Đề tài Tổng quan về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (oda)

Theo cách hiểu chung nhất, ODA là tất cả các khoản hỗ trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng u đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp của các Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liệp hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổ chức tài chính quốc tế (IMF, ADB, WB.) giành cho các nớc nhận viện trợ. ODA đợc thực hiện thông qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợ không hoàn lại, vay u đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán (theo định nghĩa của OECD, nếu ODA là khoản vay u đãi thì yếu tố cho không phải đạt 25% trở lên). Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần GNP từ bên ngoài vào một quốc gia, do vậy ODA đợc coi là một nguồn lực từ bên ngoài. ODA có các hình thức sau: Hỗ trợ cán cân thanh toán: Thờng là tài trợ trực tiếp (chuyển giao tiền tệ. Nhng đôi khi lại là hiện vật (hỗ trợ hàng hoá) nh hỗ trợ nhập khẩu bằng hàng hoặc vận chuyển hàng hoá vào trong nớc qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán hoặc có thể chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách. Tín dụng thơng mại: Với các điều khoản "mềm" (lãi suất thấp, hạn trả dài) trên thực tế là một dạng hỗ trợ hàng hoá có ràng buộc.

pdf19 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 1878 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tổng quan về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (oda), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
63 TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. -----[\ [\----- Tiểu luận Đề tài: TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA). Chương I TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA). I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ODA. 1. Khái niệm. Theo cách hiểu chung nhất, ODA là tất cả các khoản hỗ trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng u đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp của các Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liệp hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổ chức tài chính quốc tế (IMF, ADB, WB...) giành cho các nớc nhận viện trợ. ODA đợc thực hiện thông qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợ không hoàn lại, vay u đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán (theo định nghĩa của OECD, nếu ODA là khoản vay u đãi thì yếu tố cho không phải đạt 25% trở lên). Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần GNP từ bên ngoài vào một quốc gia, do vậy ODA đợc coi là một nguồn lực từ bên ngoài. ODA có các hình thức sau: Hỗ trợ cán cân thanh toán: Thờng là tài trợ trực tiếp (chuyển giao tiền tệ. Nhng đôi khi lại là hiện vật (hỗ trợ hàng hoá) nh hỗ trợ nhập khẩu bằng hàng hoặc vận chuyển hàng hoá vào trong nớc qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán hoặc có thể chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách. Tín dụng thơng mại: Với các điều khoản "mềm" (lãi suất thấp, hạn trả dài) trên thực tế là một dạng hỗ trợ hàng hoá có ràng buộc. Viện trợ chơng trình (gọi tắt là viện trợ phi dự án): là viện trợ khi đạt đợc một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lợng ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, mà không xác định một cách chính xác nó sẽ đợc sử dụng nh thế nào. Hỗ trợ cơ bản chủ yếu là về xây dựng cơ sở hạ tầng. Thông thờng, các dự án này có kèm theo một bộ phận không viện trợ kỹ thuật dới dạng thuê chuyên gia nớc ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó hoặc để soạn thảo, xác nhận các báo cáo cho đối tác viện trợ. Hỗ trợ kỹ thuật: chủ yếu tập trung vào chuyển giao tri thức hoặc tăng cờng cơ sở lập kế hoạch, cố vấn nghiên cứu tình hình cơ bản, nghiên cứu khi đầu t. Chuyển giao tri thức có thể là chuyển giao công nghệ nh thờng lệ nhng quan trọng hơn là đào tạo về kỹ thuật, phân tích kinh tế, quản lý, thống kê, thơng mại, hành chính nhà nớc, các vấn đề xã hội. 2. Phân loại ODA: Tuỳ theo phơng thức phân loại mà ODAđợc xem có mấy loại: a. Phân theo phơng thức hoàn trả: ODA có 3 loại. - Viện trợ không hoàn lại: bên nớc ngoài cung cấp viện trợ (mà bên nhận không phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chơng trình, dự án theo sự thoả thuận trớc giữa các bên. Viện trợ không hoàn lại thờng đợc thực hiện dới các dạng: + Hỗ trợ kỹ thuật. + Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật. - Viện trợ có hoàn lại: nhà tài trợ cho nớc cần vốn vay một khoản tiền (tuỳ theo một quy mô và mục đích đầu t) với mức lãi suất u đãi và thời gian trả nợ thích hợp. Những điều kiện u đãi thờng là: + Lãi suất thấp (tuỳ thuộc vào mục tiêu vay và nớc vay). + Thời hạn vay nợ dài (từ 20 - 30 năm) + Có thời gian ân hạn (từ 10 - 12 năm) - ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng thơng mại theo các điều kiện của tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển. b. Nếu phân loại theo nguồn cung cấp, ODA có hai loại: - ODA song phơng: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nớc này đến nớc kia thông qua hiệp định đợc ký kết giữa hai Chính phủ. - ODA đa phơng: là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF, WB1...) hay tổ chức khu vực (ADB, EU,...) hoặc của một Chính phủ của một nớc dành cho Chính phủ của một nớc nào đó, nhng có thể đợc thực hiện thông qua các tổ chức đa phơng nh UNDP (Chơng trình phát triển Liên hiệp quốc), UNICEF (quĩ nhi đồng Liên Hiệp quốc)... có thể không. Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu: + Ngân hàng thế giới (WB). + Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF). + Ngân hàng phát triển Châu á (ADB) c. Phân loại theo mục tiêu sử dụng, ODA có 4 loại: Hỗ trợ cán cân thanh toán: gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân sách của Chính phủ, thờng đợc thực hiện thông qua các dạng: chuyển giao trực tiếp cho nớc nhận ODA hay hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hoá). Tín dụng thơng nghiệp: tơng tự nh viện trợ hàng hoá nhng có kèm theo điều kiện ràng buộc. Viện trợ chơng trình (viện trợ phi dự án): Nớc viện trợ và nớc nhận viện trợ kế hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định tính chính xác khoản viện trợ sẽ đợc sử dụng nh thế nào. Viện trợ dự án: chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA. Điều kiện đợc nhận viện trợ dự án là "phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục sẽ sử dụng ODA". 3. Các nguồn cung cấp ODA chủ yếu: * Trong thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầu Đông Tây: Trên thế giới tồn tại 3 nguồn ODA chủ yếu: - Liên xô cũ, Đông Âu. - Các nớc thuộc tổ chức OECD. - Các tổ chức quốc tế và phi Chính phủ. * Hiện nay, trên thế giới có hai nguồn ODA chủ yếu: các nhà tài trợ đa phơng, và các tổ chức viện trợ song phơng. * Các nhà tài trợ đa phơng gồm các tổ chức chính thức sau: - Các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hiệp Quốc bao gồm: + Chơng trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP). + Quĩ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF). + Tổ chức Nông nghiệp và lơng thực (FAO) + Chơng trình lơng thực thế giới (WFP) + Quĩ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) + Tổ chức y tế thế giới (WHO) + Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO) + Quĩ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFDA). - Các tổ chức tài chính quốc tế: + Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) + Ngân hàng thế giới (WB) + Ngân hàng phát triển Châu á (ADB) - Liên minh Châu Âu (EU). - Các tổ chức phi Chính phủ (NGO) - Tổ chức xuất khẩu dầu mỡ (OPEC) - Quĩ Cô - Oét. * Các nớc viện trợ song phơng: - Các nớc thành viên Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC) của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). - Các nớc đang phát triển. 4. Quy trình thực hiện dự án ODA. Mỗi quốc gia có những quy định riêng đối với các cách quản lý và điều hành nguồn vốn này. Dới đây là một số nội dung về quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến các vấn đề xung quanh các hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA. 1. Quy hoạch ODA. Bộ kế hoạch - Đầu t căn cứ vào chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch tổng thể và kế hoạch hàng năm chủ trì việc điều phối với các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan để nghiên cứu chủ trơng và phơng hớng vận động ODA, soạn thảo quy hoạch ODA và lập các danh mục chơng trình, dự án u tiên sử dụng ODa trình Chính phủ phê duyệt. 2. Vận động ODA. Sau khi quy hoạch ODA và các danh mục các chơng trình dự án u tiên sử dụng ODA đợc Chính phủ phê duyệt; Bộ Kế hoạch - Đầu t phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị và tổ chức các hoạt động vận động ODA thông qua: - Hội nghị nhóm t vấn hàng năm. - Các hội nghị điều phối viện trợ ngành. - Các cuộc trao đổi ý kiến về hợp tác phát triển với các nhà tài trợ. Trớc khi tiến hành vận động ODA, các cơ quan, địa phơng liên quan cần phải trao đổi ý kiến với Bộ Kế hoạch và Đầu t về chính sách, khả năng và thế mạnh của các nhà tài trợ liên quan. 3. Chuẩn bị nội dung các chơng trình, dự án ODA. Sau khi đạt đợc sự cam kết hỗ trợ của các nhà tài trợ đối với các chơng trình, dự án cụ thể, Bộ Kế hoạch - Đầu t sẽ phối hợp cùng các đối tác tiến hành chuẩn bị nội dung các chơng trình, dự án ODA bao gồm lập đề án, lập báo cáo tiền khả thi, báo cáo khả thi... 4. Thẩm định, phê duyệt chơng trình, dự án ODA. Việc thẩm định và phê duyệt các dự án sử dụng nguồn ODA nh sau: - Các dự án đầu t xây dựng cơ bản phải thực hiện theo quy định của Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản hiện hành (Nghị định 52/CP, 12/CP và các văn bản hớng dẫn thuộc lĩnh vực này). - Đối với các dự án hỗ trợ ngân sách, đào tạo, tăng cờng thể chế... Bộ Kế hoạch - Đầu t chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan tiến hành thẩm định, trình Thủ tớng Chính phủ quyết định. Trong quá trình thẩm định có đề cập tới ý kiến tham gia của các bên cung cấp ODA. - Các dự án của các tổ chức phi Chính phủ thực hiện theo Quyết định số 80/CT ngày 28/3/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (nay là thủ tớng Chính phủ). 5. Đàm phán ký kết. Sau khi nội dung đàm phán với bên nớc ngoài đợc Thủ tớng Chính phủ phê duyệt, Bộ Kế hoạch - Đầu t chủ trì với sự tham gia của Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Ngân hàng nhà nớc Việt Nam và các cơ quan liên quan tiến hành đàm phán với bên nớc ngoài. Trong trờng hợp Thủ tớng Chính phủ chỉ định một cơ quan khác chủ trì đàm phán với các bên nớc ngoài thì cơ quan này phải thống nhất ý kiến với Bộ Kế hoạch - Đầu t về nội dung đàm phán và với Bộ Tài chính về hạn mức và điều kiện vay trả (nếu là ODA hoàn lại). Kết thúc đàm phán, nếu đạt đợc các thoả thuận với bên nớc ngoài thì cơ quan chủ trì đàm phán phải báo cáo Thủ tớng Chính phủ về nội dung làm việc, kết quả đàm phán và những ý kiến đề xuất có liên quan. Nếu văn bản ODA ký với bên nớc ngoài là Nghị định th, Hiệp định hoặc văn kiện khác về ODA cấp Chính phủ thì cơ quan đợc Thủ tớng Chính phủ chỉ định đàm phán phải báo cáo Thủ tớng Chính phủ nội dung văn bản dự định ký kết và các đề xuất ngời thay mặt Chính phủ ký các văn bản đó. Văn bản trình Thủ tớng Chính phủ phải kèm theo ý kiến chính thức bằng văn bản của Bộ Kế hoạch và Đầu t (trờng hợp cơ quan khác trình Thủ tớng Chính phủ), Bộ ngoại giao, Bộ T pháp, Bộ Tài chính. Trong trờng hợp Nghị định th và Hiệp định hoặc các văn bản khác về ODA yêu cầu phải ký kết với danh nghĩa Nhà nớc Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Kế hoạch - Đầu t (hoặc cơ quan khác với Chính phủ chỉ định đàm phán) phải báo cáo với văn phòng Chủ tịch nớc ngay từ khi bắt đầu đàm phán với bên nớc ngoài về nội dung các văn kiện dự định ký kết, đồng thời thực hiện các thủ tục Quy định tại điều 6 khoản 3, điều 7 và điều 8 của Nghị định 182/HĐBT ngày 28/5/1992 của Chính phủ. 6. Quản lý thực hiện. Bộ Kế hoạch - Đầu t phối hợp cùng với Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam lập kế hoạch bố trí vốn đối ứng trong kế hoạch Ngân sách nhà nớc và thực hiện cấp phát theo đúng cam kết tại các Điều ớc Quốc tế về ODA đã ký và các quyết định phê duyệt chơng trình, dự án đầu t sử dụng vốn ODA. Đồng thời có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện, xử lý những vấn đề liên quan thuộc thẩm quyền trong quá trình thực hiện và kiến nghị Thủ tớng Chính phủ xem xét và quyết định các biện pháp xử lý, báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện các chơng trình, dự án sử dụng vốn ODA. Bộ Tài chính đợc xác định là đại diện chính thức cho "ngời vay" hoặc là Nhà nớc hoặc Chính phủ nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các điều ớc quốc tế cụ thể về ODA cho vay, có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng cơ chế quản lý tài chính (cấp phát, cho vay lại, thu hồi vốn...) đối với các chơng trình, dự án ODA. Trong quá trình thực hiện, Ngân hàng nhà nớc có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính chỉ định các Ngân hàng Thơng mại để uỷ quyền thực hiện việc cho vay lại từ vốn ODA nh đã nêu tại điểm điều khoản 3 điều 14 của Quy chế về quản lý và sử dụng ODA ban hành kèm theo Nghị định 87/CP ngày 5/8/1997 của Chính phủ, thu hồi vốn trả nợ ngân sách, đồng thời tổng hợp theo định kỳ thông báo cho Bộ Tài chính và cơ quan liên quan tình hình thực tế về rút vốn, thanh toán... thông qua hệ thống tài khoản đợc mở tại ngân hàng của các chơng trình, dự án sử dụng vốn ODA. Trong quá trình thực hiện chơng trình, dự án ODA... tùy theo quy định và thoả thuận với bên nớc ngoài, các chủ trơng, dự án chịu trách nhiệm tổ chức các cuộc kiểm định kỳ hoặc đột xuất. Đại diện của Bộ Kế hoạch - Đầu t, Bộ Tài chính, Bộ ngoại giao, Ngân hàng nhà nớc Việt Nam, văn phòng Chính phủ là đại diện của Chính phủ tại các cuộc kiểm điểm này. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND tỉnh thành phố trực thuộc Trung ơng và các chủ chơng trình, dự án lập báo cáo 6 tháng và hàng năm về tình hình thực hiện các chơng trình và dự án ODA gửi về Bộ Kế hoạch - Đầu t, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nớc Việt Nam, Bộ ngoại giao, và Văn phòng Chính phủ. 7. Đánh giá. Sau khi kết thúc, giám đốc chơng trình, dự án ODA phải làm báo cáo về tình hình thực hiện và có phân tích, đánh giá hiệu quả dự án với sự xác nhận của cơ quan chủ quản và gửi về Bộ Kế hoạch - Đầu t, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam, Bộ Ngoại giao, và Văn phòng Chính phủ. II. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ODA. 1. Đặc điểm của ODA. Trong giai đoạn hiện nay đã xuất hiện một số đặc điểm quan trọng sau: Thứ nhất, tỉ trọng ODA song phơng có xu thế tăng lên, ODA đa phơng có xu thế giảm đi. Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới và xu thế hội nhập đã tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế, chính trị... giữa các quốc gia ngày càng đợc đẩy mạnh và tăng cờng. Hoạt động của một số tổ chức đa phơng tỏ ra kém hiệu quả làm cho một số nhà tài trợ ngần ngại đóng góp cho các tổ chức này. Điều đó là nguyên nhân chính tạo nên sự chuyển dịch, tỉ trọng ODA song phơng có xu thế tăng lên, ODA đa phơng có xu hớng giảm đi. Điều đó đã đợc chứng minh trên thực tế là trong các năm 1980 - 1994 trong tổng số ODA của thế giới, tỉ trọng ODA song phơng từ 67% tăng lên 69% trong khi đó tỉ trọng ODA đa phơng giảm từ 33% xuống 31%. (Nguồn: Bộ Kế hoạch - Đầu t). Thứ hai, sự cạnh tranh ngày càng tăng trong quá trình thu hút ODA. Trên thế giới, một số nớc mới giành đợc độc lập hoặc mới tách ra từ các nhà nớc liên bang tăng lên đáng kể và có nhu cầu lớn về ODA. Một số nớc công hoà thuộc Nam T cũ và một số nớc Châu Phi bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh sắc tộc đang cần đến sự hỗ trợ quốc tế. ở Châu á, Trung Quốc, các nớc Đông Dơng, Myanmar... cũng đang cần đến nguồn ODA lớn để xây dựng kinh tế, phát triển xã hội. Số nớc có nhu cầu tiếp nhận ODA là rất lớn vì vậy sự cạnh tranh giữa các nớc ngày càng trở nên gay gắt. Các vấn đề mà các nớc cung cấp ODA quan tâm đến tạo nên sự cạnh tranh giữa các nớc tiếp nhận là năng lực kinh tế của quốc gia tiếp nhận, các triển vọng phát triển, ngoài ra còn chịu nhiều tác động của các yếu tố khác nh: Nhãn quan chính trị, quan điểm cộng đồng rộng rãi, dựa trên sự quan tâm nhân đạo và hiểu biết về sự cần thiết đóng góp vào ổn định kinh tế - xã hội quốc tế. Cùng mối quan hệ truyền thống với các nớc thế giới thứ ba của các nớc phát triển, hay tầm quan trọng của các nớc đang phát triển với t cách là bạn hàng (thị trờng, nơi cung cấp nguyên liệu, lao động). Mặt khác, chính sách đối ngoại, an ninh và lợi ích chiến lợc, trách nhiệm toàn cầu hay cá biệt... cũng là nhân tố tạo nên xu hớng phân bổ ODA trên thế giới theo vùng. Ngoài ra còn có thêm lý do đó là sự chuẩn bị đáp ứng nhu cầu riêng biệt về thủ tục, quy chế, chiến lợc, viện trợ ... khác nhau của các nhà tài trợ trên thế giới cũng tạo nên sự chênh lệch trong quá trình thu hút và sử dụng ODA giữa các quốc gia hấp thụ nguồn vốn này. Chính sự cạnh tranh gay gắt đã tạo nên sự tăng giảm trong tiếp nhận viện trợ của các nớc đang phát triển. Kể từ năm 1970, ODA chủ yếu hớng vào Tiểu vùng Sahara và Trung Đông kể cả Ai Cập. Bên cạnh đó, Trung Mỹ là vùng nhận đợc tỷ trọng viện trợ tăng lên chút ít, tỷ trọng này đã thực sự bị cắt giảm mạnh đối với các vùng Nam Á (đặc biệt là Ấn Độ) và Địa Trung Hải trong vòng 10 năm, từ tài khoá 1983/1984 đến 1993/1994, tỷ trọng thu hút ODA thế giới của tiểu vùng Sahara đã tăng từ 29,6% lên 36,7%, của Nam và Trung á khác và Châu Đại Dơng từ 20,3% lên 22,9%; Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê từ 12% lên 14% (nguồn: Bộ Kế hoạch - Đầu t). Thứ ba, sự phân phối ODA theo khu vực nghèo của thế giới không đồng đều. Nguyên nhân tạo nên sự khác biệt nh vậy có thể có rất nhiều lý giải khác nhau, có thể là do những mong muốn của các quốc gia đi viện trợ nh mở rộng quan hệ hợp tác về chính trị hay kinh tế, mục đích xã hội, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào ý muốn chủ quan của nhà tài trợ. Lúc đầu họ chỉ quan tâm đến việc thiết lập các mối quan hệ với các nớc láng giềng của mình, nhng sau họ lại nhận thấy rằng cần thiết lập các quan hệ với các nớc khác trên thế giới để tìm kiếm thị trờng trao đổi buôn bán hay đầu t mà việc đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao bằng cách viện trợ ODA. Mặt khác chính những yếu tố trong nội bộ của quốc gia cũng tạo nên những khác biệt lớn trong quá trình nhận viện trợ nh các mối quan hệ với các nớc phát triển, hay những thành tích trong phát triển đất nớc hay cũng có thể là do nhu cầu hết sức cần thiết nh chiến tranh, thiên tai... Thứ t, triển vọng gia tăng nguồn vốn ODA ít lạc quan. Mặc dù Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã khuyến nghị dành 1% GNP của các nớc phát triển để cung cấp ODA cho các nớc nghèo. Nhng nớc có khối lợng ODA lớn nh Nhật Bản, Mỹ... thì tỷ lệ này mới chỉ đạt ở mức trên dới 0,3% trong nhiều năm qua. Tuy có một số nớc nh Thụy Điển, Na uy, Phần Lan, Đan Mạch... đã có tỷ lệ ODA chiếm hơn 1% GNP, song khối lợng ODA tuyệt đối của các nớc này không lớn. Thêm vào đó tình hình kinh tế phục hồi chậm chạp ở các nớc đang phát triển cũng là một trở ngại gia tăng ODA. Ngoài ra, hàng năm các nớc cung cấp ODA dựa vào kết quả hoạt động của nền kinh tế của mình để xem xét khối lợng ODA có thể cung cấp đợc. Nhng hiện nay các nớc phát triển đang có những dấu hiệu đáng lo ngại trong nền kinh tế của mình nh khủng hoảng kinh tế hay hàng loạt các vấn đề xã hội trong nớc, chịu sức ép của d luận đòi giảm viện trợ để tập trung giải quyết các vấn đề trong nớc. Tuy nhiên, ở các nớc phát triển, kinh tế tăng bình quân 6%/năm trong các năm 1991 - 1994 (4%/năm trong thập kỷ 80). Đời sống nhân dân đang đợc cải thiện rõ rệt. Do sự phục hồi kinh tế ở các nớc phát triển, nguồn vốn chuyển dịch vào các nớc đang phát triển có thể sẽ giảm sút trong các năm tới, ODA là một khoản vốn mà các nớc phát triển hỗ trợ cho các nớc đang phát triển nó đợc thực hiện từ rất lâu, qua các giai đoạn nhất định, có những xu thế vận động riêng, nhìn chung lại, xu hớng vận động hiện nay hàm chứa cả các yếu tố thuận lợi lẫn khó khăn cho một số nớc đang phát triển nh nớc ta đang tìm kiếm nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, tuy nhiên các yếu tố thuận lợi là cơ bản. Xét trên phạm vi quốc tế, ODA có thể huy động đợc lại tuỳ thuộc voà chính sách đối ngoại khôn khéo và khả năng hấp thụ vốn nớc ngoài của chính nền kinh tế nớc đó. Qua đó ta có thể thấy rõ đợc những đặc điểm riêng biệt của ODA so với các nguồn vốn khác. 2. Vai trò của ODA. ODA thể hiện mối quan hệ đối ngoại giữa hai bên cung cấp và bên tiếp nhận. Tuy vậy, đối với mỗi bên nó sẽ mang một ý nghĩa khác nhau. a. Đối với nớc xuất khẩu vốn. Viện trợ song phơng tạo điều kiện cho các công ty của bên cung cấp hoạt động thuận lợi hơn tại các nớc nhận viện trợ một cách gián tiếp. Cùng với sự gia tăng của vốn ODA, các dự án đầu t của những nớc viện trợ cũng tăng theo với những điều kiện thuận lợi, đồng thời kéo theo sự gia tăng về buôn bán giữa hai quốc gia. Ngoài ra, nớc viện trợ còn đạt đợc những mục đích về chính trị, ảnh hởng của họ về mặt kinh tế - văn hoá đối với nớc nhận cũng sẽ tăng lên. Nguồn ODA đa phơng mặc dù cũng có u điểm giúp các nớc tiếp nhận khôi phục và phát triển kinh tế, nhng nó cũng có mặt tiêu cực ở chỗ dễ tạo ra nạn tham nhũng trong các quan chức Chính phủ hoặc phân phối giàu nghèo trong các tầng lớp dân chúng nếu không có những chính sách kiểm soát và quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn này trong nớc. Điều nguy hiểm nhất có thể xảy ra của viện trợ ODA là các nớc cung cấp không nhằm cải tạo nền kinh tế - xã hội của nớc đang phát triển mà nhằm vào các mục đích quân sự. b. Đối với các nớc tiếp nhận: Tầm quan trọng của ODA đối với các nớc đang và kém phát triển là điều không thể phủ nhận. Điều này đợc thể hiện rõ qua những thành công mà các nớc tiếp nhận ODA đã đạt đợc. Đầu tiên, trong khi các nớc đang phát triển đa phần là trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng nên thông qua ODA song phơng có thêm vốn để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội. ODA mang lại nguồn lực cho đất nớc. Thứ nữa, theo các nhà kinh tế, việc sử dụng viện trợ ở các nớc đang phát triển nhằm loại bỏ sự thiếu vốn và n
Luận văn liên quan