Đề tài Vai trò của công tác tư tưởng đối với việc đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong giai đoạn hiện nay

Cứ mỗi lần nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta lại không khỏi bồi hồi xúc động thương nhớ Bác, càng thấm thía và biết ơn công lao trời biển của Bác - người anh hùng giải phóng dân tộc; danh nhân văn hóa thế giới; người chiến sĩ cộng sản quốc tế kiên cường; người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Nhà nước ta; người tượng trưng cho tinh hoa trí tuệ và khí phách của người Việt Nam. Không biết tự bao giờ câu thơ "Tháp Mười đẹp nhất bông sen - Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ" đã đi sâu vào tiềm thức mỗi con người Việt Nam, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác một sự yêu thương, kính trọng vô cùng. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ngày 16/5/1890 tại Kim Liên - Nam Đàn trong một gia đình nhà nho yêu nước, thanh bạch, từng chịu nhiều vất vả, gian truân; sống gần gũi giữa nhân dân lao động ở một vùng đất giàu truyền thống văn hóa và anh hùng; Vốn là một người thông minh lại được nuôi dưỡng trong một gia đình truyền thống Bác Hồ đã sớm tiếp thu và rèn đức cho mình tính cần cù, chịu khó, đức hy sinh và lòng nhân ái. Người căm ghét mọi sự áp bức, bóc lột, có ý thức tìm tòi, học hỏi cái mới và có chí lớn cứu dân, cứu nước. Vào cuối thế kỷ 19 đất nước ta bị rơi vào cảnh lầm than nô lệ dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Lúc này có rất nhiều phong trào yêu nước sôi nổi từ Bắc chí Nam với những ngọn cờ tiêu biểu như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu nhưng đều thất bại do chưa xác định được con đường cứu nước đúng đắn. Ngày 5/6/1911, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước. Sau một thời gian bôn ba ở nước ngoài phải trải qua cuộc sống khổ cực ở rất nhiều nước, Nguyễn Ái Quốc đã đón nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền bá vào Việt Nam. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một quá trình phấn đấu không mệt mỏi cho nền độc lập, tự do của đất nước; là một tấm gương đạo đức sáng ngời cho các hệ noi theo, là niềm vinh quang, tự hào của cả dân tộc Việt Nam. Ở Hồ Chí Minh, sáng ngời lên đó là một tấm lòng thương yêu con người, thương yêu nhân dân hết sức bao la, sâu sắc; Người đã từng khái quát về triết lý cuộc sống: "Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại khổ đau bị áp bức" - Hồ Chí Minh. Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1990, tr.174. Và theo Người: Muốn có xã hội chủ nghĩa thì phải có những con người xã hội chủ nghĩa. Đó là đức: Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, là lối sống và chính phong trào làm việc của Người. Trong giai đoạn hiện nay trước rất nhiều vấn đề của xã hội, việc nghiên cứu học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết và quan trọng. Như chúng ta đã biết hiện nay tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong xã hội, đặc biệt trong một số bộ phận cán bộ có chức có quyền đang nổi lên như một nguy cơ đáng lo ngại, nó làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Một số nơi, tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ đã thực sự trở thành vấn đề chính trị. Có nhiều nguyên nhân, nhưng không thể quy tất cả cho nguyên nhân khách quan: Mặt trái của cơ chế thị trường, âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch mà phải thấy hết những yếu kém chủ quan trong lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự buông lỏng giáo dục đạo đức, coi nhẹ việc tu dưỡng và rèn luyện đạo đức. Như vậy việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là một biện pháp quan trọng để mọi cán bộ đảng viên và các tổ chức Đảng sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái "có tính nghiêm trọng, về đạo đức, lối sống, giữ vững niềm tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng. Không chỉ đối với cán bộ, đảng viên mà đối với từng cá nhân, mỗi người cũng cần phải có ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nâng cao ý thức trách nhiệm với đất nước, giữ gìn phẩm giá con người. Đây là cơ sở để hoàn thiện bản thân mỗi người, mọi sự buông thả, thiếu ý thức tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng xa rời sự quản lý, giáo dục của tập thể, cộng đồng, đoàn thể và gia đình là con đường dẫn tới hư hỏng, tự đánh mất bản thân mình. Đánh giá đúng tình hình của đất nước trong thời kỳ đất nước tiến hành hội nhập, Bộ Chính trị khoá X đã ban hành chỉ thị 06-CT/TW về tổ chức cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong toàn Đảng, hệ thống chính trị. Và để cuộc vận động đạt được kết quả tốt, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ đòi hỏi chất lượng của công tác tư tưởng rất cao. Chính vì thế, em xin lựa chọn đề tài: "Vai trò của công tác tư tưởng đối với việc đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong giai đoạn hiện nay".

doc36 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 2192 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Vai trò của công tác tư tưởng đối với việc đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong giai đoạn hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A. Phần mở đầu 1. Lý do chọn đề tài. Cứ mỗi lần nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta lại không khỏi bồi hồi xúc động thương nhớ Bác, càng thấm thía và biết ơn công lao trời biển của Bác - người anh hùng giải phóng dân tộc; danh nhân văn hóa thế giới; người chiến sĩ cộng sản quốc tế kiên cường; người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Nhà nước ta; người tượng trưng cho tinh hoa trí tuệ và khí phách của người Việt Nam. Không biết tự bao giờ câu thơ "Tháp Mười đẹp nhất bông sen - Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ" đã đi sâu vào tiềm thức mỗi con người Việt Nam, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác một sự yêu thương, kính trọng vô cùng. Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ngày 16/5/1890 tại Kim Liên - Nam Đàn trong một gia đình nhà nho yêu nước, thanh bạch, từng chịu nhiều vất vả, gian truân; sống gần gũi giữa nhân dân lao động ở một vùng đất giàu truyền thống văn hóa và anh hùng; Vốn là một người thông minh lại được nuôi dưỡng trong một gia đình truyền thống Bác Hồ đã sớm tiếp thu và rèn đức cho mình tính cần cù, chịu khó, đức hy sinh và lòng nhân ái. Người căm ghét mọi sự áp bức, bóc lột, có ý thức tìm tòi, học hỏi cái mới và có chí lớn cứu dân, cứu nước. Vào cuối thế kỷ 19 đất nước ta bị rơi vào cảnh lầm than nô lệ dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Lúc này có rất nhiều phong trào yêu nước sôi nổi từ Bắc chí Nam với những ngọn cờ tiêu biểu như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu… nhưng đều thất bại do chưa xác định được con đường cứu nước đúng đắn. Ngày 5/6/1911, Nguyễn ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước. Sau một thời gian bôn ba ở nước ngoài phải trải qua cuộc sống khổ cực ở rất nhiều nước, Nguyễn ái Quốc đã đón nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền bá vào Việt Nam. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một quá trình phấn đấu không mệt mỏi cho nền độc lập, tự do của đất nước; là một tấm gương đạo đức sáng ngời cho các hệ noi theo, là niềm vinh quang, tự hào của cả dân tộc Việt Nam. ở Hồ Chí Minh, sáng ngời lên đó là một tấm lòng thương yêu con người, thương yêu nhân dân hết sức bao la, sâu sắc; Người đã từng khái quát về triết lý cuộc sống: "Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại khổ đau bị áp bức" - Hồ Chí Minh. Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1990, tr.174. Và theo Người: Muốn có xã hội chủ nghĩa thì phải có những con người xã hội chủ nghĩa. Đó là đức: Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, là lối sống và chính phong trào làm việc của Người. Trong giai đoạn hiện nay trước rất nhiều vấn đề của xã hội, việc nghiên cứu học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết và quan trọng. Như chúng ta đã biết hiện nay tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong xã hội, đặc biệt trong một số bộ phận cán bộ có chức có quyền đang nổi lên như một nguy cơ đáng lo ngại, nó làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Một số nơi, tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ đã thực sự trở thành vấn đề chính trị. Có nhiều nguyên nhân, nhưng không thể quy tất cả cho nguyên nhân khách quan: Mặt trái của cơ chế thị trường, âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch… mà phải thấy hết những yếu kém chủ quan trong lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự buông lỏng giáo dục đạo đức, coi nhẹ việc tu dưỡng và rèn luyện đạo đức. Như vậy việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là một biện pháp quan trọng để mọi cán bộ đảng viên và các tổ chức Đảng sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái "có tính nghiêm trọng, về đạo đức, lối sống, giữ vững niềm tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng. Không chỉ đối với cán bộ, đảng viên mà đối với từng cá nhân, mỗi người cũng cần phải có ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nâng cao ý thức trách nhiệm với đất nước, giữ gìn phẩm giá con người. Đây là cơ sở để hoàn thiện bản thân mỗi người, mọi sự buông thả, thiếu ý thức tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng xa rời sự quản lý, giáo dục của tập thể, cộng đồng, đoàn thể và gia đình là con đường dẫn tới hư hỏng, tự đánh mất bản thân mình. Đánh giá đúng tình hình của đất nước trong thời kỳ đất nước tiến hành hội nhập, Bộ Chính trị khoá X đã ban hành chỉ thị 06-CT/TW về tổ chức cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong toàn Đảng, hệ thống chính trị. Và để cuộc vận động đạt được kết quả tốt, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ đòi hỏi chất lượng của công tác tư tưởng rất cao. Chính vì thế, em xin lựa chọn đề tài: "Vai trò của công tác tư tưởng đối với việc đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong giai đoạn hiện nay". 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài. 2.1. Mục đích: -Hiểu rõ thêm về đạo đức, đạo đức Hồ Chí Minh và vai trò của nó trong xã hội và vì sao phải học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. -Đối với cuộc vận động, vai trò Công tác tư tưởng đã phát huy như thế nào và đã đạt kết quả ra sao? để từ đó đề ra các giải pháp để nâng cao chất lượng của cuộc vận động, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động. 2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu: -Làm rõ sự cần thiết của Công tác tư tưởng đối với cuộc vận động. -Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp để phát huy vai trò. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 3.1. Đối tượng. “Vai trò của Công tác tư tưởng đối với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” là trọng tâm đề tài nghiên cứu. 3.2. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trên phạm vi cả nước, đối với tất cả mọi đối tượng, mọi hệ thống chính trị. Phấn đấu toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cùng học tập, làm theo. Thời gian bắt đầu từ tháng 11-2006 (sau khi ban bí thư ra chỉ thị về cuộc vận động) đến năm 2010. Mỗi năm sẽ có một nội dung học tập cụ thể. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. -Cơ sở lý luận: Dựa trên quan điểm Chủ Nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. -Phương pháp nghiên cứu: Quy nạp, diễn dịch, tổng hợp, điều tra, nghiên cứu, phân tích tài liệu. 5. ý nghĩa đề tài. Đề tài là kết quả của sự vận dụng kiến thức của môn Nguyên lý Công tác tư tưởng vào cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đề tài là kết quả của quá trình tập dượt nghiên cứu khoa học. 6. Kết cấu đề tài. Bài tiểu luận gồm có 2 chương. Ngoài ra có phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Chương I: Công tác tư tưởng với việc đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong giai đoạn hiện nay 1. Đạo đức và đạo đức Hồ Chí Minh 1.1. Đạo đức Đạo đức, hiểu theo nghĩa chung nhất là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và toàn xã hội. Đạo đức là một phạm trù lịch sử, kết quả của quá trình phát triển của xã hội loài người. Đạo đức thuộc kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định của cơ sở hạ tầng. Sự thay đổi của hạ tầng kinh tế - xã hội làm thay đổi các chuẩn mực của đạo đức xã hội. Tuy nhiên, nhiều chuẩn mực, giá trị đạo đức như nhân đạo, dũng cảm, vị tha… có ý nghĩa toàn nhân loại và tồn tại phổ biến trong các xã hội khác nhau. Do tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội nên trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Trong xã hội có các giai cấp đối kháng, chuẩn mực đạo đức của giai cấp thống trị chiếm vị trí chi phối đạo đức xã hội. Và cũng do hành vi đạo đức bắt nguồn từ ý thức đạo đức nên đạo đức thường tỷ lệ thuận với trình độ học vấn, trình độ nhận thức của mỗi cá nhân. Nhưng không phải cứ có trình độ học vấn cao là có trình độ văn hóa, đạo đức cao và ngược lại, bởi sự khác biệt và có khoảng cách giữa ý thức và hành vi đạo đức, giữa nhận thứ và hành động của mỗi người. Trong đời sống xã hội, đạo đức chiếm một vai trò quan trọng, là nền tảng tinh thần của xã hội. Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, qua đó thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Trong xã hội, sự khủng hoảng của đạo đức, sự "lệch chuẩn, loạn chuẩn" đạo đức là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội… Trải qua 4000 năm dựng nước và giữ nước các chuẩn mực, các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta vẫn được tồn tại và phát triển. Đó là truyền thống yêu quê hương đất nước; gắn bó với thiên nhiên, với cộng đồng; đoàn kết, thủy chung, nhân ái, quý trọng nghĩa tình; cần cù; yêu lao động; dũng cảm, kiên cường, hiếu học, sáng tạo… trong sự nghiệp đổi mới đất nước, truyền thống đạo đức của dân tộc đã được phát triển và bổ sung thêm những giá trị mới. đó là những phẩm chất đạo đức mới, tiến bộ được xã hội thừa nhận như: sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết tâm vượt khó, quyết chí làm giàu, đoàn kết giúp nhau cùng phát triển, xây dựng đời sống văn hóa… Truyền thống đạo đức của dân tộc và những giá trị đạo đức mới tốt đẹp hình thành trong điều kiện mới là xu thế chủ đạo, quy định chiều hướng phát triển của đời sống xã hội ta trong giai đoạn hiện nay. 1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không nên lẫn lộn hai phạm trù: đạo đức và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Nói đến đạo đức Hồ Chí Minh, dù người nghiên cứu không quên bình diện lý luận khi phân tích tấm gương đạo đức của Người trong hoạt động thực tiễn, thì ý nghĩa và phạm vi, đối tượng nghiên cứu cũng khác với việc nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Cũng là nghiên cứu đạo đức Hồ Chí Minh nhưng một khi đã nâng bình diện nghiên cứu không còn dừng ở những phẩm chất và tấm gương của riêng Người mà là hệ thống tư tưởng đạo đức của Người thể hiện trong toàn bộ hoạt động thực tiễn cách mạng do Người lãnh đạo lại là vấn đề khác nhau. Đạo đức Hồ Chí Minh là sự hiện diện của một tấm gương tuyệt vời và các hành vi ứng xử trong hoạt động thực tiễn của Người. Còn tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nếu được nghiên cứu và khẳng định rõ ràng thì đó là một khoa học, khoa học đạo đức hay đạo đức học mang tên Hồ Chí Minh. Đó sẽ là một cống hiến có giá trị lý luận vô cùng quan trọng trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Như mọi người chúng ta đều biết, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh, như Đại hội IX của đảng chỉ rõ: "là một hệ thống quan điểm sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại". Nói một cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là học thuyết về cách mạng Việt Nam. Nhờ học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà cách mạng Việt Nam đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn: Nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng: tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, về chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ… Quan điểm về đạo đức của Bác Hồ rất cao sâu, đề cập chung cho tất cả và cho mỗi đối tượng cán bộ và nhân dân. Ai cũng có thể tìm thấy phần mình trong những lời dạy của Bác. Đó là "trung với nước, hiếu với dân"; Là "quan tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng"; "Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc". Là "nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm"; "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư". Là "không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền - đào núi và lấp biển - quyết chí ắt làm nên". Là "nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân", "cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư". Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã từng nói: Bác Hồ của chúng ta là con người mà "giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy quyền không thể khuất phục"; con người "cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư". Toàn bộ cuộc đời của Người toát lên chủ nghĩa nhân văn cao đẹp, chủ nghĩa nhân văn cộng sản. Về bản thân con người Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngoài về đạo đức cho toàn Đảng, toàn dân ta. Sở dĩ gọi là tấm gương vì mọi người đều thấy Người không phải chỉ nêu lên những tư tưởng đạo đức lớn, mà còn gương mẫu thực hiện những tư tưởng ấy. ở Hồ Chí Minh, tư tưởng đạo đức luôn gắn với hành vi đạo đức, động cơ luôn gắn với hiệu quả, nói luôn đi đôi với làm. Đây là điều mà không phải bất cứ nhà tư tưởng, nhà lãnh đạo nào cũng làm được. Một người có thể là một nhà đạo đức học hay một nhà lãnh đạo nêu ra được những tư tưởng có giá trị về đạo đức, đóng góp vào sự phát triển tư tưởng đạo đức chung nhưng lại không phải là tấm gương đạo đức cho thiên hạ, nếu người đó không thực hiện những tư tưởng đạo đức mà mình đã đề ra. Bản thân Hồ Chí Minh là hiện thân của đạo đức. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tuyệt với trong sáng, tuyệt với trọn vẹn với quan điểm "trung với nước, hiếu với dân", cuộc đời của Bác là cuộc đời của một người tận trung với nước, tận hiếu với dân, nghĩ gì, làm gì cũng đều vì nước, vì dân. Trong "Di chúc" Người đã viết: "Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa". Khi Bác nói về cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư thì cuộc đời của Bác là cuộc đời của một bậc đại nhân, đại đức, đại trí, đại dũng, đại nghĩa, đại liêm. Là Chủ tịch một nước mà Bác vẫn luôn sống một "cuộc đời thanh bạch chẳng vàng son"; một chiếc giường đơn sơ và những bữa ăn đạm bạc, bộ quần áo kaki và đôi dép cao su… Về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã từng viết: "Hồ Chí Minh vừa là một nhà đạo đức học vừa là biểu tượng toàn vẹn của đạo đức cách mạng. Hồ Chí Minh là hình ảnh sống của một lãnh tụ nhân dân, được nhân dân tin yêu và coi như ngọn cờ của toàn dân tộc, nhưng rất gần gũi với nhân dân, không tự cho phép mình đứng trên nhân dân và đòi hỏi cho mình bất cứ một ngoại lệ nào có tính đặc quyền, đặc lợi. ở Người toả ra hào quang của một cuộc đời cao thượng, một tâm hồn trong sáng xưa nay hiếm". 1.3. Nội dung và vai trò của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, Người đã tiếp thu và bồi đắp thêm bằng nhận thức thực tiễn cách mạng và lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, trước hết là đạo đức cách mạng, là một bộ phận quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Bác nói: "Cách mạng là phá cái cũ, đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt" (Đường Kách mệnh, 1927). Người cách mạng không chỉ cần có tư tưởng cách mạng, có chủ nghĩa đúng đắn dẫn đường mà còn phải có đạo đức cách mạng: "Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" (Sửa đổi lối làm việc, t.10, 1947). Đạo đức cách mạng là cái gốc của người cách mạng, đạo đức cũ như người di ngược đầu cắm xuống đất… ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng và chính trị có mối quan hệ hữu cơ rất chặt chẽ. Bởi vậy, Người được nhân dân Việt Nam ca ngợi là "Người Việt Nam đẹp nhất", được nhân dân thế giới tôn vinh là "nhân cách của con người thời đại cho mọi thế hệ". Đạo đức có vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội và trong đời sống của mỗi người. Là người mở đường xây dựng nền độc lập cho Tổ quốc, đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng. Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức được nêu ra là phù hợp với từng đối tượng, được đề cập một cách toàn diện. Người nêu yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ giai đoạn đến xã hội, trong cả ba mối quan hệ của con người đối với mình, đối với người, đối với việc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Trong bản "Di chúc" bất hủ, Người viết: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư". Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ nhất định, Người đã khái quát thành những phẩm chất chung, cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới. Nói cách khác đó là những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng Việt Nam. a. Trung với nước, hiếu với dân. Trung với nước là chuẩn mực phủ định c truyền thống "trung với vua". Theo Hồ Chí Minh: Cả cuộc đời tuyệt đối trung thành với lý tưởng của cách mạng và quân đội; phải luôn luôn dặt lợi ích của dân tộc, của đất nước lên trên lợi ích cá nhân. Bản thân mỗi người phải phấn đấu hết mình vì lợi ích tối cao của dân tộc, vì quyền lợi cơ bản của nhân dân. Hiếu với dân là quan điểm phát triển so với truyền thống. Hiếu với dân là yêu kính nhân dân, là hết lòng phục vụ nhân dân; biết đấu tranh để mang lại quyền lợi cho nhân dân, biết bảo vệ quyền lợi nhân dân. Người cán bộ Đảng, cán bộ Nhà nước phải là "người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của dân". Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất nước. Và đặc biệt giai đoạn hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa những tác động của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ tới các mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta. Đặc biệt là sự thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống… đang diễn ra nghiêm trọng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Tình hình đó đòi hỏi lòng "tận trung với nước, tận hiếu với dân" của mỗi người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ của Đảng của Nhà nước phải càng được nâng cao hơn bao giờ hết. Nhận thức sâu sắc nguy cơ to lớn này, Đảng và Nhà nước ta đang từng bước đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh… coi đó là cơ sở nền tảng để xây dựng và phát triển đất nước. b. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức rất nổi bật, là phẩm chất cơ bản, trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh. Nó gắn liền với hoạt động hàng ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng, của mỗi con người nói chung, được Người xem là nền tảng của đời sống mới, là mối quan hệ "với tự mình". Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư thực chất là những khái niệm đạo đức phương Đông, đạo đức truyền thống Việt Nam được Hồ Chí Minh kế thừa, chọn lọc, phát triển. Người khẳng định: "Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà bắt nhân dân ta phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân" (Hồ Chí Minh, toàn tập… t.6, tr.321). Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là một biểu hiện sinh động của phẩm chất "trung với nước, hiếu với dân". Cần, kiệm, liêm, chính cần thiết đối với tất cả mọi người. Hồ Chí Minh viết: "Trời có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính Thiếu một mùa thì không thành trời Thiếu một phương thì không thành đất Thiếu một đức thì không thành người". Còn "chí công vô tư" là đề cao chủ nghĩa tập thể. Muốn có chí công vô tư phải kiên quyết chống chủ nghĩa các nhân. Bởi vì chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên sinh ra các bệnh xấu xa. Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người "giữ cán cân công lý", không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật. Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công vô tư. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫ
Luận văn liên quan