thể xem cái gì và xem như thế nào? dẫn đến hiệu quả chưa cao. Có học sinh khi đi thi tốt nghiệp THCS vẫn còn rất loay hoay không biết sử dụng Atlat như thế nào để tìm ra các số liệu dùng cho bài làm, trong khi các tư liệu đó đã có sẵn trong Atlat, được phép sử dụng trong phòng thi. Đối với học sinh lớp 9 các em đã làm quen bộ môn Địa lí từ lớp 6, vì vậy việc hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat một cách thành thạo là việc làm rất quan trọng và cần thiết, tạo được thói quen làm việc độc lập, sáng tạo, khoa học cho các em. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu và thực nghiệm trong quá trình giảng dạy, đến nay đã thu được những kết quả khả quan, đồng thời rút ra được một số kinh nghiệm, xin trao đổi với các bạn đồng nghiệp để cùng nhau tìm ra phương pháp dạy học môn Địa lí đạt kết quả cao hơn. II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài này đi sâu nghiên cứu phương pháp sử dụng Atlat địa lí Việt Nam trong dạy học môn Địa lí lớp 9. Trong chương trình Địa lí lớp 9 có nhiều nội dung, nhưng trong đề tài này chỉ đề cập một số nội dung chính sau: 1 - Đọc và tìm hiểu các nội dung trên bản đồ, biểu đồ của Atlat . 2- Khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat địa lí Việt Nam để tìm hiểu kiến thức địa lí về dân cư. 3- Phân tích bản đồ trong Atlat địa lí Việt Nam để rút ra nhận định về tình hình phát triển của các ngành kinh tế nước ta. 4- Phân tích bản đồ, biểu đồ trong Atlat địa lí Việt Nam để rút ra nhận định về tình hình phát triển kinh tế của các vùng kinh tế nước ta. 5 - Phân tích hình ảnh trong Atlat địa lí Việt Nam để khắc sâu kiến thức của bài học. PHẦN II - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 9 I – TẦM QUAN TRỌNG CỦA ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM TRONG VIỆC DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 9. 1. Bố cục của Atlat địa lí Việt Nam do nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2009 có thể khái quát như sau: a/ Bản đồ chung bao gồm các bản đồ: hành chính, hình thể, địa chất khoáng sản, khí hậu, các hệ thống sông, các nhóm và các loại đất chính, thực vật và động vật, các miền tự nhiên, dân số, dân tộc. b/ Bản đồ dùng cho các ngành kinh tế: kinh tế chung, nông nghiệp chung, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, công nghiệp chung, các ngành công nghiệp trọng điểm, giao thông, thương mại, du lịch. c/ Bản đồ dùng cho các vùng kinh tế: - Trung du và miền núi Bắc Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng - Vùng Bắc Trung Bộ. - Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên - Vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long. - Các vùng kinh tế trọng điểm. * Trong mỗi vùng đều có bản đồ tự nhiên, bản đồ kinh tế và biểu đồ GDP so với cả nước. * Trong một trang bản đồ của Atlat thể hiện nhiều yếu tố: - Yếu tố tự nhiên: địa hình, đất đai, khoáng sản, sông ngòi, khí hậu, sinh vật… - Yếu tố kinh tế, xã hội: dân cư, hành chính, các ngành kinh tế, các vùng kinh tế. * Trong một trang bản đồ của Atlat còn thể hiện: - Hình thể của cả nước, một vùng hay hai vùng liền kề nhau. - Một số biểu đồ như dân số qua các năm, cơ cấu, mật độ dân số, hay biểu đồ biểu hiện giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp… - Một số hình ảnh quan trọng của những địa phương, sản xuất kinh tế, hoạt động văn hoá… 2. Tầm quan trọng của Atlat địa lí Việt Nam Do bố cục của Atlat rất phong phú, khoa học nên có thể giúp cho việc dạy học môn Địa lí 9 đạt hiệu quả: - Trong phương pháp sử dụng kênh hình để dạy và học môn Địa lí thì phương pháp sử dụng Atlat rất phức tạp, vì Atlat là phương tiện để phục vụ cho nội dung bài giảng, mỗi trang bản đồ trong Atlat chứa đựng những kiến thức cụ thể và rất phong phú, mang đặc trưng của bộ môn. Đây là một hệ thống hoàn chỉnh các bản đồ, biểu đồ có nội dung liên quan mật thiết với nhau và bổ sung cho nhau, được sắp xếp theo trình tự chương trình và nội dung sách giáo khoa với ba phần chính là: Địa lí tự nhiên, Địa lí kinh tế - xã hội, Địa lí các vùng. - Atlat địa lí Việt Nam được dùng để giảng dạy và học tập môn Địa lí cho các bài ở nhiều khối lớp khác nhau như lớp 8; lớp 9 và cả các lớp của THPT. Nhưng trong từng bài cụ thể mức độ khai thác, sử dụng Atlat không giống nhau, đối với học sinh lớp 9, đòi hỏi kỹ năng sử dụng Atlat phải thành thạo và được rèn luyện một cách thường xuyên qua từng tiết học. Có như vậy khi lên cấp trên mới nhanh chóng sử dụng nó trong học tập, nghiên cứu kiến thức mới của bộ môn, giành thêm nhiều thời gian cho việc nghiên cứu các môn khác nữa. - Trong chương trình Địa lí lớp 9 có bài chỉ cần sử dụng một trang bản đồ trong Atlat, nhưng cũng có bài phải sử dụng nhiều trang bản đồ khác nhau, song lại có trang Atlat dùng để dạy và học được nhiều bài (sẽ trình bày cụ thể trong phần sau) vì vậy khi giảng dạy môn Địa lí lớp 9 ta nên tích cực hướng dẫn cho học sinh phương pháp sử dụng Atlat để khai thác kiến thức qua từng trang bản đồ của Atlat là rất cần thiết để các em có thể vận dụng sau này khi học lên cấp trên hay tiếp xúc với bản đồ, biểu đồ ngoài thực tế dễ dàng. II - PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 9. Muốn sử dụng Atlat để dạy học môn Địa lí lớp 9 đạt hiệu quả cao, giáo viên cần chuẩn bị kĩ bài, phân tích từng chi tiết của trang Atlat có liên quan đến kiến thức mới, đặt các tình huống có thể học sinh thắc mắc, tìm biện pháp giải quyết, phương pháp tiến hành như sau: 1 – Đọc và tìm hiểu các nội dung trên bản đồ, biểu đồ của Atlat địa lí Việt Nam . 1.1- Mỗi trang bản đồ trong Atlat là hình ảnh thu nhỏ của trang bản đồ giáo khoa. Muốn tìm hiểu được nội dung của mỗi bản đồ, biểu đồ trong Atlat thì việc hiểu các ngôn ngữ của nó là việc hết sức quan trọng. Ngôn ngữ được dùng trong Atlat là những quy định thống nhất, chính xác về màu sắc, ký hiệu, tỷ lệ của bản đồ... nên khi đọc bất cứ trang nào của Atlat, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu và nắm vững các quy ước ở mục chú giải của trang đó. Để có thể đọc nhanh, đúng bản đồ và từ đó phân tích chính xác hơn, giáo viên yêu cầu các em kĩ các kí hiệu ở trang đầu của Atlat, càng thuộc nhiều ký hiệu càng dễ học tập, không phải lục tìm lại những kí hiệu đã học nữa. Một số loại kí hiệu chính cần nắm vững là: *. Ký hiệu về công nghiệp ô : Nhà máy nhiệt điện, thuỷ điện. : Khai thác than đá *. Ký hiệu về các yếu tố tự nhiên: Thí dụ: Sông Kênh đào * Ký hiệu khoáng sản: Thí dụ: Sắt : ;; Than: ¾; Đồng: * Ký hiệu khác: Thí dụ: : Cảng biển ñ : Sân bay * Các chữ viết tắt: Thí dụ: BĐ: Bán đảo; Đ: Dãy; QĐ: Quần đảo; K:Kênh… Một số kí hiệu về nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản… * Tóm lại: Hệ thống ký hiệu bản đồ trong Atlat địa lí Việt Nam bao gồm cả màu sắc, chữ viết, hình tượng… nó rất phong phú và đa dạng, không những thể hiện về vị trí, số lượng mà còn thể hiện cả tính chất của sự vật, hiện tượng địa lý. 1.2- Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh khi đọc bất cứ một bản đồ nào phải đọc : - Tên bản đồ để hình dung ra nội dung của bản đồ. - Đọc phần chú giải để hiểu rõ các kí hiệu được dùng cho bản đồ đó. - Sau đó sẽ tìm hiểu các kiến thức liên quan đến bài học được thể hiện trên bản đồ, biểu đồ trong Atlat. Từ đó rút ra những nhận xét về các yếu tố của tự nhiên hay xã hội theo từng nội dung của bài học (sẽ trình bày cụ thể trong các mục sau) 1.3- Đọc các biểu đồ trong Atlat giáo viên hướng dẫn học sinh đọc: - Tên biểu đồ để hình dung ra nội dung của nó; - Đọc các kí hiệu phần chú giải để biết mục đích thể hiện của biểu đồ. - Phân tích các số liệu ghi trên biểu đồ, so sánh các số liệu để nhận xét kết luận theo nội dung bài học (sẽ trình bày cụ thể trong các mục sau) 2- Khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat địa lí Việt Nam để tìm hiểu kiến thức địa lí về dân cư. 2.1- Thí dụ 1- Bài 1: “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam” a- Khi dạy bài 1, bên cạnh các kiến thức ghi ở kênh chữ trong sách giáo khoa (SGK) giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách phân tích bản đồ trang 16 Atlat để có các tư liệu hữu ích, giúp cho bài học thêm sinh động, yêu cầu các em tiến hành như sau: + Đọc tên bản đồ “Dân tộc” để biết bản đồ này thể hiện các dân tộc của nước ta. + Màu sắc chỉ các ngữ hệ và nhóm ngôn ngữ . + Địa giới hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. + Bảng thống kê các dân tộc Việt Nam. Sau khi quan sát, phân tích bản đồ, cho học sinh rút ra kết luân: + Các dân tộc Việt Nam: Nước ta có nhiều (54) dân tộc cùng chung sống gắn bó mật thiết với nhau. + Phân bố các dân tộc: các dân tộc ở nước ta phân bố không đều, dân tộc Việt đông nhất, phân bố rất rộng, trên khắp các vùng trong cả nước, sống chủ yếu ở vùng đồng bằng. Các nhóm dân tộc ít người chỉ có trên 13,8% dân số, sống chủ yếu ở miền núi và trung du. 2.2- Thí dụ 2- Sử dụng bản đồ, biểu đồ trang 15 của Atlat (dạy và học từ bài 2 đến bài 5 SGK) về đặc điểm dân cư và nguồn nhân lực nước ta. Yêu cầu học sinh đọc và phân tích: + Đọc tên bản đồ “Dân số” để biết bản đồ này thể hiện dân số nước ta. + Màu sắc chỉ mật độ dân số từng nơi . + Địa giới hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. + Các đô thị để xem xét sự phân bố dân cư giữa các vùng. Mỗi bài phân tích những chi tiết cần thiết, tuỳ theo yêu cầu nội dung của bài. Cụ thể là: a- Bài 2: “Dân số và gia tăng dân số”: cho phân tích bản đồ “Dân số” và biểu đồ “Dân số Việt Nam qua các năm” trang 15. Yêu cầu học sinh cần phân tích kĩ màu sắc chỉ mật độ của các khu vực dân cư, các số liệu về số triệu người của từng năm, nhận xét sự gia tăng dân số, tỉ số giới tính, cơ cấu dân số theo độ tuổi, ảnh hưởng của sự gia tăng đó? So sánh mật độ dân số giữa các vùng đồng bằng và trung du miền núi, vùng ven biển. Từ đó rút ra quy luật phân bố dân cư nước ta và kết luận: + Dân số nước ta đông, gia tăng nhanh từ giữa thế kỷ XX đến nay (năm 1960 có khoảng 30,2 triệu người. Năm 1989 có 64,41 triệu người. Năm 1999 có 76,3 triệu người. Năm 2003 có khoảng 80,9 triệu người. Năm 2007 có 85,17 triệu người) gây khó khăn về chất lượng cuộc sống và các vấn đề xã hội. + Dân số Việt Nam đang chuyển dần sang giai đoạn tỉ suất sinh trưởng tương đối thấp. Gia tăng dân số khác nhau giữa các vùng. Cơ cấu dân số trẻ. + Tỉ số giới tính đang thay đổi do chiến tranh kéo dài nên nữ cao hơn nam, nay cuộc sống hoà bình sẽ kéo tỉ số giới tính tiến tới cân bằng. + Cơ cấu dân số theo độ tuổi đang thay đổi, tỉ lệ trẻ em giảm xuống, tỉ lệ người trong độ tuổi lao động và trên tuổi lao động đang tăng lên. b- Bài 3: “Phân bố dân cư và các loại hình dân cư” - Cho học sinh đọc tên bản đồ trang 15 là “Dân số”, quan sát màu sắc chỉ mật độ dân số từng vùng, quy mô dân số đô thị, phân tích mật độ dân số, chú ý so sánh dân số giữa miền núi với đồng bằng và đô thị, quy mô các đô thị, tìm hiểu nguyên nhân của sự chênh lệch dân số, rút ra kết luận: + Nước ta có mật độ dân số cao, phân bố không đều, tập trung đông ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt mật độ dân số ở các thành thị rất cao (do điều kiện sống có nhiều thuận lợi); thưa thớt ở miền núi nhất là vùng Tây Nguyên (do địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đời sống thấp). + Các đô thị nước ta phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, phân bố tập trung ở đồng bằng và ven biển. c- Bài 4: “Lao động và việc làm. Chất lượng cuộc sống” - Phân tích bản đồ trang 15 “Dân số” và biểu đồ “Cơ cấu lao động đang làm việc phân theo khu vực kinh tế ”. Giáo viên hướng dẫn học sinh cần chú ý phân tích màu sắc thể hiện dân số từng khu vực, so sánh giữa thành thị với nông thôn; các số liệu thể hiện tỉ lệ % dân số trong từng ngành; liên hệ các bài đã học tìm thuận lợi khó khăn về kinh tế, đời sống; sau đó nhận xét và rút ra kết luận: + Nước ta có nguồn lao động dồi dào, lực lượng lao động trong nông nghiệp, lâm nhiệp và thuỷ sản chiếm tỷ lệ cao. Thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhưng gây sức ép lớn về việc làm. Nếu không đủ việc làm, dư thừa lao động dễ nảy sinh các tệ nạn xã hội. + Lực lượng lao động ở nông thôn nhiều hơn ở thành thị do dân số tập trung chủ yếu ở nông thôn. + Lao động trong công nghiệp, xây dựng, dịch vụ còn thấp. Nguyên nhân chính là do dân số sống chủ yếu ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp chiếm đa số, lao động qua đào tạo nghề còn thấp. Cơ cấu sử dụng lao động đang thay đổi. + Chất lượng cuộc sống ngày càng nâng lên. d- Bài 5: “Thực hành phân tích và so sánh tháp dân số năm 1989 và năm 1999”. - Phối hợp biểu đồ “Tháp tuổi” trong SGK Địa lí lớp 9 và tháp tuổi trong biểu đồ “Tháp dân số” trang 15 Atlat. Cần phân tích kĩ hình dạng tháp tuổi từ chân lên đỉnh, hình dạng tháp tuổi nói lên điều gì? Màu sắc và các số liệu về tỉ lệ % của nam – nữ trong các năm 1989; 1999 và 2007 thể hiện trên biểu đồ. Cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính; tỉ lệ dân số theo nhóm tuổi, giải thích xu hướng phát triển dân số trong tương lai. Từ đó suy ra những thuận lợi, khó khăn, biện pháp giải quyết vấn đề dân số. Qua phân tích rút ra kết luận: + Nước ta có kết cấu dân số trẻ, độ tuổi thấp chiếm tỉ lệ cao, độ tuổi càng cao chiếm tỉ lệ càng thấp, do hậu quả chiến tranh kéo dài và chất lượng cuộc sống chưa cao. + Cơ cấu dân số theo độ tuổi ở nước ta rất thuận lợi về lực lượng lao động dồi dào, nhưng thực tế nền kinh tế đang phát triển, nảy sinh khó khăn về sắp xếp lao động không phù hợp, thiếu việc làm nên dư thừa lao động, thu nhập thấp, phát sinh nhiều tệ nạn xã hội. + Muốn giải quyết khó khăn trên phải thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, đổi mới công tác giáo dục, đào tạo nhiều lao động có tay nghề cao để tiến hành Công nghiệp hoá đất nước, tạo nhiều việc làm. Tăng cường xuất khẩu lao động để nâng cao thu nhập cá nhân và tăng thêm nguồn ngoại tệ cho đất nước. + Xu hướng thay đổi cơ cấu theo giới tính giữa nam và nữ của nước ta tương đối cân bằng. 3- Phân tích bản đồ trong Atlat địa lí Việt Nam để rút ra nhận định về tình hình phát triển của các ngành kinh tế nước ta. (trang 8; 9; 1; 18; 19; 20; 21; 22) 3.1- Thí dụ 1:- Sử dụng Atlat địa lí Việt Nam để tìm hiểu tình hình sản xuất nông nghiệp của nước ta. a- Dạy bài 7: “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp”. Phần I - Các nhân tố tự nhiên (sử dụng nhiều trang Atlat): - Phân tích bản đồ “Các nhóm và các loại đất chính” trang 11: giáo viên hướng dẫn học sinh nghiên cứu kĩ màu sắc các nhóm đất, vị trí từng nh
Luận văn liên quan