Khóa luận Tội cướp giật tài sản: Những vấn đề lý luận và thực tiễn

1.Tính cấp thiết của đề tài Với vai trò là nền tảng kinh tế - xã hội của quốc gia, chế độ sở hữu là một trong những vấn đề trọng yếu được Nhà nước bảo vệ bằng mọi biện pháp trong đó có biện pháp hình sự. Điều này được thể hiện trong việc xử lý các hành vi xâm phạm tới chế độ sở hữu. Hiện nay, các tội phạm xâm phạm sở hữu xảy ra rất phổ biến trong đó tội cướp giật tài sản chiếm tỷ lệ khá lớn. Chỉ trong vòng 9 năm tính từ năm 1998 đến năm 2007, toàn quốc đã có17655 vụ phạm tội cướp giật tài sản được xét xử sơ thẩm trong tổng số 465945 vụ phạm tội được tòa án xét xử, chiếm tỷ lệ 3,78 %1. Nhiều vụ cướp giật tài sản đã gây thương tích thậm chí gây chết người. Bộ luật hình sự năm 1999 (BLHS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) khóa X thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2000 đã trở thành là căn cứ pháp lý quan trọng để các cơ quan pháp luật áp dụng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, để áp dụng đúng các qui định của pháp luật trong thực tiễn rất cần được nhận thức và hướng dẫn áp dụng thống nhất. Tội cướp giật tài sản - những vấn đề lí luận và thực tiễn là một trong những đề tài được nhiều nhà khoa học, tác giả quan tâm. Có rất nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành pháp luật như: Tạp chí Luật học có bài: “Trách nhiệm hình sự đối với những người xâm phạm sở hữu”. Bài “Đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu” của Nguyễn Ngọc Chí đăng trên Tạp chí Nhà nước - Pháp luật số 2/1998 .v.v. Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận án cũng đề cập đến đề tài này như: “Các tội xâm phạm sở hữu trong luật hình sự Việt Nam” luận văn của thạc sĩ Lương Văn Thức.Các công trình, tài liệu trên đã góp phần tạo nên sự phong phú cho nền tảng lí luận cũng như thực tiễn áp dụng tội cướp giật tài sản. Tuy nhiên, các công trình mới chỉ nghiên cứu tội cướp giật tài sản ở khía cạnh tổng quát, đặt tội cướp giật tài sản trong tổng thể các tội xâm phạm sở hữu của luật hình sự Việt Nam, những vấn đề thực tiễn cùng những giải pháp, kiến nghị vẫn còn khá chung chung. Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Tội cướp giật tài sản - những vấn đề lý luận và thực tiễn” một cách toàn diện và có hệ thống là đòi hỏi bức xúc trong điều kiện hiện nay. 2. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu. Đề tài thực hiện nhằm nghiên cứu sâu sắc vấn đề lý luận cũng như thực tiễn tội cướp giật tài sản trong giai đoạn những năm hiện nay để từ đó tìm ra những biện pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về tội cướp giật tài sản. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản, đường lối xử lý, một số biện pháp, kiến nghị hoàn thiện các quy định tội cướp giật tài sản. 3. Cơ cấu Khóa luận gồm có 3 chương ngoài Lời mở đầu và Kết luận. Trong đó: Chương I : Khái niệm và các dấu hiệu pháp lí tội cướp giật tài sản. Chương II : Đường lối xử lý tội cướp giật tài sản. Chương III : Thực tiễn áp dụng tội cướp giật tài sản và một số kiến nghị hoàn thiện.

doc51 trang | Chia sẻ: tuandn | Lượt xem: 9690 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Tội cướp giật tài sản: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Với vai trò là nền tảng kinh tế - xã hội của quốc gia, chế độ sở hữu là một trong những vấn đề trọng yếu được Nhà nước bảo vệ bằng mọi biện pháp trong đó có biện pháp hình sự. Điều này được thể hiện trong việc xử lý các hành vi xâm phạm tới chế độ sở hữu. Hiện nay, các tội phạm xâm phạm sở hữu xảy ra rất phổ biến trong đó tội cướp giật tài sản chiếm tỷ lệ khá lớn. Chỉ trong vòng 9 năm tính từ năm 1998 đến năm 2007, toàn quốc đã có17655 vụ phạm tội cướp giật tài sản được xét xử sơ thẩm trong tổng số 465945 vụ phạm tội được tòa án xét xử, chiếm tỷ lệ 3,78 %1. Nhiều vụ cướp giật tài sản đã gây thương tích thậm chí gây chết người. Bộ luật hình sự năm 1999 (BLHS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) khóa X thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2000 đã trở thành là căn cứ pháp lý quan trọng để các cơ quan pháp luật áp dụng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, để áp dụng đúng các qui định của pháp luật trong thực tiễn rất cần được nhận thức và hướng dẫn áp dụng thống nhất. Tội cướp giật tài sản - những vấn đề lí luận và thực tiễn là một trong những đề tài được nhiều nhà khoa học, tác giả quan tâm. Có rất nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành pháp luật như: Tạp chí Luật học có bài: “Trách nhiệm hình sự đối với những người xâm phạm sở hữu”. Bài “Đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu” của Nguyễn Ngọc Chí đăng trên Tạp chí Nhà nước - Pháp luật số 2/1998 .v.v. Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận án cũng đề cập đến đề tài này như: “Các tội xâm phạm sở hữu trong luật hình sự Việt Nam” luận văn của thạc sĩ Lương Văn Thức...Các công trình, tài liệu trên đã góp phần tạo nên sự phong phú cho nền tảng lí luận cũng như thực tiễn áp dụng tội cướp giật tài sản. Tuy nhiên, các công trình mới chỉ nghiên cứu tội cướp giật tài sản ở khía cạnh tổng quát, đặt tội cướp giật tài sản trong tổng thể các tội xâm phạm sở hữu của luật hình sự Việt Nam, những vấn đề thực tiễn cùng những giải pháp, kiến nghị vẫn còn khá chung chung. Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Tội cướp giật tài sản - những vấn đề lý luận và thực tiễn” một cách toàn diện và có hệ thống là đòi hỏi bức xúc trong điều kiện hiện nay. 2. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu. Đề tài thực hiện nhằm nghiên cứu sâu sắc vấn đề lý luận cũng như thực tiễn tội cướp giật tài sản trong giai đoạn những năm hiện nay để từ đó tìm ra những biện pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về tội cướp giật tài sản. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản, đường lối xử lý, một số biện pháp, kiến nghị hoàn thiện các quy định tội cướp giật tài sản. 3. Cơ cấu Khóa luận gồm có 3 chương ngoài Lời mở đầu và Kết luận. Trong đó: Chương I : Khái niệm và các dấu hiệu pháp lí tội cướp giật tài sản. Chương II : Đường lối xử lý tội cướp giật tài sản. Chương III : Thực tiễn áp dụng tội cướp giật tài sản và một số kiến nghị hoàn thiện. Trên đây là toàn bộ nội dung kết quả nghiên cứu của em, do trình độ hiểu biết còn hạn chế, tài liệu tham khảo còn chưa phong phú.... nên khóa luận không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Vì vậy, em rất mong được sự góp ý của thầy (cô) giáo để khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn. CHƯƠNG I KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN I- Khái niệm về tội cướp giật tài sản 1. Tội cướp giật tài sản trong pháp luật hình sự từ thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa. Sau thắng lợi đó, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự để bảo vệ thành quả cách mạng. Một trong những nội dung được đặc biệt coi trọng là chế độ sở hữu - nền tảng kinh tế xã hội của đất nước. Các qui định của pháp luật đã phản ánh tương đối rõ nét các đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật lập pháp của nước ta trong một giai đoạn lịch sử, đặc biệt thể hiện rõ chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với các hành vi xâm phạm sở hữu. Tại Điều 12 - Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Việc qui định như vậy, đã tạo nên cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, là điều kiện ổn định sinh hoạt vật chất của mỗi con người. Bên cạnh đó, Nhà nước còn ban hành hàng loạt các Sắc lệnh như: Sắc lệnh số 26/SL ngày 25 tháng 2 năm 19461 qui định các hành vi phá hoại công sản, Thông tư 442/TTg ngày 19/01/1955 hướng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội xâm phạm sở hữu như trộm cắp, cướp của, lừa đảo, bội tín...Tuy nhiên, ở đó, tội cướp giật tài sản chưa được quy định thành một điều luật cụ thể. Đến năm 1959, sau khi nước ta cơ bản hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN thì việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Bởi vậy, việc bảo vệ sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể là vấn đề cấp bách, được đặc biệt coi trọng. Điều 40 - Hiến pháp 1959 ghi nhận: “Tài sản công cộng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thiêng liêng không thể xâm phạm. Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng”. Ngày 21 tháng 10 năm 1970, Nhà nước ta đã thông qua hai văn bản pháp luật mới là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân. Cụ thể, tại Điều 5 của Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN, tội cướp giật tài sản XHCN được qui định: “Kẻ nào cướp giật tài sản XHCN thì bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm”. Tại Điều 4 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân có ghi: “Kẻ nào cướp giật tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm”. Nội dung của hai pháp lệnh đã thể hiện đầy đủ và toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với các tội phạm về sở hữu nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng. Điều đó còn thể hiện trình độ kỹ thuật lập pháp của Nhà nước ta nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế đáp ứng việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm trong tình hình mới. Thời kỳ này, tội cướp giật tài sản XHCN và tội cướp giật tài sản riêng của công dân đã được cụ thể hóa thành hai điều luật riêng nằm trong hai pháp lệnh khác nhau. Ngoài hai pháp lệnh trên, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 185 ngày 09 tháng 12 năm 1970 về tăng cường bảo vệ tài sản XHCN nhằm chỉ đạo thi hành nội dung hai pháp lệnh trong thực tế. Ngày 16/03/1973, Thông tư liên bộ của TANDTC - VKSNDTC - BCA hướng dẫn trong đó, tội cướp giật tài sản được hiểu là: “Trường hợp kẻ phạm tội lợi dụng sơ hở vướng mắc của người giữ tài sản, bất thần giằng lấy tài sản trên tay người giữ tài sản”. Với hướng dẫn lợi dụng sự “vướng mắc” còn có thể hiểu bao gồm cả hành vi mà sau này được coi là tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Hướng dẫn này đã khái quát tội cướp giật tài sản với hành vi khách quan của tội phạm là hành vi chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng và công khai. Sau ngày 30/04/1975, Sắc Luật số 03/SL ngày 15/03/1976 qui định tội phạm và hình phạt. Trong văn bản này, tội cướp giật tài sản mặc dù không được qui định cụ thể, chi tiết trong một điều luật riêng nhưng cũng đã được qui định trong một điều luật cùng với các tội xâm phạm sở hữu khác nhau như: trộm cắp, tham ô, lừa đảo....Điều 4 Sắc Luật số 03 qui định: Điều 4: Tội xâm phạm tài sản công cộng ....b. “Phạm các tội như : trộm cắp, tham ô, lừa đảo, bội tín, cướp giật thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm. Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 15 năm”. Như vậy, cùng với hai pháp lệnh trên, Sắc Luật số 03 đã được áp dụng chung trong cả nước sau khi nước nhà thống nhất, để đấu tranh chống các tội phạm về sở hữu. Các qui định bước đầu về tội cướp giật tài sản trong các văn bản đó là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm này. 2. Tội cướp giật tài sản trong Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999. Sự hình thành và phát triển của pháp luật luôn dựa trên nền tảng chính tri - kinh tế - xã hội. Vào những năm 1980, đất nước với nền kinh tế có nhiều thay đổi, với nhiều thành phần kinh tế khác nhau, các quan hệ pháp luật mới nảy sinh cũng như những qui định pháp luật cũ, trước đây không còn phù hợp nữa. Vì vậy, sự ra đời của BLHS 1985 (27/06/1985) là một tất yếu khách quan. Đây là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp phát triển của xã hội. Trong BLHS 1985, tội cướp giật tài sản được qui định thành hai tội là: tội cướp giật tài sản XHCN tại Điều 131 với nội dung: “Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 129 thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm” và tội cướp giật tài sản riêng của công dân được qui định tại Điều 154 với nội dung: “Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 151 thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm”. Xét về nội dung, hai tội này có dấu hiệu pháp lí tương tự nhau: về mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm; chỉ khác nhau về dấu hiệu khách thể của tội phạm. Do tính chất quan hệ sở hữu được luật hình sự bảo vệ khác nhau, do vị trí của hai loại quan hệ sở hữu có tầm quan trọng khác nhau nên hành vi phạm tội cướp giật tài sản được qui định trong BLHS 1985 được qui định thành hai tội danh cụ thể tại hai chương khác nhau. Trong thời kỳ mới, xuất phát từ đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Bộ luật hình sự 1999 đã nhập 2 chương: Các tội xâm phạm sở hữu XHCN và các tội xâm phậm sở hữu riêng của công dân vào thành một chương: Các tội phạm sở hữu. Việc nhập 2 chương là một việc làm cần thiết bởi: Thứ nhất, hai điều Điều 131 và Điều 154 trong BLHS 1985 về cơ bản là giống nhau trong dấu hiệu pháp lí (về mặt khách quan, về mặt chủ quan, về chủ thể ) nên việc tách thành 2 chương riêng biệt là không cần thiết. Hơn thế nữa, có nhiều trường hợp phạm tội khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản họ không quan tâm xem tài sản đó thuộc về quyền sở hữu của ai, của Nhà nước, tập thể hay của công dân mà chỉ cốt sao đạt được mục đích chiếm đoạt. Thứ hai, trong nền kinh tế hiện nay, Nhà nước chủ trương đa dạng hóa thành phần kinh tế theo các hình thức sở hữu khác nhau nhưng đều phải bình đẳng trước pháp luật, đều được Nhà nước bảo hộ như nhau. Do đó, việc BLHS 1985 qui định tách thành hai chương là không còn phù hợp nữa. Đồng thời, thực tiễn cho thấy, trong nền kinh tế nhiều thành phần, các hình thức sở hữu đan xen nhau do có sự liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần với tỷ lệ khác nhau nên khó có thể xác định, thậm chí không thể xác định được đâu là tài sản xã hội chủ nghĩa và đâu là tài sản riêng của công dân. Thứ ba, sự ra đời của Hiến pháp 1992 khẳng định: Nhà nước ta phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với hình thức sở hữu đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Và Bộ luật dân sự 1995 có qui định 7 hình thức sở hữu khác nhau gồm: sở hữu toàn dân; sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, sở hữu hỗn hợp, sở hữu chung. Như vậy, trong trường hợp khi có hành vi xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu hỗn hợp (tài sản của chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất kinh doanh) thì việc tiếp tục áp dụng các qui định của BLHS 1985 để xử lý tội phạm sẽ gặp nhiều khó khăn và vướng mắc, nhất là trong việc định tội danh. Ngoài ra, nếu đặt vấn đề là trong BLHS cần qui định các tội xâm phạm sở hữu tương ứng với 7 hình thức sở hữu theo qui định của BLDS là không cần thiết. Vì thế, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trở lên khó khăn khi mà BLHS 1985 không qui định hành vi xâm hại tài sản đến các hình thức sở hữu khác, ngoại trừ hình thức sở hữu XHCN và hình thức sở hữu công dân. Với những lí do trên, Điều 136 BLHS 1999 quy định: “1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a, Có tổ chức; b, Có tính chất chuyên nghiệp; c, Tái phạm nguy hiểm; d, Dùng thủ đoạn nguy hiểm; đ, Hành hung để tẩu thoát; e, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%; g, Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; h, Gây thiệt hại nghiêm trọng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; b, Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; c, Gây hậu quả rất nghiêm trọng. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người; b, Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; c, Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.” Nếu so với Điều 131, Điều 154 của BLHS 1985 thì Điều 136 của BLHS 1999 có nhiều sửa đổi và bổ sung. Đó là các dấu hiệu định khung hình phạt đã có sự qui định cụ thể hơn. Các dấu hiệu định khung mới như: “gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác ”, “giá trị tài sản”, “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” được qui định trong điều luật. Đặc biệt là hình phạt bổ sung cũng được qui định ngay thành một phần cụ thể, rõ ràng. Về cơ cấu, tội cướp giật tài sản được qui định trong BLHS có 4 khung hình phạt, trong khi đó, BLHS 1985, chỉ qui định tội cướp giật tài sản với 3 khung hình phạt. Khoảng cách giữa mức hình phạt tối đa và tối thiểu trong một khung hình phạt trong tội cướp giật tài sản cũng ngắn hơn so với BLHS 1985. Điều này cho thấy, kỹ thuật lập pháp của các nhà làm luật đã qui định cụ thể các trường hợp phạm tội có sự phân hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt. Từ đó, tạo điều kiện cho hoạt động áp dụng luật được dễ dàng và chính xác hơn. Ngoài ra, BLHS 1985, tội cướp giật tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được qui định chung trong một điều luật, nhưng đến BLHS 1999, hai tội này được tách riêng và qui định thành hai điều luật khác nhau. Đây là việc làm cần thiết bởi vì xét về tính chất và mức độ nguy hiểm thì tội cướp giật có tính nguy hiểm cao hơn so với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, vì vậy khung hình phạt hoàn toàn khác nhau. Việc tách ra thành hai tội riêng, giúp việc áp dụng được dễ dàng và phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của từng tội phạm. Như vậy, nhìn vào lịch sử lập pháp của tội cướp giật tài sản, chúng ta nhận thấy, sự phát triển, hoàn thiện trong kỹ thuật lập pháp của các nhà làm luật. Với các qui định tại Điều 136 BLHS 1999, tội cướp giật tài sản đã được quy định một cách rõ ràng hơn, chi tiết hơn. Điều này là cơ sở cho việc thực thi luật được minh bạch, thuận lợi và chính xác. Ngày16/03/1973, Thông tư liên bộ của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an hướng dẫn nội dung tội cướp giật tài sản được hiểu là: “Trường hợp kẻ phạm tội lợi dụng sơ hở vướng mắc của người giữ tài sản, bất thần giằng lấy tài sản trên tay người giữ tài sản...với ý thức không che giấu hành vi phi pháp của mình, rồi chạy trốn hoặc bỏ đi không dùng bạo lực”. Hướng dẫn này đã khái quát tội cướp giật tài sản với hành vi khách quan của tội phạm là hành vi chiếm đoạt. Đồng thời, hướng dẫn còn nêu đặc điểm của hành vi chiếm đoạt của tội cướp giật tài sản là chiếm đoạt một cách nhanh chóng và công khai. Đến nay Điều 136 BLHS 1999 quy định tội cướp giật tài sản với định nghĩa: “Tội cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai”.1 Tội cướp giật tài sản là chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản một cách công khai, tức là người phạm tội không ý thức che giấu hành vi phạm tội của mình. Một hành vi chiếm đoạt có tính chất công khai nếu hình thức thực hiện của nó cho phép chủ tài sản có khả năng biết ngay có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra. Ví dụ: Trưa ngày 14/02/2005, Vũ Huy Hoàng (18 tuổi, trú tại số nhà 12, ngõ 62 Trần Quý Cáp), Nguyễn Chiến Thắng (20 tuổi, trú tại ngõ Linh Quang, Văn Chương), Phạm Quang Duy (19 tuổi, trú tại Khâm Thiên), Đinh Việt Cường (21tuổi, trú tại ngõ Thanh Miếu, Văn Miếu) và đối tượng nữ nhuộm tóc vàng là Trần Bích Diệp (16 tuổi, trú tại ngõ Yên Bái II, phường Phố Huế), sau khi ăn chơi hút hít ở một nhà nghỉ trên đường Giải Phóng, cả bọn bàn nhau đi cướp giật tài sản để lấy tiền...chơi tiếp. Chúng thỏa thuận: Hoàng sẽ chở Thắng, còn Duy sẽ chở Diệp. Khi tia thấy “con mồi” thì Hoàng sẽ áp sát xe vào con mồi cho Thắng giật, còn Duy - Diệp sẽ cản đường nếu bị đuổi bắt. Đi khỏi nhà nghỉ một đoạn, đến chân cầu vượt Ngã Tư Vọng thì cả bọn nhìn thấy hai phụ nữ đèo nhau bằng xe máy, trên tay người ngồi sau ôm một chiếc túi. Chúng đoán trong chiếc túi chắc phải có tài sản gì đáng giá lắm nên người phụ nữ kia mới ôm khư khư như vậy nên quyết định bám theo. Đến đỉnh cầu vượt, Hoàng áp sát xe vào hai người phụ nữ và Thắng xô vào giật chiếc túi trên tay người ngồi sau rồi cả bọn rồ ga chạy thục mạng. Người đi đường chỉ còn nghe thấy tiếng rúi xe ầm ĩ và những làn khói xanh để lại. Xe đổ, hai người phụ nữ ngã văng ra đường. Hai người phụ nữ đó là hai chị em Đỗ Thị Lượng và chị Đỗ Thị Hà ở đường Giáp Bát. Như vậy, các đối tượng trên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai và nhanh chóng, cấu thành tội cướp giật tài sản qui định tại Điều 136 BLHS 1999. II-Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản qui định tại Điều 136 BLHS 1999. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc thù cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự. Với nội dung này, cấu thành tội phạm được coi là khái niệm pháp lý của loại tội phạm cụ thể, là sự mô tả khái quát loại tội phạm nhất định trong luật hình sự. Về mặt lí luận, bốn yếu tố cấu thành tội phạm là: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm. Ở tội cướp giật tài sản qui định tại Điều 136 BLHS 1999, các dấu hiệu pháp lý của bốn yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm: 1.Khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định trong Điều 8 của BLHS 1999. Đồng thời, mỗi một tội phạm đều gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hai cho một trong những khách thể nhất định. Khách thể của tội phạm là một căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Trong tội cướp giật tài sản, khách thể trực tiếp bị xâm hại là quan hệ sở hữu về tài sản mà đối tượng tác động là những tài sản nhỏ, gọn, dễ mang đi do tính chất của hành vi là nhanh chóng chiếm đoạt tài sản. Khi người phạm tội thực hiện hành vi cướp giật tài sản đã gây ra thiệt hại về quyền sở hữu của tài sản cho chủ tài sản và sự gây thiệt hại này phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Ngoài ra, không phải mọi tài sản đều là đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản. Đối tượng tác động của tội này thường là những tài sản gọn nhẹ, có thể lấy và mang đi một cách dễ dàng như: dây chuyền, lắc, túi xách...rất ít khi tội phạm lấy những tài sản cồng kềnh, khó di chuyển, mang vác theo. Tuy vậy, không loại trừ tội phạm cướp giật những tài sản cồng kềnh như: xe máy, xe đạp...bởi sau khi người phạm tội cướp tài sản xong lại sử dụng chính những tài sản đó làm phương tiện để tẩu thoát.
Luận văn liên quan