Tóm tắt Luận án Hoàn thiện hoạt động kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại Việt Nam

Kiểm soát nội bộ (KSNB) từ lâu được biết tới như một phương sách của quản lý hiệu quả. KSNB được thiết kế và vận hành nhằm trợ giúp cho nhà quản lý đạt được các mục tiêu trong quá trình hoạt động của mỗi tổ chức hay một doanh nghiệp (DN) hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau và đóng góp vào quản trị doanh nghiệp hiệu quả: Ramamoorti (2003), Hermanson and Rittenberg (2003 ([165], [112]); quan hệ KSNB và giám sát rủi ro OECD (2009a, b); Senior Supervisors Group (2009) ([150], [151], [173]). Điều này mang nhiều hàm ý cho những nghiên cứu KSNB theo những hướng khác nhau, đặc biệt là vai trò quan trọng của hoạt động KSNB để quản trị công ty thành công. Ngân hàng thương mại (NHTM) được xem là những DN đặc biệt, kinh doanh tiền tệ và những những dịch vụ có liên quan. Đây là một lĩnh vực hoạt động phức tạp, luôn tiềm ẩn nhửng rủi ro cao tác động tới khả năng sử dụng nguồn lực tối ưu - hiệu quả (effeciency) và đạt được mục đích hoạt động - hiệu lực (effectiveness). Trên Thế giới và ở trong nước đã xảy ra những vụ việc phá sản của ngân hàng hoặc thất bại trong kinh doanh của một số ngân hàng thường kéo theo những hệ lụy về kinh tế, chính trị to lớn. Bởi vậy, việc nghiên cứu những tồn tại, đánh giá và tìm hiểu nguyên nhân của những yếu kém trong hoạt động KSNB tại các NHTM có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của các NHTM Việt Nam. Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả chọn Đề tài “Hoàn thiện hoạt động kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại Việt Nam”.

pdf29 trang | Chia sẻ: thientruc20 | Lượt xem: 256 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Hoàn thiện hoạt động kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH --------------------- NGUYỄN BÍCH LIÊN HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Kế toán Mã số: 62.34.03.01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ HÀ NỘI, NĂM 2018 Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN TÀI CHÍNH, NĂM 2018 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGÔ THẾ CHI Phản biện 1:......................................................................................................... ....................................................................................................... Phản biện 2:......................................................................................................... ....................................................................................................... Phản biện 3:......................................................................................................... ....................................................................................................... Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại ................ .............................. Vào hồi ........giờ........ngày........tháng........năm........ Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Quốc gia Việt Nam; Học viện Tài chính 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của Đề tài Luận án Kiểm soát nội bộ (KSNB) từ lâu được biết tới như một phương sách của quản lý hiệu quả. KSNB được thiết kế và vận hành nhằm trợ giúp cho nhà quản lý đạt được các mục tiêu trong quá trình hoạt động của mỗi tổ chức hay một doanh nghiệp (DN) hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau và đóng góp vào quản trị doanh nghiệp hiệu quả: Ramamoorti (2003), Hermanson and Rittenberg (2003 ([165], [112]); quan hệ KSNB và giám sát rủi ro OECD (2009a, b); Senior Supervisors Group (2009) ([150], [151], [173]). Điều này mang nhiều hàm ý cho những nghiên cứu KSNB theo những hướng khác nhau, đặc biệt là vai trò quan trọng của hoạt động KSNB để quản trị công ty thành công. Ngân hàng thương mại (NHTM) được xem là những DN đặc biệt, kinh doanh tiền tệ và những những dịch vụ có liên quan. Đây là một lĩnh vực hoạt động phức tạp, luôn tiềm ẩn nhửng rủi ro cao tác động tới khả năng sử dụng nguồn lực tối ưu - hiệu quả (effeciency) và đạt được mục đích hoạt động - hiệu lực (effectiveness). Trên Thế giới và ở trong nước đã xảy ra những vụ việc phá sản của ngân hàng hoặc thất bại trong kinh doanh của một số ngân hàng thường kéo theo những hệ lụy về kinh tế, chính trị to lớn. Bởi vậy, việc nghiên cứu những tồn tại, đánh giá và tìm hiểu nguyên nhân của những yếu kém trong hoạt động KSNB tại các NHTM có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của các NHTM Việt Nam. Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả chọn Đề tài “Hoàn thiện hoạt động kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại Việt Nam”. 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2.1. Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài có liên quan tới Đề tài nghiên cứu Những nghiên cứu ngoài nước có liên quan tới đề tài theo những hướng phát triển khác nhau: i). Nghiên cứu chung về kiểm soát nội bộ và xây dựng khung kiểm soát: Tiêu biểu trong những nghiên cứu về KSNB nói chung là nghiên cứu của Ủy ban của các tổ chức tài trợ (Committee of Sponsoring Organizations - COSO) thuộc Ủy ban Quốc gia về Chống gian lận trong báo cáo tài chính của Hoa Kỳ (Treadway Commission) được công bố lần đầu tiên vào năm 1992 về “Báo cáo về hệ thống KSNB”*. Theo COSO 1992 [81], KSNB là một quá trình do nhà quản lý, ban giám đốc, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sử đảm bảo hợp lý hướng tới đạt được ba mục tiêu gồm: đảm bảo sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính; đảm bảo tuân thủ luật lệ và quy định. Báo cáo COSO 1992 được tiếp tục hoàn thiện trong vào các năm 2004, 2009, 2013 và 2015. COSO 2013, những thành phần của KSNB không thay đổi so với COSO 1992 [118]. Sự thay đổi đáng kể nhất là việc hệ thống hóa của 17 nguyên tắc nhằm hỗ trợ năm thành phần. Khung COSO 2015 [117] KSNB vẫn được xác lập trên cơ sở những nguyên tắc và thành phần nêu trong Báo cáo COSO 2013 và 1992 nhưng nhấn mạnh hơn vào quản trị rủi ro và quản trị công ty. Những nghiên cứu về KSNB nói chung tiếp tục được thực hiện nhưng trong phạm vi một lĩnh vực hoạt động cụ thể: Gauthier, Stephen J (2006) [101]; Lakis, Vaclovas, Giriunas, Lukas (2012) [131]. D'Aquila, Jill M (2013) [91]. Một số nghiên cứu về thành phần của KSNB: CHENG, Qiang; GOH, Beng Wee; and KIM, Jae Bum (2015), Karen A. Maguire (2014); Popescu, M. Dascalu, A. Bulletin (2012); Millichamp, A.H, (2002); Sultana R and Haque M. E. (2011) ([77], [127], [159], [144], [180]). Ngoài ra, có một số quan điểm về KSNB được công bố bởi Viện Kế toán viên công chứng Canada (Canadian Institute of Chartered Accountants – CICA), Khung kiểm soát (CoCo) vào năm 1995: Khung CobIT không thay thế COSO [73]. Báo cáo Turnbull 1999 ở Anh; Viện Kế toán Mỹ (American Institute of Accountants - AIA) [93]. ii). Vai trò của kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp hoạt động ở một số lĩnh vực khác nhau: KSNB có quan hệ chặt chẽ với quá trình quản trị doanh nghiệp, nó có tác động đến hoạt động phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp và đóng vai trò định hướng thị trường cho sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp: Merchant, K. A (1985), Anthony, R. N và Dearden, J. Bedford (1989) ([140], [52]); Quan hệ chặt chẽ giữa quản trị rủi ro với KSNB: Laura F. Spira và Micheal Page (2002) [132]; Faudizah, Hasnah và Muhamad (2005) [96]; Robert R. Moller (2005) [169]. nghiên cứu của Alvin A. Arens và James Loebeke (2000), Robert R. Moller (2005) ([169], [50]); Tác động của KSNB tới hiệu quả và hiệu lực: Salehi et al. (2013), Srisawangwong and et al. (2015) ([170], [179]), Michael Ramos (2008) [142]. Trong lĩnh vực ngân hàng, KSNB cũng được thực hiện với những nghiên cứu phủ rộng: Salehi, Mahdi; * Thường được gọi là Khung kiểm soát nội bộ COSO - COSO Framework 2 Shiri, Mahmoud Mousavi; Ehsanpour, Fatemeh (2013) [170]; và mố số khía cạnh khác liên quan: Srisawangwong, Papapit; Ussahawanitchakit, Phaprukbaramee (2015) [179]; Qiang Cheng et al. (2015) [77]; Tseng, C.Y (2007); Chirwa, E.W (2003); Greenley, O.E. and Foxall, G.R (1997) ([186], [79], [106]). IFAC (2012a) [120]. iii). Chất lượng hoạt động kiểm soát nội bộ: Công bố về những khiếm khuyến của hoạt động KSNB trở thành nhu cầu cần thiết được đề cập tới lần đầu tiên trong Đạo luật Sabarnes Oxley 2002, Phần 404 [171]. Những nghiên cứu đầu tiên ở trên phạm vi rộng như: Ashbaugh-Skaife et al. (2007); Bryan and Lilien (2005); Doyle et al. (2007b); Gee and McVay (2005) ([54], [70], [92], [102]). Kết quả nghiên cứu từ việc kiểm tra tác động của chất lượng hoạt động KSNB của các tác giả như: Ashbaugh-Skaife et al. (2009); Ogneva et al. (2007), Ettredge et al. (2006); Hogan and Wilkins, 2008; Raghunandan and Rama (2006) ([54], [152]) và chi phí kiểm toán ([94], [114]); Hogan and Wilkins (2008); Krishnan (2005); Tang and Xu (2007); Mei Feng, Chan Li and Sarah McVay (2009), ([54], [130], [182], [139]). iv). Phương thức đánh giá kiểm soát nội bộ: Nghiên cứu về bản chất của KSNB còn xuất hiện những trường phái khác trên cơ sở cách thức tiếp cận khác nhau: Heier, Dugan and Sayers (2005) [111]; Dưới góc độ cho kiểm toán báo cáo tài chính: Ashton (1984) [56]; Onumah et al. (2012) [153]. Đối với việc đánh giá hiệu quả của KSNB trong tổ chức: COSO 1992 đã đề cập tới việc đánh giá KSNB trong quan hệ với đặc tính của KSNB hiệu lực và cho rằng đánh giá là một phần của Khung kiểm soát; Khung COSO 2013 yêu cầu (i) một trong năm thành phần và 17 nguyên tắc có liên quan cùng tồn tại và hoạt động liên tục; (ii) năm thành phần phải hoạt động cùng nhau trong một tổng thể. Đối với KSNB hiệu lực, Basel cũng cho rằng, hiệu lực của hoạt động KSNB trong các tổ chức tín dụng liên quan tới việc thiết kế và vận hành đầy đủ, liên tục của 13 nguyên tắc được nhóm theo 5 nhóm nhân tố tương ứng. v). Nghiên cứu kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng: Không có nhiều những công trình nghiên cứu về kiểm soát nội bộ trong ngân hàng trên thế giới, đặc biệt là dưới góc độ đánh giá hoạt động KSNB: Xiaoli Liao, Tongjian Zhang và Mingxing Li (2011) [190]; Nitu (2002), Nagy (2005) ([148], [147]; Theofanis Karagiorgos, George Drogalas và Alexandra Dimou (2010) [184]. 2.2. Những nghiên cứu trong nƣớc có liên quan Nghiên cứu chung về KSNB trong tổ chức khác ngoài NHTM: Ngô Trí Tuệ và các công sự (2004) [44]; Nghiên cứu của tác giả Phạm Bình Ngọ (2011), Bùi Thị Minh Hải (2012), Nguyễn Thị Lan Anh (2014 ([39], [9], [2]). Một số nghiên cứu trong nước cũng được thực hiện theo những khía cạnh cụ thể của KSNB: Phan Trung Kiên và cộng sự (2012) [15]. Nguyễn Tố Tâm (2014) [39]. 2.3. Kết luận về khoảng trống nghiên cứu Tác giả nhận thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp về cách thức đánh giá và đánh giá thực trạng các yếu tố cấu thành KSNB trong các NHTM của Việt Nam và xác định đây chính là khoảng trống nghiên cứu cho Luận án. 3. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của Luận án là hệ thống hóa những quan điểm, phát triển lý luận về KSNB và xây dựng khung đánh giá thực trạng hoạt động KSNB trong các NHTM Việt Nam theo các yếu tố cấu thành. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu của Luận án Đối tượng nghiên cứu của Luận án là thực trạng của các yếu tố cấu thành (theo nhóm những yếu tố cấu thành) KSNB tại các NHTM Việt Nam. Việc phân chia các yếu tố cấu thành KSNB thành các nhóm yếu tố và thực hiện nghiên cứu dựa trên Khung KSNB theo quan điểm COSO, trên cơ sở đặc thù của NHTM, Tuyên bố Basel I, II, III. 4.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận án Giới hạn phạm vi nghiên cứu của Đề tài là nghiên cứu về hoạt động KSNB trong các NHTM Việt Nam. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận án sử dụng tổng hợp một số phương pháp khác nhau trong quá trình giải quyết các mục tiêu nghiên cứu. Những phương pháp sử dụng gồm: Phương pháp so sánh với tiêu chuẩn (benchmarking); Phương pháp nghiên cứu tình huống; Phương pháp phân tích. Để thực hiện mục tiêu, tác giả sử dụng Khung nghiên cứu dưới đây: 3 Tác giả sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu qua phỏng vấn các kiểm toán viên nội bộ trong NHTM là chủ yếu, sau đó thực hiện phân tích và biểu diễn biểu đồ minh họa cho phân tích (chi tiết trong Phụ lục). Phan Trung Kiên và cộng sự (2012, 2017), việc thực hiện đánh giá hiệu lực kiểm soát nội bộ trở thành một nội dung quan trọng trong kiểm toán nội bộ tại các NHTM Việt Nam ([15], [13]). Hơn nữa, kiểm toán nội bộ được tổ chức ở tất cả các NHTM Việt Nam. Điều này cho phép thực hiện khảo sát trên diện rộng đối với các NHTM Việt Nam. Tác giả nghiên cứu về thực trạng KSNB của các NHTM Việt Nam và giai đoạn nghiên cứu từ 2013-2016. Một số nội dung được thực hiện nghiên cứu trong thời gian đầu của năm 2017. Tính tới cuối 2016, NHTM Việt Nam được xác định khảo sát gồm 34 ngân hàng. Trong nghiên cứu của mình, tác giả lựa chọn cách thức phân loại dựa trên vốn điều lệ đối với 34 NHTM để phục vụ cho nghiên cứu (Bảng 1). Bảng 1: Phân loại và thống kê số lƣợng ngân hàng theo vốn điều lệ TT Tên nhóm Tiêu chí phân loại Số lƣợng 1). Nhóm 1 Vốn điều lệ từ 20.000 tỷ 4 2). Nhóm 2 Vốn điều lệ từ 5.000 tỷ tới 20.000 tỷ 14 3). Nhóm 3 Vốn điều lệ dưới 5.000 tỷ 16 Tổng cộng 34 (Nguồn: Tác giả thống kê và phân loại trên cơ sở vốn điều lệ của 34 NHTM Việt Nam công bố, dựa trên Báo cáo của NHNN) Tác giả thực hiện khảo sát về các yếu tố của KSNB của các NHTM Việt Nam theo bộ câu hỏi chia thành 5 nhóm yếu tố tương ứng với các yếu tố cấu thành KSNB theo Khung COSO. Phản hồi “Hoàn toàn không hiệu lực” thể hiện yếu tố kiểm soát đó không được thực hiện. Khi một yếu tố kiểm soát cụ thể được thực hiện, những phản hồi thể hiện mức độ hiệu lực của yếu tố đó trên cơ sở thang đo likert từ 1 tới 5, trong đó mức 1 tương ứng với “Hoàn toàn không hiệu lực” - yếu tố kiểm soát không tồn tại, 2 tương ứng với “Không hiệu lực”, 3 với ý nghĩa “Có thể hiệu lực”, 4 với ý nghĩa “Khá hiệu lực” và 5 với ý nghĩa “Hoàn toàn hiệu lực”. Việc phản hồi của người được hỏi từ 2 tới 5 thể hiện yếu tố kiểm soát đó được thực hiện hoặc được áp dụng trong ngân hàng. Một khía cạnh quan trọng là những phản hồi thể hiện sự tồn tại hoặc sử dụng những yếu tố kiểm soát không dẫn tới kết luận là KSNB hiệu lực. Những phản hồi từ 2 tới 5 cho thấy khả năng đóng góp hướng tới hiệu lực của KSNB trong các NHTM. Tác giả thực hiện đánh giá KSNB theo nhóm NHTM đã nêu và so sánh kết quả đánh giá đó để thấy được sự khác biệt. Bảng 2 cho thấy kinh nghiệm của kiểm toán nội bộ và kế toán công chứng (liên hệ với Bảng 3) làm tăng độ tin cậy của thông tin phản hồi cũng như những phát hiện mang tính ổn định đối với KSNB. KHUNG KSNB THEO COSO KHUNG KSNB VÀ ĐÁNH GIÁ KSNB ÁP DỤNG CHO NHTM ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KSNB NHTM VIỆT NAM: 5 YẾU TỐ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Tuyên bố Basel Đặc điểm hoạt động của NHTM Hình 1: Khung nghiên cứu của Luận án 4 Bảng 2: Số năm kinh nghiệm của kiểm toán viên đƣợc phỏng vấn và phản hồi TT Số năm kinh nghiệm Số lƣợng phản hồi Tỉ lệ % 1. Dưới 3 6 6% 2. Từ 3-5 15 16% 3. Từ 5-10 30 32% 4. Trên 10 21 23% 5. Không 21 23% Tổng cộng 93 100% (Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ kết quả điều tra) Bảng 3 dưới đây tóm lược phản hồi về chất lượng đào tạo của những đối tượng phản hồi. Bảng 3. Tổng hợp thông tin về năng lực, trình độ đào tạo của đối tƣợng đƣợc phỏng vấn và phản hồi TT Chứng chỉ nghề nghiệp Số lƣợng phản hồi Tỷ lệ % so với 93 1. CIA hoặc tương đương 18 19% 2. Chứng chỉ kiểm toán viên NN 0 0% 3. Chứng chỉ về đánh giá kiểm soát 9 10% 4. Kiểm toán thông tin 6 6% 5. Kiểm toán viên hành nghề 57 61% 6. Chứng chỉ kế toán quản trị 3 3% 7. Chứng chỉ điều tra gian lận 3 3% 8. Kế toán viên hành nghề 0 0% 9. Kế toán viên công chứng 0 0% 10. Không có chứng chỉ 12 13% 11. Khác (Ví dụ, có bằng đại học liên quan) 15 16% Tổng cộng 123 (Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ kết quả điều tra) Bảng 4 tổng hợp phản hồi theo năm kinh nghiệm kết hợp với quá trình đào tạo của KTV. Bảng 4. Tổng hợp phản hồi theo năm kinh nghiệm kết hợp với đào tạo của đối tƣợng đƣợc phỏng vấn S ố n ă m k in h n g h iệm C IA h o ặ c tƣ ơ n g đ ƣ ơ n g C h ứ n g c h ỉ k iể m to á n v iê n N N C h ứ n g c h ỉ v ề đ á n h g iá k iể m s o á t K iể m t o á n t h ô n g ti n K iể m t o á n v iê n h à n h n g h ề K iể m t o á n v iê n h à n h n g h ề C h ứ n g c h ỉ đ iề u t ra g ia n l ậ n K ế to á n v iê n h à n h n g h ề K ế to á n v iê n c ô n g ch ứ n g K h ô n g c ó c h ứ n g ch ỉ K h á c (B ằ n g đ ạ i h ọ c li ên q u a n ) T ổ n g Từ 5-10 12 0 3 3 18 0 3 0 0 3 6 30 Trên 10 3 0 3 3 12 3 0 0 0 0 6 21 Không 0 0 0 0 21 0 0 0 0 0 0 21 Từ 3-5 3 0 0 0 6 0 0 0 0 3 3 15 Dưới 3 0 0 0 0 0 0 0 0 0 6 0 6 Tổng 18 0 6 6 57 3 3 0 0 12 15 93 (Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ kết quả điều tra) 5 6. Ý nghĩa của Đề tài Luận án Đề tài phát triển lý luận của KSNB dựa trên Khung COSO cho NHTM, Tuyên bố Basel: Phát triển cơ sở cho thiết kế KSNB hiệu lực và xây dựng cách thức đánh giá hoạt động KSNB trong các ngân hàng giúp cho nhà quản trị có thể đánh giá và hoàn thiện những khiếm khuyết của hoạt động KSNB của các NHTM Việt Nam. 7. Kết cấu của Luận án: Kết cấu của Luận án gồm 3 chương. CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1. Kiểm soát nội bộ và quản trị doanh nghiệp 1.1.1. Kiểm soát nội bộ trong quản trị công ty Theo nghiên cứu đã công bố của các tác giả Zanetos (1964), Lee (1971), những khái nhiệm về quản trị (governance) và kiểm soát nội bộ (internal control) không phải mang những ý nghĩa mới ([192], [134]). KSNB tồn tại và phát triển từ rất sớm và khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa quản trị công ty và KSNB: Lee (1971) [134], Ramamoorti (2003) [165]. Những nghiên cứu tiếp theo khẳng định mối quan hệ khăng khít giữa quản trị với KSNB, yêu cầu cải thiện quản trị và sự trợ giúp của KSNB trong DN: Fama & Jensen (1983) [126]. Lý thuyết của Adam Smith (1776) cũng gián tiếp khẳng định vai trò của KSNB [1]; Cải thiện quản trị công ty liên quan tới KSNB theo cách mà những mục tiêu nhà quản trị hướng tới: Bhasa (2004), Schachler, Juleff, & Paton (2007), Đạo luật Cadbury 1992 tại Vương quốc Anh [172]. OECD (1999), Lazarides and Drimpetas (2008) [133]. Những nghiên cứu thực nghiệm khác tiếp tục khẳng định sự thay đổi của KSNB tác động vào hiệu lực quản trị công ty: Hermanson và Rittenberg (2003), Power (1997) [160]. Nghiên cứu sự chi phối của những nguyên tắc tới quản trị công ty, từ đó tác động tới KSNB: Vinten (2003); Yakhou & Dorweiler (2004); Tackett, Wolf, & Claypool (2004) ([188], [191], [181]); Đạo luật Sarbanes Oxley† được thông qua tác động tới những nguyên tắc quản trị công ty tại những công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán New York. Các nghiên cứu cho thấy tác động của môi trường vào quản trị công ty và tác động tới KSNB của DN: OECD (2009a, b); Birkenshaw & Jenkins (2009); Senior Supervisors Group (2009) ([150], [151], [66], [173]); William (1985)[189]; Apostolou, Hassell, & Webber (2001); Radin (2008) ([161], [53]); Hermanson & Rittenberg (2003 [112]; Power (2007) [160]. Maijooor (2000); Power (1997); Spira và Page (2003) ([137], [160], [178]). COSO (2004) [160]. Trong bất cứ hoạt động của tổ chức, một số dạng của hoạt động kiểm soát phải tồn tại để quản lý những vấn đề nêu trên khi chúng xảy ra và đảm bảo những hành vi cá nhân phù hợp với những tiêu chuẩn của tổ chức hoặc nhóm đã thiết lập: Simons, (1991) [176]. Tannenbaum (1968), [183]. Sự cần thiết của các hệ thống kiểm soát và hoạt động KSNB có thể được giải thích đơn giản là sự cần thiết cho tập trung (convergence), thống nhất (congruence) và phù hợp (comformity). 1.1.2. Bản chất của kiểm soát nội bộ Merchant and Otley in Chapman, Hopwoodm and Shields, eds. (2007); Power (2007), khái niệm kiểm soát nằm ở trung tâm trong những lĩnh vực nghiên cứu học thuật về những khía cạnh liên quan như tổ chức, kiểm soát quản lý, kế toán quản trị và kiểm toán [46]. Maijoor (2000), khái niệm kiểm soát có những điểm trùng lặp trong các khái niệm khác nhau (nhưng phần khác biệt được phân chia thành những khu vực nghiên cứu tiếp cận tương đối [160]. Tannenbaum (1968) đề cập tới hoạt động kiểm soát như bất cứ quá trình nào trong đó một cá nhân hoặc một nhóm hoặc tổ chức của các các nhân xác định những ảnh hưởng nội bộ, những hành vi của cá nhân trong nhóm hoặc tổ chức [183]. Mintzberg (1983) đề cập tới những mức độ của “sức mạnh” như là phương tiện hoặc hệ thống những ảnh hưởng [145]. Dưới góc độ tiếp cận của kế toán và kiểm toán, khái niệm hoạt động KSNB được phát triển cùng với lý thuyết và thực hành kế toán, kiểm toán và những mục tiêu được công bố - theo nghiên cứu của Brown (1962) [68]. Lee (1988) cho rằng với cách hiểu mang tính truyền thống, hoạt động KSNB được coi như phương tiện đảm bảo độ những thủ tục ghi chép tin cậy cũng như là cách bảo vệ và phát hiện những hành vi gian lận [135]. Hay (1993), những tranh luận về khái niệm hoạt động KSNB tiếp tục diễn ra và những khái niệm chính thức tiếp tục được chứng minh theo những quan điểm không thống nhất [110]. Năm 1992, COSO (1992) KSNB được xem là “một quá trình, chịu ảnh hưởng bởi hội đồng giám đốc, nhà quản trị và cá nhân khác, được thiết kế để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý theo những mục tiêu gồm: Hiệu lực và
Luận văn liên quan