Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội ngày một tăng, cũng như để đáp ứng sự
phát triến sản xuất của doanh nghiệp mình, một trong những biện pháp được các nhà
quản lý đặc biệt quan tâm hiện nay là công tác kế toán. Trong đó hạch toán chi phí sản
phẩm và tính giá thành được coi là một khâu trung tâm của công tác kế toán, mở ra
hướng đi hết sức đúng đắn cho các doanh nghiệp. Thực chất chi phí sản xuất là đầu vào
của quá trình sản xuất, do vậy tiết kiệm chi phí sản xuất là hạ giá thành sản phẩm, đồng
thời đảm bảo đầu ra của quá trình sản xuất, do vậy tiết kiệm chi phí là hạ giá thành sản
phẩm, đồng thời đảm bảo đầu ra của quá trình sản xuất , sao cho nó được xã hội chấp
nhận và làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp mình. Hơn nữa, mục đích cuối cùng của
quá trình sản xuất là tạo ra sản phẩm và giá thành sản phẩm chính là chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp, phản ánh chất lượng toàn bộ các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Xuất phát
từ vấn đề đó mức tính gía thành sản phẩm đòi hỏi phải tính đúng, tính đủ chi phí sản
xuất bỏ ra theo đúng chế độ của nhà nước.
Hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, bên cạnh những mặt thuận lợi, cũng
không ít những mặt khó khăn, thách thức đối với doanh nghiệp. Vì vậy, muốn đảm bảo
ưu thế cạnh tranh, thu lợi nhuận cao thì bên cạnh việc sản xuất ra sản phẩm có chất
lượng tốt,mẫu mã đẹp, hợp thị hiếu người tiêu dùng, một yếu tố quan trọng khác là sản
phẩm đó phải có giá thành hạ, phù hợp với sức mua của đa số nhân dân. Đặc biệt trong
ngành xây dựng cơ bản, hạ giá thành sản phẩm đã được đặt ra như một yêu cầu bức
thiết, khách quan nhằm tạo tiền đề cho các ngành sản xuẩt trong nền kinh tế quốc dân
cùng hạ giá thành sản phẩm. Bởi xây dựng cơ bản nhằm trang bị tài sản cố định cho tất
cả các ngành kinh tế quốc dân khác góp phần xây dựng cơ sở vật chát kỹ thuật nâng cao
năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
43 trang |
Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 5338 | Lượt tải: 1
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LUẬN VĂN:
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm
Mở đầu
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội ngày một tăng, cũng như để đáp ứng sự
phát triến sản xuất của doanh nghiệp mình, một trong những biện pháp được các nhà
quản lý đặc biệt quan tâm hiện nay là công tác kế toán. Trong đó hạch toán chi phí sản
phẩm và tính giá thành được coi là một khâu trung tâm của công tác kế toán, mở ra
hướng đi hết sức đúng đắn cho các doanh nghiệp. Thực chất chi phí sản xuất là đầu vào
của quá trình sản xuất, do vậy tiết kiệm chi phí sản xuất là hạ giá thành sản phẩm, đồng
thời đảm bảo đầu ra của quá trình sản xuất, do vậy tiết kiệm chi phí là hạ giá thành sản
phẩm, đồng thời đảm bảo đầu ra của quá trình sản xuất , sao cho nó được xã hội chấp
nhận và làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp mình. Hơn nữa, mục đích cuối cùng của
quá trình sản xuất là tạo ra sản phẩm và giá thành sản phẩm chính là chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp, phản ánh chất lượng toàn bộ các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Xuất phát
từ vấn đề đó mức tính gía thành sản phẩm đòi hỏi phải tính đúng, tính đủ chi phí sản
xuất bỏ ra theo đúng chế độ của nhà nước.
Hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, bên cạnh những mặt thuận lợi, cũng
không ít những mặt khó khăn, thách thức đối với doanh nghiệp. Vì vậy, muốn đảm bảo
ưu thế cạnh tranh, thu lợi nhuận cao thì bên cạnh việc sản xuất ra sản phẩm có chất
lượng tốt,mẫu mã đẹp, hợp thị hiếu người tiêu dùng, một yếu tố quan trọng khác là sản
phẩm đó phải có giá thành hạ, phù hợp với sức mua của đa số nhân dân. Đặc biệt trong
ngành xây dựng cơ bản, hạ giá thành sản phẩm đã được đặt ra như một yêu cầu bức
thiết, khách quan nhằm tạo tiền đề cho các ngành sản xuẩt trong nền kinh tế quốc dân
cùng hạ giá thành sản phẩm. Bởi xây dựng cơ bản nhằm trang bị tài sản cố định cho tất
cả các ngành kinh tế quốc dân khác góp phần xây dựng cơ sở vật chát kỹ thuật nâng cao
năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
Với tất cả các ý nghĩa như vậy, cùng với thời gian thực tập ở công ty xây dựng số
4 chi nhánh Bắc Ninh, em thấy vấn đề chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là
vấn đề nổi bật, cần phải đựoc các nhà quản lý và hạch toán quan tâm. Tuy còn nhiều
thiếu xót và hạn chế, song vốn kiến thức đã được học và tích luỹ trong nhà trường , kết
hợp với các tài liệu đọc thêm , em quyết định đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “ Kế toán
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm “ mong muốn góp phần nhỏ bé
của mình vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.
Bài luận văn ngoài lời nói đầu và phần kết luận còn bao gồm những nội dung
chính sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp xây lắp
Chương 2: Tình hình thực tế tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuấtvà tính giá
thành sản phẩm xây lắp tại Công ty xây dựng số 4 chi nhánh Bắc Ninh
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty xây dựng số 4 chi nhánh Bắc Ninh.
Nội dung
Chương 1
một số vấn đề chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
1.1- Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các daonh nghiệp xây lắp
1.1.1- Khái niệm và phân loại
1.1.1.1- Khái niệm
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
chi phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh trong một kỳ nhất định của Doanh nghiệp xây lắp. Chi phí sản xuất xây lắp cấu
thành sản phẩm xây lắp.
1.1.1.2- Phân loại chi phí sản xuất .
Việc phân loại chi phí sản xuất một cách khoa học và hợp lý có ý nghĩa rất quan
trọng với việc hoạch toán. Mặt khác, nó là tiền đề của việc kiểm tra phân tích, thúc đẩy
việc quản lý chặt chẽ chi phí để hướng tới tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
Trong mỗi doanh nghiệp có các cách phân loại chi phí rất khác nhau. Hiện nay
trong kế toán có những cách phân loại sau:
a) Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí:
Về thực chất chỉ có ba yếu tố chi phí : chi phí về sức lao động, chi phí về đối
tượng lao động và chi phí về tư liệu lao động. Tuy nhiên, để phân tích thông tin về chi
phí cụ thể để từ đó phục vụ cho việc xây dựng định mức vốn lưu động và phân tích các
dự toán chi phí thì các yếu tố trên được chi tiết hoá theo qui định hiện hành của bộ tài
chính toàn bộ chi phí được chia ra làm 7 yếu tố:
- Yếu tố nguyên liệu vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị NVL chính, vật liệu phụ,
phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ sử dụng vào sản xuất thi công xây lắp ( loại trừ giá
trị vật liệu dùng không hết nhập laị kho và phế liệu thu hồi ).
- Yếu tố nhiên liệu, động lực: Sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ
(trừ số dùng không hết nhập laị kho và phế liệu thu hồi ).
- Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương: Bao gồm tổng số tiền lương
và phụ cấp phải trả cho công nhân xây lắp.
- Yếu tố khấu hao tài sản cố định: Tổng số khấu hao TSCĐ trong kỳ của tất cả tài
sản cố định sử dụng trong kỳ.
- Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ: Tính theo tỷ lệ qui định trên tổng số tiền lương và
phụ cấp theo lương.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào
việc sản xuất kinh doanh.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Là những chi phí khác bằng tiền chưa được phản ánh
ở các yếu tố trên.
b) Phân loại chi phí theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Chi phí sản xuất kinh doanh: Bao gồm các chi phí có liên quan tới hoạt động sản
xuất, tiêu thụ và quản lý.
- Chi phí hoạt động tài chính: Là những chi phí liên quan đến hoạt động về vốn cà
đầu tư tài chính.
- Chi phí bất thường: Gồm những chi phí ngoài dự kiến do chủ quan hay khách quan
đưa tới.
c) Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm (theo
công dụng kinh tế).
Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng
đối tượng.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí NVL chính, phụ, nhiên
liệu ... tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất thi công xây lắp, chế tạo sản phẩm hay
thực hiện lao vụ dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lương, phụ cấp theo lương và các khoản
trích theo lương BHXH, BHYT, KPCĐ.
- Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản
xuất (không kể chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp ). Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá
thành sản phẩm toàn bộ sẽ bao gồm chỉ tiêu giá thành sản xuất với khoản mục chi phí
bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Ngoài cách phân loại chủ yếu trên phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý và công
tác kế toán chi phí sản xuất kinh doanh còn có thể được phân loại theo các hình thức
khác nhau như: phân loại chi phí theo chức năng trong sản xuất kinh doanh, cách ứng
xử của chi phí, cách thức kết chuyển chi phí (Chi phí sản phẩm, Chi phí thời kỳ )...
Mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng,phục vụ cho từng yêu cầu
quản lý và từng đối tượng cung cấp thông tin cụ thể nhưng chúng luôn bổ sung cho
nhau nhằm quản lý có hiệu quảnhất toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong toàn doanh
nghiệp trong từng thời kỳ nhất định.
1.1.2- Vị trí vai trò của kế toán tập hợp chi phí san xuất trong các doanh nghipệ xây
lắp
Về mặt lượng , chi phí sản xuất phụ thuộc vào 2 nhân tố chủ yếu :
- Khối lượng lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao vào sản xuất trong một thời
kỳ nhất định .
- Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền công ( tiền lương ) của một đơn vị lao
động đã hao phí .
Quản lý tốt chi phí sản xuất sẽ giúp cho việc tăng cường công tác quản lý , giám
sát hạch toán các loại chi phí , loại trừ chi phí bất hợp lý , tạo điều kiện cho việc tiết
kiệm chi phí , hạ giá thành sản phẩm xây lắp , trên cơ sở đảm bảo cho doanh nghiệp tự
trang trải các khoản chi phí bỏ ra và có lãi .
Trong xây dựng cơ bản thành phần kết cấu chi phí sản xuất không chỉ phụ thuộc
vào tổng số công trình mà còn phụ thuộc vào từng giai đoạn công trình . Đi sâu vào
từng giai đoạn ta có thể thấy :
- Trong thời kỳ khởi công xây lắp , chi phí về tiền lương để sử dụng máy thi công
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí
- Trong thời kỳ tập trung thi công chi phí về nguyên vật liệu lại tăng lên với tỷ trọng
lớn
- Trong thời kỳ hoàn thành công trình , chi phí tiền lương tăng lên .
Mặt khác do quá trình sản xuất lưu động nên phát sinh thêm một số chi phí như
chi phí điều động máy móc thiết bị , nhân công đến nơi thi công kéo theo tiền lương của
bộ phận đảm nhiệm việc di chuyển cũng tăng lên , chi phí tháo lắp chạy thử , chi phí
xây dựng tháo dỡ các công trình tạm , phụ trợ ...
Khi tiến hành xây dựng không phải toàn bộ lực lượng lao động đều trở thành chi
phí mà chỉ có một phần chính là phần tạo ra các sản phẩm cần thiết và được thể hiện
thông qua tiền lương . Phần còn lại sẽ tạo ra sản phẩm thặng dư của doanh nghiệp , lãi
của doanh nghệp phát sinh từ phần này .
1.1.3- Đối tượng chi phí sản xuất.
Để xác định được đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp, cần căn
cứ vào các yếu tố như tính chất sản xuất, loại hình sản xuất và đặc điểm qui trình sản
xuất công nghệ sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất.
Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành,căn cứ vào việc xác định đối tượng tính giá thành,
yêu cầu quản lý, khả năng, trình độ quản lý doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp xây lắp do những đặc điểm về sản phẩm, về tổ chức sản xuất
và công nghệ sản xuất sản phẩm nên đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường được
xác định là từng công trình, hạng mục công trình.
1.1.4- Nội dung, phương pháp kế toán chi phí sản xuất
1.1.3.1- Phương pháp kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621).
a) Tài khoản sử dụng : TK 621 " Chi phí NVLTT " : Tài khoản này để tập hợp
toàn bộ chi phí NVL dùng cho sản xuất, thi công xây lắp, chế tạo sản phẩm phát sinh
trong kỳ, cuối kỳ kết chuyển sang TK 154.
Kết cấu TK 621:
+Bên nợ: Giá thực tế NVL xuất dùng trực tiếp cho sản xuất thi công, xây lắp,
chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ.
+Bên có: - Kết chuyển vào TK 154"Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang"
- Giá thực tế NVL sử dụng không hết nhập lại kho.
TK 621 cuối kỳ không có số dư, TK này có thể mở chi tiết cho từng đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất để phục vụ cho việc tính gía thành cho từng đối tượng tính giá
thành.
b) Kế toán chi phí NVLTT:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí về các loại nguyên vật liệu
chính ( gạch, đá, vôi, cát, sỏi, xi măng, sắt, thép ), nửa thành phẩm ( panen, vật kết
cấu,thiết bị gắn liền với vật kiến trúc ), vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ lao động
thuộc tài sản lưu động.
Chi phí NVL trực tiếp được căn cứ vào các chứng từ xuất kho để tính giá trị thực
tế vật liệu trực tiếp xuất dùng. (Giá hoach toán, Giá thực tế )
Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng nên việc tập hợp chi phí NVL trực tiếp, tức
là NVL chỉ liên quan đến một công trình, một hạng mục công trình, từng hợp đồng hoặc
từng đơn đặt hàng.
1.1.3.2- Phương pháp kế toán chi phí nhân công trực tiếp. (TK 622).
a) Tài khoản sử dụng: TK 622 "Chi phí nhân công trực tiếp" dùng để tập hợp và
kết chuyển số chi phí tiền công của công nhân sản xuất xây lắp trực tiếp ( bao gồm tiền
công, tiền lương, tiền thưởng, và các khoản phải trả có tính chất tiền lương của công
nhân sản xuất xây lắp. Cuối kỳ kết chuyển sang TK 154.
TK 622 "Chi phí nhân công trực tiếp" không phản ánh chi phí trích 19% (BHYT,
BHXH, KPCĐ).
Kết cấu TK 622:
+Bên nợ: Chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ.
+Bên có: Kết chuyển, phân bổ vào TK 154.
TK 622 "Chi phí nhân công trực tiếp" không có số dư.
b) Hoạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công được tính trong giá thành công tác xây lắp bao gồm: Tiền lương
và các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ).
Chứng từ ban đầu để hoạch toán khoản mục nhân công là các bảng chấm công được
lập hàng tháng cho từng đội sản xuất, từng bộ phận sản xuất công tác. Nó cho ta biết rõ
lao động làm việc ngày nào, hưởng lương ngày đó theo mức qui định đối với từng loại
công việc.
Hàng tháng căn cứ vào bảng chấm công, hợp đồng làm khoán và các chứng từ khác
có liên quan, kế toán làm bảng thanh toán lương theo từng tổ, đội sản xuất, các phòng
ban và kiểm tra việc trả lương theo cán bộ công nhân viên. Sau đó kế toán lập bảng
thanh toán lương cho toàn xí nghiệp và làm thủ tục rút tiền gửi về quĩ tiền mặt để trả
lương.
Trong chi phí trực tiếp của công nhân xây lắp không bao gồm các khoản KPCĐ,
BHXH, BHYT.
Để theo dõi các khoản được trích BHXH và chi tiêu quĩ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế, kế toán sử dụng TK 338" Phải trả phải nộp khác".
Trích BHXH, BHYT, KPCĐ hàng tháng cho công nhân xây lắp, công nhân máy thi
công vào chi phí sản xuất.
Nợ TK 627
Có TK 338 (chi tiết 3382, 3383, 3384)
1.1.3.3- Phương pháp kế toán chi phí sử dụng máy thi công (TK 623).
a) Tài khoản sử dụng: TK 623"Chi phí sử dụng máy thi công" dùng để tập hợp và
phân bổ chi phí sử dụng máy phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình.
Tài khoản này chỉ sử dụng trong những DNXL tổ chức thi công xây lắp hỗn hợp
vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy.
Không hoạch toán vào TK 623 chi phí về trích KPCĐ, BHXH, BHYT tính theo
lương công nhân điều khiển máy (hoạch toán vào TK 627).
Kết cấu TK 623:
+Bên nợ: Chi phí sử dụng máy thi công phát sinh trong kỳ (nhiên liệu, tiền
lương, khấu hao, chi phí bảo dưỡng sửa chữa máy thi công ... )
+Bên có: Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào TK 154
TK623 không có số dư.
b) Kế toán chi phí sử dụng máy thi công:
Máy thi công là các loại máy phục vụ trực tiếp cho sản xuất xây lắp như máy trộn bê
tông, cần trục, cần cẩu tháp, máy ủi, máy xúc....
Chi phí sử dụng máy thi công gồm toàn bộ các chi phí về vật tư, lao động, khấu hao
và chi phí bằng tiền trực tiếp cho quá trình sử dụng máy thi công của xí nghiệp. Trong
xây dựng chi phí sử dụng máy thi công được chia làm hai loại (Chi phí tạm thời và chi
phí thường xuyên).
Trong chi phí sử dụng máy thi công không bao gồm các khoản mục sau: lương công
nhân vận chuyển, phân phối vật liệu cho máy ngừng sản xuất, chi phí lắp đặt lần đầu
cho máy, chi phí sử dụng cho sản xuất phụ...
Phương pháp hoạch toán chi phí sử dụng máy thi công tuỳ thuộc vào hình thức quản
lý và sử dụng máy thi công như thế nào của từng doanh nghiệp.
Có hai hình thức SDMTC là tổ chức đội máy thi công riêng và không có đội máy thi
công riêng.
+ Đối với DN có tổ chức đội máy thi công riêng biệt và có phân cấp quản lý để theo
dõi riêng chi phí như một bộ phận sản xuất độc lập. Sản phẩm của bộ máy thi công cung
cấp cho các công trình xây dựng có thể tính theo giá thành sản xuất thực tế hoặc giá
khoán nội bộ.
+ Nếu DN không có tổ chức bộ máy thi công riêng biệt, hoặc có nhưng không phân
cấp thành một bộ phận độc lập và không theo dõi riêng chi phí thì chi phí phát sinh
được tập hợp vào TK 623
1.1.3.4- Phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung (phục vụ trực
tiếp thi công xây lắp ) (TK627).
a) Tài khoản sử dụng: TK 627"Chi phí sản xuất chung" dùng để tập hợp tất cả
các chi phí có liên quan trực tiếp đến việc phục vụ sản xuất thi công, quản lý sản xuất,
chế tạo sản phẩm phát sinh trong kỳ, trong các phân xưởng, các bộ phận, đội sản xuất
thi công xây lắp .
Kết cấu TK 627:
+Bên nợ: Tập hợp các chi phí sản xuất chung phát sinh thuộc phạm vi công
trường, đội xây lắp, phân xưởng sản xuất công trường.
+Bên có: Kết chuyển chi phí SXC đã tập hợp được cho các đối tượng tính giá
thành.
TK 627 không có số dư.
* Chú ý: Theo chế độ hiện hành TK 627 còn phản ánh 19% theo tiền lương của công
nhân xây lắp, công nhân điều khiển máy thi công.
b) Kế toán chi phí sản xuất chung:
Chi phí SXC là các chi phí liên quan đến việc quản lý công trình, trong phạm vi tổ,
đội sản xuất thi công xây lắp bao gồm chi phí về tiền công và các khoản chi phí khác do
nhân viên quản lý phân xưởng , tổ, đội chi phí về vật liệu, dụng cụ dùng cho quản lý các
công trình....
Các khoản chi phí chung thường được hoạch toán riêng theo từng địa điểm phát
sinh chi phí, tổ đội công trình. Sau đó tiến hành phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí
chỉ liên quan đến một công trình, hạng mục công trình sẽ được tập hợp trực tiếp cho
từng công trình, hạng mục công trình đó.
Việc tập hợp, kết chuyển và phân bổ chi phí chung được thực hiện trên TK 62
1.2- Kế toán giá thành sản phẩm
1.2.1- Khái niệm và phân loại
1.2.1.1- khái niệm
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động và
lao động vật hoá để hoàn thành khối lượng sản phẩm xây lắp theo qui định. Sản lượng
sản phẩm xây lắp có thể là công trình, hạng mục công trình, giai đoạn thi công xây lắp
có thiết kế và tính dự toán riêng.
Giá thành hay hạng mục công trình hoặc giá thành công trình hoàn thành toàn bộ là
giá thành sản phẩm cuối cùng của SXXL
1.2.1.2- Các loại giá thành sản phẩm xây lắp
Trong sản xuất xây lắp cần phân biệt các loại giá thành sau: giá thành dự toán, giá
thành kế hoạch và giá thành thực tế.
a) Giá thành dự toán
Do sản phẩm xây dựng có gái trị lớn, thời gian thi công dài và mang tính đơn
chiếc, có kết cấu phức tạp, khối lượng lớn nên công trình, hạng mục công trình đều có
giá trị dự toán riêng.
Căn cứ vào giá trị dự toán của công trình, hạng mục công trình ta có thể xác định
đựoc giá thành dự toán của chúng.
Giá thành Giá trị dự toán Thuế Thu nhập chịu
Dự toán xây lắp sau thuế VAT thuế tính trước
Giá thành dự toán xây lắp sau thuế: Là chi phí cho công tác xây dựng lắp ráp các
kết cấu kiến trúc, lắp đắt máy móc thiết bị sản xuất... giá trị dự toán bao gồm: chi phí
trực tiếp, chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trước và thuế GTGT.
b) Giá thành kế hoạch
Giá thành kế hoạch: Được xác định xuất phát từ những điều kiện cụ thể ở một xí
nghiệp xây lắp nhất định, trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức và đơn giá áp
dụng trong xí nghiệp, Giá thành kế hoạch được xác định như sau
Giá thành
Kế hoạch
Giá thành
Dự toán
Mức hạ giá
Thành dự toán
Khoản bù
Chênh lệch vượt
Dự toán
Giá thành kế hoạch nhỏ hơn giá thành dự toán một lượng bằng mức hạ giá thành dự
toán và lớn hơn gía thành dự toán khoản bù chênh lệch dự toán để trang trải các chi phí
không tính đến trong dự toán.
Khi tính giá thành kế hoạch, việc quan trọng nhất là xác định đúng số tiết kiệm do
hạ giá thành dự toán nhờ các biện pháp kỹ thuật. Bằng cách tính toán có căn cứ kỹ
thuật có thể tổng hợp được hiệu quả kinh tế do các biện pháp mang lại...
c) Giá thành thực tế
Giá thành thực tế: là biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi phí thực tế mà doanh
nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành một đối tượng xây lắp nhất định và được xác
định theo số liệu kế toán cung cấp. Giá thành thực tế công tác xây lắp không chỉ bao
gồm các chi phí trong định mức mà còn có thể bao gồm những chi phí thực tế phát sinh
không cần thiết như: thiệt hại phá đi làm lại, thiệt hại ngừng sản xuất , mất mát hao hụt
vật tư... do những nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp.
Giá thành thực tế phản ánh toàn bộ giá thành thực tế để hoàn thành bàn giao khối
lượng xây lắp mà doanh nghiệp nhận thầu.
Giá thành thực tế không chỉ bao gồm những chi phí định mức mà có thể còn bao
gồm những chi phí thực tế phát sinh như mất mát, bội chi vật tư...do nguyên nhân chủ
quan của doanh nghiệp.
Giữa ba loại giá thành nói trên thường có quan hệ với nhau về lượng như sau:
Giá thành dự toán > Giá thành kế hoạch > Giá thành thực tế.
Việc so sánh các loại giá thành này được dựa trên cùng một đối tượng tính giá thành
(từng côn