hế giới quan, nhân sinh quan Theo định nghĩa của từ điển Bách khoa toàn thư, thế giới quan (worldview) là hệ thống những quan niệm, quan điểm của con người về thế giới và về địa vị của con người trong thế giới. Thế giới quan bao gồm vũ trụ quan (hệ thống những quan niệm chung nhất của con người về vũ trụ) và nhân sinh quan (hệ thống những quan niệm chung nhất của con người về xã hội và cuộc đời). Căn cứ trên sự phân chia thế giới thành giới tự nhiên và xã hội, người ta chia thế giới quan thành vũ trụ quan và nhân sinh quan [87]. Trong đó, vũ trụ quan là khái niệm dùng để chỉ quan niệm của con người về không gian và thời gian. Theo đó, khi nói đến vũ trụ quan là nói đến sự thay đổi của đất trời, vạn vật, là quan niệm của con người về những gì diễn ra trong vũ trụ và vạn vật. Hiểu về vũ trụ quan là hiểu được vị trí của con người đối với vạn vật, từ đó ảnh hưởng đến quan niệm của con người về nhân sinh quan. Nhân sinh quan là từ Hán - Việt, trong đó: nhân mang nghĩa là con người, còn sinh là sự sống. Chúng ta có thể dịch nghĩa nhân sinh chính là sự sống hay cuộc sống của con người. Hay nói cách khác, nhân sinh quan là quan niệm về cuộc đời con người ở thế giới bên này và ở cả thế giới bên kia, tức cuộc sống sau cái chết. Nó phản ánh nội tâm con người với các sự vật hiện tượng bên ngoài cái tôi (bản ngã). Trong mối quan hệ ấy, sự cảm nhận về thế giới bao gồm các ý niệm, tín niệm, cách thức cảm nhận, ý thức về sự biến đổi của hiện thực luôn chiếm vị trí quan trọng. Như vậy, chúng ta có thể hiểu nhân sinh quan là cái nhìn về cuộc sống của con người, là những quan điểm về triết lý sống, lý tưởng sống, mục đích sống của con người. Nhân sinh quan có thể được lập thành một hệ thống, bởi nó đề cập đến nhiều vấn đề. Những vấn đề này đặt trong một xã hội, chúng có sự liên kết, tác động qua lại với nhau.
Trong luận án, từ những thực hành văn hoá ẩm thực ở phạm vi gia đình và ẩm thực nghi lễ, chúng tôi nhận thấy ẩm thực của người Chăm Ahiér phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan của nhóm Chăm này (biểu hiện trong cấu trúc nhị nguyên, quan niệm âm dương lưỡng hợp và các biểu tượng). Mỗi tên gọi, hình dạng vật lý, màu sắc và số lượng các loại lễ vật đều thể hiện đều thể hiện những mong cầu về một cuộc sống sung túc, hạnh phúc, bình an dù là ở cuộc sống trần gian hay sau cái chết.
209 trang |
Chia sẻ: Đào Thiềm | Ngày: 07/01/2025 | Lượt xem: 147 | Lượt tải: 1
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Văn hóa ẩm thực của người Chăm Ahiér ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THÁI
VĂN HÓA ẨM THỰC CỦA NGƯỜI CHĂM AHIÉR
Ở HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2023
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THÁI
VĂN HÓA ẨM THỰC CỦA NGƯỜI CHĂM AHIÉR
Ở HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
Ngành: Văn hóa học
Mã số: 9 22 90 40
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Vương Xuân Tình
HÀ NỘI - 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, chưa từng được công bố trong
các công trình nghiên cứu nào khác. Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi
trước đã được tiếp thu chân thực, cẩn trọng trong luận án.
Tác giả luận án
Trần Thị Thái
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU .......................................................... 11
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................... 11
1.1.1 Nghiên cứu ẩm thực từ góc độ chức năng luận ............................. 11
1.1.2 Nghiên cứu ẩm thực từ góc độ cấu trúc luận ................................. 20
1.1.3 Nghiên cứu ẩm thực từ góc độ phát triển ...................................... 26
1.2. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu ............................................. 33
1.3. Cơ sở lý luận ........................................................................................... 34
1.3.1. Khái niệm ...................................................................................... 34
1.3.2. Cơ sở lý thuyết .............................................................................. 36
1.4 Địa bàn nghiên cứu ................................................................................. 40
1.4.1 Đặc điểm tự nhiên .......................................................................... 40
1.4.2 Đặc điểm kinh tế ............................................................................ 42
1.4.3 Đặc điểm văn hóa-xã hội ............................................................... 45
Tiểu kết Chương 1 ......................................................................................... 49
Chương 2: ẨM THỰC TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NGÀY ............ 50
2.1. Cơ cấu bữa ăn ......................................................................................... 50
2.2 Chuẩn bị bữa ăn ...................................................................................... 63
2.3 Tổ chức bữa ăn ........................................................................................ 67
2.4 Những kiêng cữ trong ăn uống thường ngày ........................................ 71
2.5 Ăn uống ở bên ngoài gia đình ................................................................ 74
Tiểu kết Chương 2 ......................................................................................... 79
Chương 3: ẨM THỰC TRONG NGHI LỄ ............................................... 80
3.1 Ẩm thực trong nghi lễ Rija Nâgar ......................................................... 80
3.1.1 Cơ cấu lễ vật ................................................................................... 80
3.1.2 Tổ chức và chuẩn bị ....................................................................... 84
3.2. Ẩm thực trong lễ hội Kate ..................................................................... 86
3.2.1 Cơ cấu lễ vật ................................................................................... 86
3.2.2 Tổ chức và chuẩn bị ....................................................................... 91
3.3 Ẩm thực trong lễ cưới ............................................................................. 95
3.3.1 Cơ cấu lễ vật ................................................................................... 95
3.3.2 Tổ chức và chuẩn bị ....................................................................... 99
3.4 Ẩm thực trong nghi lễ hỏa táng .......................................................... 103
3.4.1 Cơ cấu lễ vật ................................................................................ 103
3.4.2 Tổ chức và chuẩn bị ..................................................................... 111
3.5 Những kiêng kỵ trong việc lựa chọn thực phẩm dâng cúng ............ 115
Tiểu kết Chương 3 ....................................................................................... 119
Chương 4: VĂN HÓA CỦA NGƯỜI CHĂM AHIÉR QUA ẨM
THỰC VÀ MỘT SỐ BÀN LUẬN ............................................................. 120
4.1 Vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Chăm Ahiér thể hiện
qua ẩm thực ................................................................................................. 120
4.1.1 Quan niệm tư duy lưỡng hợp ....................................................... 120
4.1.2 Tính biểu tượng ............................................................................ 125
4.2 Ẩm thực thể hiện quan hệ xã hội của người Chăm Ahiér ................. 133
4.2.1 Vị thế xã hội ................................................................................. 133
4.2.2 Quan hệ giới ................................................................................. 141
Tiểu kết Chương 4 ....................................................................................... 150
KẾT LUẬN .................................................................................................. 151
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ...................... 155
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 156
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong ngôn ngữ Chăm, bên cạnh từ “yêu” (anit) thì từ “ăn” (mbang) cũng có
tần suất rất cao khi biểu đạt. Lúc đói, người Chăm nói Mbang owk bbang lipa -
Ăn đói ăn khát, ăn để cầm hơi. Nhà nghèo, khách đến nhà không có món cao
sang thì bảo Mbang mưthin mbang xara: Ăn mắm, ăn muối, lấy thảo. Lúc có
món ăn thật ngon thì nói Mbang jan gok jan glah - Ăn đập nồi đập niêu. Kẻ thấp
hèn đành chấp nhận Mbang lisei hok kamang jruh- Ăn cơm vãi, cơm thừa canh
cặn. Người có chữ nghĩa, kẻ sang lại được Mbang ngok dok dahlau - Ăn trên
ngồi trước [53, tr 9,10]. Người Việt cũng có những đúc kết đa dạng về việc ăn
uống như “Ăn vóc học hay”, “Ăn để mà sống chứ không phải ai sống để mà ăn”,
“Miếng ăn quá khẩu thành tàn”, “Ăn có mời, làm có khiến”[7], [77], [116].
Như vậy, có thể thấy ở mọi thời đại, mọi dân tộc việc ăn uống đều có ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với đời sống con người. Việc ăn uống không chỉ là
hoạt động mang tính sinh học nhằm duy trì sự sống mà còn thể hiện văn hóa của
một tộc người hay cộng đồng xã hội khác. Đặc trưng của các món ăn được tạo
nên từ những điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội. Qua các món ăn chúng ta có thể
hiểu được tập quán, cung cách ứng xử của con người với môi trường; thậm chí
thân phận hay địa vị của con người cũng được thể hiện qua ăn uống. Như vậy,
ẩm thực không chỉ mang khía cạnh vật chất mà còn mang ý nghĩa tinh thần,
được coi là một thành tố quan trọng tạo nên bản sắc tộc người.
Theo thống kê của UBDT và TCTK, năm 2019, người Chăm ở Ninh Thuận
có dân số 67.517 người, đông nhất so với cả nước. Chăm Ahiér (còn gọi là
Chăm Bà la môn) là một trong ba nhóm Chăm ở Ninh Thuận, ra đời vào giữa
Thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Đây là nhóm Chăm chiếm số đông
trong dân số của người Chăm ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận so với các
tín đồ tôn giáo khác1. Họ được nhận diện là cộng đồng Ahiér qua hình thức của
1
Người Chăm ở Ninh Thuận được chia thành ba nhóm chính, phân loại theo tín ngưỡng tôn giáo: Chăm
Ahiér (thường gọi là Chăm Bà la môn) - cộng đồng Chăm theo tín ngưỡng bản địa pha trộn với một vài yếu
2
lễ tang: “khi chết làm đám thiêu” [2], [8],[17], [27]. Họ thờ cúng tổ tiên (muk
key, trauk patra), xây dựng đền tháp để thờ vua thần và các vị anh hùng dân tộc,
danh nhân văn hóa. Về đời sống tinh thần, người Chăm Ahiér có hệ thống nghi
lễ vô cùng phong phú. Ở mỗi giai đoạn trong nghi lễ của người Chăm có những
nghi thức khác nhau và lễ vật được chuẩn bị cho các nghi lễ vào giai đoạn đó
cũng có những sự khác biệt. Các vật phẩm dâng cúng cho đến đồ ăn thức uống
không chỉ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đơn thuần của con người mà còn hàm
chứa nhiều giá trị văn hóa, phản ánh thế giới quan và cấu trúc xã hội của tộc
người Chăm.
Trong bức tranh chung của mỗi tộc người, ẩm thực luôn được xem là
thành tố quan trọng thể hiện rõ điều kiện tự nhiên, sự thích ứng của con người
với tự nhiên và chứa đựng nhiều khía cạnh đáng quan tâm của sự biểu đạt và
kiến tạo văn hoá. Vì vậy, ẩm thực luôn là chủ đề thu hút được sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu. Người Chăm là một trong những dân tộc luôn dành được sự quan
tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều khía cạnh khác nhau của người Chăm và
văn hóa Chăm như lịch sử tộc người, sự phân bố dân cư, dân số học tộc người, quan
hệ hôn nhân, quan hệ xã hội, quan hệ tộc người, tập tục, lối sống, tôn giáo tín
ngưỡng, đã được đề cập và đào sâu. Tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện tại, chưa có
một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu chuyên sâu về ẩm thực Chăm dưới góc
nhìn văn hoá học, coi ẩm thực như là tấm gương phản chiếu văn hoá xã hội của tộc
người. Đề tài luận án “Văn hóa ẩm thực của người Chăm Ahiér ở huyện Ninh Phước,
tỉnh Ninh Thuận” được tác giả lựa chọn thực hiện nhằm hướng đến việc bổ khuyết
các khoảng trống này, cả về hướng tiếp cận các thực hành ẩm thực cũng như tìm
những diễn giải phù hợp về sự hiện diện của các thực hành văn hoá trong đời sống
của người Chăm tại Ninh Thuận. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm
rõ thêm về văn hoá ẩm thực Chăm trong mối quan hệ với các khía cạnh khác
tố Hindu giáo; Chăm Awal (còn gọi là Chăm Bà ni) - cộng đồng Chăm theo tín ngưỡng bản địa nhưng ảnh
hưởng Islam giáo; và Chăm Islam, là nhóm người Chăm theo Islam giáo chính thống [2], [18], [20], [28],
[79].
3
nhau của văn hoá như cấu trúc xã hội, giới, vũ trụ quan hay thực hành tôn giáo,
tín ngưỡng. Những đóng góp này không chỉ góp thêm nguồn tư liệu khoa học
mới cho các công trình nghiên cứu văn hoá Chăm dưới khía cạnh ẩm thực mà
còn cung cấp một hệ thống luận cứ có giá trị cho việc tham khảo để thực hiện
thành công chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị của ẩm thực trong phát
triển kinh tế - xã hội của nhóm Chăm Ahiér tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh
Thuận. Theo đó, luận án cũng góp thêm một nghiên cứu trường hợp cho lĩnh vực
nghiên cứu về văn hoá ẩm thực của ngành nghiên cứu Văn hoá.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu ẩm thực của người Chăm
Ahiér để hiểu về các khía cạnh văn hoá, xã hội của tộc người, như các vấn đề về
thế giới quan, nhân sinh quan và quan hệ xã hội. Với mục đích như vậy, đề tài sẽ
tập trung giải quyết hai câu hỏi chính sau:
-Thực hành văn hoá ẩm thực trong đời sống thường ngày và trong nghi lễ
của người Chăm Ahiér diễn ra như thế nào?
- Các thực hành văn hoá ẩm thực đó phản ánh gì về vũ trụ quan, nhân sinh
quan và quan hệ xã hội của người Chăm Ahiér?
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, luận án đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tổng hợp, phân tích tài liệu thành văn có liên quan đến chủ đề nghiên
cứu. Trên cơ sở đó tổng quan tài liệu và xác định cơ sở lý thuyết làm định hướng
cho luận án, lựa chọn phương pháp phù hợp với đề tài nghiên cứu.
- Mô tả và phân tích các thực hành văn hoá ẩm thực của người Chăm
Ahiér trong đời sống hàng ngày và trong nghi lễ.
- Phân tích, các đặc điểm về vũ trụ quan, nhân sinh quan và quan hệ xã hội
của người Chăm Ahiér thông qua các thực hành văn hóa ẩm thực.
- Trao đổi, bàn luận về văn hoá Chăm qua các yếu tố được lưu giữ trong ẩm
thực của dân tộc này.
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài “Văn hoá ẩm thực của người Chăm Ahiér ở huyện Ninh Phước,
Ninh Thuận”, đối tượng nghiên cứu được luận án xác định là ẩm thực trong đời
sống thường ngày và trong nghi lễ của người Chăm Ahiér ở huyện Ninh Phước,
tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn hiện nay. Đề tài tập trung vào các vấn đề như cơ
cấu và chuẩn bị bữa ăn và lễ vật, tổ chức ăn uống, các kiêng kỵ và những bối
cảnh của người thực hành.
Luận án lựa chọn đối tượng nghiên cứu chính là vai trò của ẩm thực trong
đời sống thường ngày và trong nghi lễ của người Chăm Ahiér tại Ninh Thuận.
Do vậy những kết luận của luận án tương ứng với đặc điểm của vùng văn hoá
Chăm tại đây. Các tài liệu khảo sát, điền dã, thu thập đều diễn ra trong đời sống
xã hội đương đại.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Văn hoá ẩm thực là khái niệm rộng. Vì vậy, trong đề tài
này, tác giả giới hạn nghiên cứu trong việc tập trung khảo sát các thực hành ẩm
thực trong bữa ăn thường ngày tại gia đình và ẩm thực trong nghi lễ. Đối với ẩm
thực trong đời sống thường ngày, tác giả giới hạn trong việc mô tả cơ cấu, chuẩn
bị, tổ chức bữa ăn và những kiêng kỵ trong ăn uống. Bên cạnh đó, việc mô tả các
bữa ăn bên ngoài gia đình như một hình thức mở rộng của bữa ăn hằng ngày
cũng được quan tâm trong luận án. Đối với thực hành ẩm thực trong các nghi lễ,
tác giả chú trọng đến ẩm thực trong một số nghi lễ lịch tiết và vòng đời quan
trọng của người Chăm Ahiér như lễ năm mới Rija Nưgar, lễ hội Kate, lễ cưới và lễ
hoả táng. So với các nghi lễ khác, đây là những nghi lễ quan trọng và hiện tại, các
nghi lễ này vẫn được thực hành thường xuyên như một phần của đời sống văn hoá
tinh thần không thể thiếu của người Chăm Ahiér. Các nghi lễ này cũng được tác giả
chú trọng nghiên cứu ở hai vấn đề cơ bản, đó là cơ cấu, chuẩn bị lễ vật và cách tổ
chức ăn uống. Đây là những lĩnh vực mà theo tác giả, sẽ phản ánh rõ thế giới quan,
nhân sinh quan và quan hệ xã hội của người Chăm Ahíer.
Phạm vi không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các thực hành văn hoá
ẩm thực trong cộng đồng người Chăm Ahiér tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh
5
Thuận, tập trung ở làng: Hữu Đức (Hamu Tanran), Bàu Trúc (Hamu Crauk), Mỹ
Nghiệp (Caklaing), Như Bình (Dara). Đây là những làng có cư dân đông đúc và
có bề dày về truyền thống văn hóa.
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu ẩm thực của người Chăm
Ahiér trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó, có những so sánh hồi cố với ẩm
thực truyền thống.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính: điền dã dân tộc học,
phân tích tài liệu thứ cấp và phương pháp chuyên gia. Trong đó, điền dã dân tộc
học là phương pháp được sử dụng chủ đạo.
Điền dã dân tộc học
Thông thường khi chuẩn bị cho một dự án/đề tài nghiên cứu, công việc đầu
tiên của tôi là chuẩn bị các loại công văn, giấy giới thiệu của cơ quan gửi đến các
Ban ngành liên quan ở địa phương để liên hệ công tác. Tuy nhiên, khi chuẩn bị
các chuyến đi thực địa đến cộng đồng Chăm để tìm tư liệu phục vụ cho luận án
tôi đã không đi theo con đường truyền thống này. Với một chút kinh nghiệm được
truyền lại từ một số nhà nghiên cứu đi trước và bản thân mình khi đã thực hiện một
vài đề tài ở vùng đồng bào Chăm, tôi nhận thấy, việc mình cầm một tờ giấy giới
thiệu từ cơ quan chức năng đưa xuống ít nhiều sẽ gặp những e dè, cẩn trọng từ các
thông tín viên. Điều này sẽ dẫn đến việc khai thác thông tin không mấy thuận lợi.
Vì vậy tôi đã chọn con đường đi trực tiếp đến cộng đồng và sử dụng những mối
quan hệ cá nhân sẵn có với một số trí thức Chăm để nhờ họ giới thiệu, tiếp cận với
các thông tín viên. Với cách tiếp cận này, việc khai thác thông tin của tôi diễn ra
thuận lợi hơn.
Quá trình điền dã của tôi được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm
2017-2019. Khoảng thời gian này tôi thường lựa chọn lúc diễn ra các lễ hội trong
cộng đồng, đó là các dịp lễ đầu năm mới (khoảng tháng tư, tháng năm) và dịp lễ
hội Kate (khoảng tháng 9, tháng 10). Sở dĩ các ngày lễ theo các năm không cố
định vì được tính theo tuần trăng của lịch Chăm. Vào những dịp này tôi thường
6
đến các làng Chăm trước khi diễn ra lễ hội với mục đích có thể quan sát và cảm
nhận được không khí của việc chuẩn bị nghi lễ, một việc mà tôi cho là cần thiết
và quan trọng khi nghiên cứu về văn hóa ẩm thực. Đối với các nghi lễ trong gia
đình như nghi lễ cưới và hỏa táng, tôi nhờ các bạn bè Chăm thông báo trước
khoảng 2 đến 3 tuần. Ở các nghi lễ này tôi thường chọn các gia đình là người
quen để được tạo điều kiện trong quá trình điền dã. Do địa bàn nghiên cứu khá
xa (cách thành phố tôi ở khoảng 600 km) nên tôi phải cân đối thời gian dành cho
các chuyến đi vì vẫn phải hoàn thành các công việc ở cơ quan và vai trò một
người phụ nữ phải lo chu toàn việc gia đình. Thời gian dành cho các chuyến điền
dã thường kéo dài ít nhất 15 ngày vào các dịp diễn ra các nghi lễ và lặp lại trong
các năm. Trong thời gian này khi ở lại các làng Chăm, tôi cố gắng kết hợp quan
sát việc ăn uống thường ngày trong gia đình. Địa điểm điền dã của tôi tập trung ở
các làng có người Chăm Ahiér cư trú. Cụ thể là 4 làng: Hữu Đức (Hamu
Tanran), Bàu Trúc (Hamu Crauk), Mỹ Nghiệp (Caklaing), Như Bình (Pdara).
Đây là những làng có bề dày về truyền thống văn hóa, có dân cư đông đúc. Đặc
biệt, Bàu Trúc (Hamu Crauk) - làng gốm và Mỹ Nghiệp (Caklaing) - làng dệt
đều rất nổi tiếng ở Ninh Thuận. Hai làng này thuộc thị trấn Phước Dân, cách
thành phố Phan Rang, Tháp Chàm khoảng 7km, khá thuận lợi cho việc di chuyển
của tôi.
Cũng cần nói thêm rằng, đây là địa bàn quen thuộc với tôi. Trước đó,
khoảng thời gian các năm 2013-2014, tôi đã thực hiện một vài đề tài nghiên cứu
liên quan đến người Chăm và có một vài chuyến điền dã ở đây. Tôi cũng có khá
nhiều bạn bè là người Chăm và cũng đã từng được mời đến gia đình họ chơi
trong các chuyến công tác trước. Bên cạnh đó, tôi cũng đã gặp không ít khó
khăn, khi bản thân là phụ nữ và là người Kinh. Vì vậy tôi đã phải chịu không ít
những định kiến khi muốn tham gia vào các lễ hội hay trực tiếp phỏng vấn các vị
chức sắc và trí thức Chăm. Nguyên nhân chính có lẽ vẫn là những vấn đề liên
quan đến mối quan hệ lịch sử Chăm -Việt trong quá khứ. Ngoài ra, là nhà nghiên
cứu nữ, tôi cũng khó tiếp cận vào khu vực trung tâm diễn ra nghi lễ vì hầu hết
7
các nghi lễ đều diễn ra rất trang nghiêm, phụ trách việc cúng bái chủ yếu là các
vị chức sắc và nam giới, phụ nữ chỉ đứng ở vòng ngoài và đảm nhận các công
việc bếp núc. Điều này cũng giúp cho tôi nhận thấy sự phân biệt rạch ròi về giới
trong hoạt động thực hiện lễ tục của người Chăm. Để khắc phục khó khăn này,
tôi thường đi cùng các nhà nghiên cứu là nam giới, trong đó có cả những nhà
nghiên cứu người nước ngoài - những người đã có thời gian nghiên cứu lâu dài
trong cộng đồng và họ đã tạo được uy tín, mối quan hệ với những người dân bản
địa. Tôi đã nhờ họ quay phim hoặc chụp ảnh giúp. Sau đó, tôi sử dụng những
bức ảnh, những đoạn video được quay tới gặp các vị chức sắc, những người cao
tuổi để hỏi và nhờ họ giải thích rõ hơn về ý nghĩa của các lễ vật. Bên cạnh đó, tôi
cũng tạo được những mối quan hệ với bạn trẻ là các trí thức Chăm, những người
uy tín trong cộng đồng. Qua giới thiệu của họ, tôi đã tiếp cận được các thông tín
viên một cách dễ dàng hơn.
Những người được chúng tôi chọn để phỏng vấn sâu là các nhà quản lý văn
hóa, các vị chức sắc Chăm và những người dân trực tiếp tham gia vào quá trình
thực hành văn hóa. Đối với các nhà quản lý văn hóa, chúng tôi phỏng vấn để thu
thập các thông tin chung về địa bàn nghiên cứu, và đặc biệt là của người Chăm
Ahiér trên các phương diện: tình hình dân số, kinh tế, văn h