Khóa luận Giải pháp phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng

Luật tín dụng do quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật này còn định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”. Như vậy, NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.

docx66 trang | Chia sẻ: tuandn | Lượt xem: 2559 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Giải pháp phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Luật tín dụng do quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật này còn định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”. Như vậy, NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. 1.1.2. Khái niệm hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Đây là hoạt động đem lại khoản thu nhập khá lớn cho ngân hàng. Hoạt động cho vay của NHTM được định nghĩa: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”. 1.1.3. Phân loại hoạt động cho vay 1.1.3.1. Theo thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: thời hạn cho vay đến một năm và được sử dụng để bổ sung, bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn của các cá nhân. - Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay từ 1 đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi nhanh. Bên cạnh đó, nó còn được dùng để đầu tư tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp mới thành lập. - Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay trên 5 năm. Loại tín dụng này dùng để đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. 1.1.3.2. Theo mục đích sử dụng vốn - Cho vay bất động sản: là loại hình cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai hay bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dich vụ. - Cho vay công nghiệp, thương mại, dịch vụ: Loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. - Cho vay nông nghiệp: Loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nông nghiệp như mua phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nguyên nhiên liệu… - Cho vay cá nhân: Loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cá nhân như mua sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay, ngân hàng còn thực hiện các khoản cho vay để trang trải chi phí thông thường của đời sống qua phát hành thẻ tín dụng. - Cho các định chế tài chính khác vay: hình thức phổ biến nhất cho vay trên thị trường liên ngân hàng. - Cho thuê: Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm thuê vận hành, thuê và mua lại, thuê tài chính. Tài sản cho thuê thường là bất động sản và động sản chủ yếu là máy móc thiết bị. 1.1.3.3. Theo đối tượng cho vay - Tín dụng vốn cố định: các khoản cho vay để hình thành vố cố định trong các doannh nghiệp. - Tín dụng vốn lưu động: Các khoản cho vay để hình thành vốn lưu động 1.1.3.4. Theo hình thức bảo đảm - Cho vay có bảo đảm đối vật (cho vay có đảm bảo bằng tài sản): là hình thức cho vay mà số tiền được cấp ra dựa trên tài sản đảm bảo (cầm cố, thế chấp). Các tài sản dùng đảm bảo nợ vay phải hội đủ các điều kiện về tính thị trường, ổn định. Các hình thức cho vay có đảm bảo như đảm bảo bằng các chứng khoán( giấy tờ có giá), bằng hợp đồng thầu khoán, bằng vật tư hàng hóa, bằng bất động sản. - Cho vay có bảo đảm đối nhân (cho vay có đảm bảo không bằng tài sản): Là cam kết của một hay nhiều người về việc trả nợ ngân hàng thay cho khách hàng vay vốn khi khách hàng vay vốn không trả được nợ vay đến hạn. Người đứng ra bảo lãnh phải hội tủ hai điều kiện về năng lực pháp lý và năng lực tài chính. Thông thường, người đứng ra bảo đảm là các ngân hàng, tổ chức, tài chính, các doanh nghiệp. Các cá nhân muốn đứng ra bảo đảm thường phải có tài sản bảo đảm nợ vay. 1.1.3.5. Theo phương thức hoàn trả - Cho vay trả góp: Loại hình cho vay mà việc hoàn trả vốn và lãi theo định kỳ. Loại cho vay này thường áp dụng cho các khoản vay có thười gian dài như cho vay bất động sản, cho vay tiêu dùng đối với những tài sản có giá trị cao. Ngoài ra, hình thức này còn áp dụng cho một số loại cho vay có hình thái giá trị nhỏ như cho vay đối với những nhà kinh doanh nhỏ (cho vay chợ), cho vay tài trợ trang thiết bị nông nghiệp. - Cho vay phi trả góp: cho vay thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận. - Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: chẳng hạn như hình thức thấu chi, cho vay qua thẻ tín dụng. 1.1.3.6. Theo xuất xứ tín dụng - Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu vay, đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay ngân hàng. - Cho vay gián tiếp: Khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước, chứng minh nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu hàng tiêu dùng, máy móc nông nghiệp trả góp hay mua nợ. 1.1.3.7. Theo hình thức cho vay - Thấu chi: là hình thức cho vay gắn liền sử dụng tài khoản tiền gửi vãng lai của cá nhân hoặc danh nghiệp thông qua việc sử dụng số dư trong một hạn mức cho phép, với một thời hạn, phí do ngân hàng quy định. Quyền thấu chi có thể được chia làm hai loại: + Quyền thấu chi mặc định: Hình thức thấu chi phổ biến nhất. Quyền này được ngân hàng cấp cho khách hàng và ghi rõ điều kiện sử dụng tài khoản. Khách hàng có quyền rút quá số dư một mức cho phép mà không cần thông báo trước cho ngân hàng. + Quyền thấu chi thỏa thuận: Khi khách hàng có quyền rút quá số dư, khách hàng phải xin phép. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay để tạo thuận lợi cho thanh toán của khách hàng + Tương tự như thấu chi nhưng áp dụng cho khoản vay lớn, quan trọng hơn. + Cho vay rót vốn một lần, thời gian ngắn có thể đi kèm với một khoản vay khác hoặc với một khoản thu khác. + Cho vay đối với những hoạt động kinh doanh theo mùa vụ như khách sạn, nông nghiệp,… - Chiết khấu giấy tờ có giá: như kỳ phiếu thương mại, các chứng chỉ tiền gửi,… - Cho vay tiêu dùng cá nhân: là hình thức cho vay ngắn và trung hạn với lãi suất thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Việc trả nợ thường được trả hàng tháng với số tiền cố định. Cho vay tiêu dùng cá nhân thường là cho vay để mua phương tiện đi lại hoặc du lịch hoặc cho vay đối với sinh viên. Đối với những khách hàng tốt, ngân hàng còn cấp cho khách hàng một tập séc để rút tiền. - Tín dụng tuần hoàn: là hình thức tín dụng mà khách hàng được vay một khoản tiền cố định, khi hoàn trả sẽ được vay lại. - Tín dụng thuê mua: cho vay dưới hình thức cho thuê tài sản mà khách hàng cần sử dụng, sau một thời gian khách hàng có thể mua lại tài sản này. - Tín dụng nhà ở: Bao gồm cho vay thanh toán, cho vay tiết kiệm nhà ở, cho vay tự do. - Mua các khoản nợ của doanh ngiệp: hình thức phổ biến nhất của factoring là mua các hóa đơn bán hàng của doanh nghiệp. 1.1.4. Các nguyên tắc cho vay Khi khách hàng cần vay vốn từ NHTM, ngoài các giấy tờ, chứng từ cần thiết thì khách hàng cần phải đảm bảo ba nguyên tắc cho vay. Các nguyên tắc cho vay có quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau thành một tổng thể thống nhất, có ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các thành phần kinh tế, phòng ngừa được các yếu tố rủi ro đảm bảo an toàn tín dụng, đồng thời gây sức ép buộc các đơn vị kinh tế tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế. 1.1.4.1. Vốn vay phải có mục đích và sử sụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong HĐTD Trong nguyên tắc này, vốn vay khi được giải ngân phải được sử dụng đúng cho các mục đích đã được bên xin vay đưa ra khi đề xuất vay vốn với ngân hàng và được ngân hàng cho vay chấp nhận. Ngân hàng có quyền từ chối hoặc hủy bỏ mọi yêu cầu vay vốn không sử dụng đúng mục đích đã cam kết trước đó. Quán triệt nguyên tắc này, ngân hàng có quyền yêu cầu buộc bên vay phải sử dụng tiền vay đúng mục đích đã cam kết và thường xuyên giám sát hành động của bên vay về phương diện này. Tính mục đích của tiền vay gắn liền với hiệu quả kinh tế của khoản vay và ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro có thể xảy đến với khoản vay. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của bên vay gắn liền với hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng từ đó ảnh hưởng đến tính sinh lời của ngân hàng. 1.1.4.2. Vốn vay phải được hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thỏa thuận trong HĐTD Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của tín dụng là giao dịch cung - cầu về vốn, chỉ là giao dịch quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định. Trong khoảng thời gian cam kết giao dịch, ngân hàng và bên vay thỏa thuận rằng ngân hàng sẽ cam kết giao quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định cho bên vay. Khi kết thúc kỳ hạn vay, bên vay phải hoàn trả quyền này cho ngân hàng (trả nợ gốc) và một khoản chi phí (lợi tức và phí) nhất định cho việc sử dụng vốn vay. Những sai lệch so với dự kiến của việc hoàn trả nợ vay về mức độ trả nợ, thời hạn trả nợ đều phản ánh sự không bình thường trong hoạt động của bên vay ở các mức độ khác nhau. Điều nay có thể gây ra rủi ro tổn thất cho ngân hàng. 1.1.4.3. Vốn vay phải có đảm bảo Việc xác định một cách tương đối chính xác người sử dụng vốn vay có khả năng trả nợ hay không là điều rất khó. Do đó, để đảm bảo nguyên tắc hoàn trả thì khoản tín dụng đó phải đảm bảo. Có hai hình thức đảm bảo sau: + Đảm bảo bằng tài sản: Cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, tài sản hình thành từ vốn vay. + Đảm bảo không bằng tài sản dưới hình thức tín chấp hoặc theo chỉ thị, nghị định của Chính phủ. Tùy thuộc vào đối tượng vay vốn có quan hệ như thế nào với ngân hàng mà ngân hàng cho vay có đảm bảo bằng tài sản hoặc không có đảm bảo bằng tài sản. 1.1.5. Vai trò của hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay là một phần của hoạt động tín dụng của ngân hàng. Hoạt động này đã ra đời từ lâu và trở thành một trong hai nhiệm vụ cơ bản. Đây cũng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng bởi vì chỉ có lãi cho vay mới bù đắp lại các chi phí phát sinh như chi phí trung gian, chi phí quản lý, chi phí dự trữ... Trong quá trình phát triển của ngân hàng, lợi nhuận từ các khoản cho vay chiếm phần lớn thu nhập. Khi lượng tiền gửi tăng lên đáng kể thì các hình thức cho vay cũng phong phú. Khi định nghĩa về hoạt động cho vay, có nhiều quan điểm khác nhau và có thể định nghĩa: “Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động cung ứng tiền cho tất cả các khách hàng có nhu cầu về tiền để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng”. Và hoạt động cho vay có những vai trò: - Hoạt động cho vay góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Phần lớn nguồn vốn của nhiều thành phần trong kinh tế đi vay từ ngân hàng để bắt tay vào ngành thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn (Ví dụ: kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tới trên 70%). Do vậy bằng các chính sách cho vay, định hướng chung của nhà nước góp phần tạo cho nền kinh tế một cơ cấu kinh tế hợp lý, cân đối. Bằng những công cụ tín dụng mà ngân hàng có thể cho vay ưu đãi những nghành nghề cần thiết để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể. - Hoạt động cho vay góp phần điều hòa cung – cầu dịch vụ, hàng hóa Doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh mà thiếu vốn thì doanh nghiệp phải vay vốn của ngân hàng. Nhưng doanh nghiệp chỉ thu được lợi nhuận cũng như có khả năng trả nợ ngân hàng khi doanh nghiệp tiêu thụ được hết số sản phẩm hàng hoá đã sản xuất ra, hay phải có một bộ phận những người tiêu dùng mua và có khả năng mua sản phẩm đó. Về phía người tiêu dùng, với một mức thu nhập nhất định, họ không thể có đủ số tiền để mua hàng hoá mình muốn. Họ chỉ đủ khả năng mua sau một thời gian dài tích luỹ. Đó là nguyên nhân dẫn đến chu kì tuần hoàn và luân chuyển vốn của doanh nghiệp bị ngưng trệ. Doanh nghiệp sẽ không thu hồi đủ tiền để thực hiện vòng quay sản xuất. Do đó, ngân hàng cho doanh nghiệp vay sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thì sẽ có nhiều hàng hoá. Ngân hàng cho người tiêu dùng vay sẽ thoả mãn nhu cầu hàng hoá. Như vậy hoạt động cho vay của ngân hàng đã góp phần điều hoà cung - cầu sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cho nền kinh tế. - Hoạt động cho vay góp phần điều tiết và phân phối các nguồn vốn Vốn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế vận động liên tục và biểu hiện các hình thức khác nhau qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, tạo thành chu kì tuần hoàn và luân chuyển vốn được thể hiện dưới dạng tiền tệ. Trong quá trình đó, để duy trì hoạt động liên tục, đòi hỏi nguồn vốn của doanh nghiệp luôn tồn tại đồng thời ở ba giai đoạn: dự trữ - sản xuất - lưu thông. Từ đó xảy ra hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời: tại một thời điểm nhất định có những đơn vị kinh tế có vốn tiền tệ nhàn rỗi và có những đơn vị thiếu vốn. Hiện tượng này xảy ra thường xuyên và phổ biến trong bất kì nền kinh tế nào, làm nảy sinh nhu cầu ngày càng bức thiết phải giải quyết được vấn đề điều hoà vốn. NHTM với vai trò là một trung gian tài chính đứng ra tập trung phân phối lại tiền tệ, điều hoà cung - cầu vốn cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn. - Hoạt động cho vay góp phần giúp các thành phần kinh tế mở rộng ứng dụng công nghệ mới Với những doanh nghiệp trang bị trình độ kĩ thuật còn thấp kém, công nghệ lỗi thời, thiếu đồng bộ làm giảm ưu thế của các doanh nghiệp, làm cho các doanh nghiệp đó kém phát triển. Thông qua vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp dùng đồng vốn này để đầu tư, tìm kiếm những công nghệ hiện đại, đổi mới dây truyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm thoả mãn nhu cầu trong và ngoài nước. Như vậy hoạt động cho vay mở rộng ứng dụng công nghệ mới vào các doanh nghiệp, thông qua đó giúp doanh nghiệp sản xuất ngày càng có hiệu quả, mở rộng sản xuất kinh doanh. - Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng và thúc đẩy các hoạt động khác của ngân hàng Cho vay là một trong những hoạt động lớn của ngân hàng. Ở các nước phát triển, doanh thu từ hoạt động này thường chiếm 70%, hay đến 90% doanh thu của ngân hàng, ở các nước đang phát triển. Hiện nay 80% doanh thu của các NHTM là từ hoạt động tín dụng, mà hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn. Nhờ có hoạt động cho vay, mà các đơn vị kinh tế có thể vay của ngân hàng để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được không những đủ tiền trả cho ngân hàng mà còn có tiền gửi vào ngân hàng, nghĩa là làm tăng hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Mặt khác, khi sản xuất kinh doanh phát triển, xã hội phát triển thì các hoạt động dịch vụ của ngân hàng cũng phát triển. 1.2. Hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.2.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo quy định tại điều 3 - Nghị định 56/2009/NĐ-CP: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể như sau: Quy định về quy mô của DNNVV theo từng khu vực Quy mô Khu vực Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động 1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản. 10 người trở xuống 20 tỷ đồng trở xuống Từ trên 10 người - 200 người Từ trên 20 tỷ đồng - 100 tỷ đồng Từ trên 200 người - 300 người 2. Công nghiệp và xây dựng 10 người trở xuống 20 tỷ đồng trở xuống Từ trên 10 người - 200 người Từ trên 20 tỷ đồng - 100 tỷ đồng Từ trên 200 người - 300 người 3. Thương mại và dịch vụ 10 người trở xuống 10 tỷ đồng trở xuống Từ trên 10 người - 50 người Từ trên 10 tỷ đồng - 50 tỷ đồng Từ trên 50 người - 100 người 1.2.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay, các DNNVV xuất hiện ngày càng nhiều trong nền kinh tế Việt Nam dưới nhiều hình thức: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,… và dần trở thành lực lượng đáng kể, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của đất nước. Vì vậy, cần hiểu rõ về DNNVV để có thể có những phương án, chính sách thích hợp nhằm phát triển DNNVV hơn nữa. Đặc điểm của DNNVV: - DNVVN năng động, nhạy bén, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường Đây là một trong những ưu thế nổi bật của DNNVV mà các doanh nghiệp lớn khó có thể có được. Thể hiện ở bộ máy quản lý gọn nhẹ, số vốn ít, cơ sở vật chất không nhiều,… nên các DNNVV có thể dễ dàng đáp ứng được nhu cầu của thị trường nếu nắm bắt được xu thế tiêu dùng của khách hàng hiện nay. Bên cạnh đó, với quy mô nhỏ nên DNNVV có khả năng phản ứng nhanh và thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh tế, có thể nhanh chóng chuyển đổi hoặc thu hẹp quy mô sản xuất trong khi doanh nghiệp lớn không thể thực hiện chuyển đổi vì có thể gây ra tổn thất lớn. - DNVVN được tạo lập dễ dàng, hoạt động có hiệu quả với chi phí cố định thấp Để thành lập một doanh nghiệp lớn, điều tất yếu cần có là số vốn ban đầu lớn, tuy nhiên, đối với các DNNVV thì điều này là không cần thiết. Với nguồn vốn ban đầu thấp, mặt bằng sản xuất nhỏ, dễ quản lý nên các DNNVV linh hoạt hơn trong việc huy động nguồn vốn từ gia đình, bạn bè, người quen dẫn đến giảm được chi phí cố định và tận dụng tốt nguồn lực sẵn có. - DNVVN tạo điều kiện duy trì tự do cạnh tranh DNNVV thường là những doanh nghiệp ngoài quốc doanh, không có sự bảo hộ của Nhà nước. Mặt khác, hiện nay các DNNVV phát triển rộng rãi và có sự đa dạng trong cung cấp hàng hóa. Vì thế, để tồn tại và phát triển, các DNNVV phải biết tận dụng, tìm tòi các cơ hội, cạnh tranh với nhau để dành được thị trường tiềm năng hơn. Từ đó tạo nên sự sôi động cho nền kinh tế. - DNVVN có khả năng tài chính hạn chế và thường gặp khó khăn trong việc mua máy móc, thiết bị nên thường gắn với công nghệ lạc hậu, thủ công Công nghệ, máy móc sản xuất đổi thay từng ngày nhưng vì số vốn ban đầu thấp nên lợi nhuận của DNNVV cũng có phần hạn chế. Từ đó, việc mua các máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ gặp khó khăn nên các doanh nghiệp còn phải sử dụng công nghệ lạc hậu hoặc đi theo hướng sản xuất thủ công. - DNVVN thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay của ngân hàng và thị trường tài chính Từ trước đến nay, Nhà nước ta luôn chú trọng, quan tâm đến tình hình hoạt động kinh doanh, sản xuất của DNNVV, luôn đưa ra các giải pháp, phương án nhằm đưa nguồn vốn đến doanh nghiệp. Tuy vậy, các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Nguyên nhân ở đây là do năng lực tài chính của các DNNVV còn hạn chế, quá trình sản xuất, kinh doanh dễ gặp rủi ro gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng. Mặt khác, các TCTD vẫn chưa tin cậy vào các DNNVV nên thường cho doanh nghiệp vay vốn khi có tài sản thế chấp, trong khi phần lớn DNNVV thiếu tài sản cố định giá trị lớn. Đây chính là những rào cản lớn đối với việc tiếp cận vốn của DNNVV. - DNNVV tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong một quốc gia Ở các thành phố, điều kiện phát triển kinh tế có phần thuận lợi hơn, vì thế, các doanh nghiệp, tập đoàn lớn thường tập trung tại đây. Trong khi đó, vùng nông thôn, miền núi, hải đảo chỉ phát triển nông – lâm – ngư nghiệp. Điều này khiến cho sự cân bằng kinh tế giữa các vùng miền có phần không đồng đều. Và loại hình DNNVV xuất hiện đã giải quyết vấn đề này. Ở bất cứ khu vực nào, chỉ cần có nguồn tài nguyên và nguồn lực ph
Luận văn liên quan