Hầu hết các nhà nghiên cứu về chế độ thuộc địa trên thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng đều thừa nhận rằng, chế độ thống trị thuộc địa của chủ nghĩa thực dân
phương Tây là một chế độ áp bức bóc lột tàn bạo đáng bị lên án. Nhưng khách quan,
nó cũng thúc đẩy nền kinh tế thuộc địa chuyển sang hình thái kinh tế mới với sự hiện
diện của nhân tố mới - nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Trong nền kinh tế thuộc địa Việt Nam thời Pháp thuộc, Miền Đông Nam Kỳ là
một trong những địa phương phản ánh tập trung những yếu tố kinh tế mới. Đặc biệt
nhất là hoạt động của “đồn điền cao su” – ngành đại diện cho hoạt động nông nghiệp
thực dân hiện đại
113 trang |
Chia sẻ: duongneo | Lượt xem: 1986 | Lượt tải: 2
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Lịch sử đồn điền cao su ở miền Đông nam bộ thời kỳ Pháp thuộc giai đọan (1898 - 1939), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------------------
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
LỊCH SỬ ĐỒN ĐIỀN CAO SU Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
THỜI KỲ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898-1939)
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ HUỲNH HOA
Thành phố Hồ Chí Minh – 2007
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học sư phạm thành phố
Hồ Chí Minh, phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học, quý thầy cô khoa sử đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng, biết ơn TS. Lê Huỳnh Hoa, cô đã tận tình
chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện
luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường THPT Phước Vĩnh và các đồng
nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành việc học tập và nghiên cứu.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi
trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hầu hết các nhà nghiên cứu về chế độ thuộc địa trên thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng đều thừa nhận rằng, chế độ thống trị thuộc địa của chủ nghĩa thực dân
phương Tây là một chế độ áp bức bóc lột tàn bạo đáng bị lên án. Nhưng khách quan,
nó cũng thúc đẩy nền kinh tế thuộc địa chuyển sang hình thái kinh tế mới với sự hiện
diện của nhân tố mới - nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Trong nền kinh tế thuộc địa Việt Nam thời Pháp thuộc, Miền Đông Nam Kỳ là
một trong những địa phương phản ánh tập trung những yếu tố kinh tế mới. Đặc biệt
nhất là hoạt động của “đồn điền cao su” – ngành đại diện cho hoạt động nông nghiệp
thực dân hiện đại.
Từ nhiều thế kỷ trước, khi Nam Kỳ còn đặt dưới sự kiểm soát của Chân Lạp,
Miền Đông Nam Kỳ là một vùng hoang vu nhiều rừng rậm. Dưới thời các chúa
Nguyễn, cư dân người Việt, người Hoa vào khai phá, biến nơi đây thành vùng
trồng trọt lớn của vùng đất Nam Bộ.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược và tiến hành khai thác thuộc địa ở nước ta,
Miền Đông Nam Kỳ đã có những biến đổi sâu sắc về kinh tế. Xuất phát từ mục tiêu
lợi nhuận, tư bản Pháp đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, tận dụng tối đa điều kiện
thiên nhiên thuận lợi về đất đai để đầu tư trồng trọt, trong đó cây cao su – một loại
nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp, có giá trị kinh tế cao và là sản phẩm
đang được thị trường thế giới bấy giờ ưa chuộng – đứng ở vị trí số một, trở thành cây
trồng chính trên đồng đất Miền Đông Nam Kỳ.
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, Miền Đông Nam Kỳ đã nhanh
chóng trở thành nơi có diện tích đồn điền cao su lớn nhất cả nước. Cây cao su từ đó
sớm khẳng định vị trí và vai trò trong nền kinh tế Miền Đông Nam Kỳ nói riêng và cả
nước nói chung, trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước,
đem lại nguồn lợi rất lớn cho tư bản thực dân Pháp.
Với sự xuất hiện của vùng nguyên liệu cây cao su công nghiệp, Nam Kỳ đã
hình thành được hai vùng sản xuất nguyên liệu chính phục vụ cho xuất khẩu của thực
dân Pháp, đó là lúa gạo ở Miền Tây và cao su ở Miền Đông. Trong đó Miền Đông
Nam Kỳ với thế mạnh đặc trưng của mình đã tác động khá lớn đến tổng thể kinh tế
Nam Kỳ.
Để hiểu rõ vị trí và vai trò của cây cao su trong nền kinh tế Miền Đông Nam
Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung thời Pháp thuộc, tôi đã chọn đề tài « Lịch sử
đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc giai đoạn (1898-1939) »
làm đề tài tốt nghiệp luận văn thạc sỹ của mình. Mong rằng những hiểu biết lịch sử
sau khi nghiên cứu có thể làm cơ sở khoa học và thực tiễn để hiểu, để xác định hướng
đi kinh tế của Miền Đông Nam Kỳ trong hiện tại và tương lai.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Để thực hiện đề tài, tôi đã tìm đọc và nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu
đề cập đến những nội dung có liên quan đến đề tài. Các nội dung này phần lớn được
thể hiện hòa lẫn trong các công trình nghiên cứu về nhiều mặt của Nam Kỳ và Miền
Đông Nam Kỳ. Có thể giới thiệu sơ bộ sau đây.
Trước tiên phải kể đến các tác phẩm của người Pháp. Họ rất quan tâm nghiên
cứu về vấn đề trồng trọt ở Miền Đông Nam Kỳ, đã bỏ không ít thời gian vào việc
nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Miền Đông Nam Kỳ:
- Terres rouges et terres noires basaltiques d’Indochine, nhà xuất bản Hà Nội,
năm 1931 và Economic agricole del l Indochine, nhà xuất bản Hà Nội, năm 1932
của Yves Henry.
- Le problem économique Indochinois của P. Bernard, xuất bản năm 1934.
- Note sur la main d’auvre caoutchouc des plantations de la Cochinchine et du
Cambodge của G. Wormeser, nhà xuất bản Sài Gòn, năm 1938.
Ngoài ra còn có một số bài viết đề cập đến đồn điền cao su ở những góc độ và
mức độ khác nhau được đăng trên các tạp chí: Économique Indochinoi, Extrême
Asie, Asie francaise, Presse Indochinoise, Chấn hưng kinh tế...Nhìn chung các công
trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho người đọc nhiều tư liệu quý có giá trị tham
khảo cao, rất có ít đối với người nghiên cứu.
Sau cách mạng tháng tám, nhất là từ sau năm 1954, nhiều tác giả người Việt đã
quan tâm khảo cứu về kinh tế, xã hội Việt Nam, trong đó có những công trình đề cập
tới nhiều khía cạnh khác nhau của Miền Đông Nam Kỳ nhưng ít nhiều có liên quan
đến vấn đề cao su:
- Kinh tế Miền Nam của Phạm Thành Vinh, nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội,
1957. Tác giả đã dành phần 2 của chương một để nêu đặc điểm kinh tế ở miền đồi núi
thuộc Miền Nam – vấn đề khai thác các vùng đất đỏ và việc trồng cây công nghiệp.
- Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam của Nguyễn Khắc Đạm,
nhà xuất bản Văn- sử- địa, Hà Nội, 1957. Ngoài nội dung quá trình bỏ vốn và chính
sách cướp đoạt ruộng đất của tư bản Pháp ở Việt Nam, trong chương 3 tác giả đã
giành 10 trang để trình bày sơ lược về phương thức kinh doanh đồn điền cao su của
tư bản Pháp, đồng thời còn đưa ra những số liệu cao su xuất cảng.
- Trong cuốn Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc của Nguyễn
Công Bình, nhà xuất bản Văn- sử- địa, Hà Nội, 1959. Tác giả cũng đề cập sơ lược
đến điền chủ cao su người Việt.
- Tư bản Pháp và vấn đề cao su ở Miền Nam Việt Nam của Nguyễn Phong, nhà
xuất bản Khoa Học, năm 1963. Đây là một chuyên khảo về vấn đề cao su. Tác phẩm
của Nguyễn Phong đã giúp những người không tiếp cận được với các sách tiếng Pháp
có những hiểu biết nhất định về lịch sử đồn điền cao su. Bên cạnh đó, những ý kiến
nhận xét của ông cũng đáng để người đọc tham khảo. Tuy nhiên, đây chưa phải là
một công trình nghiên cứu đầy đủ về đồn điền cao su. Tác giả chưa trình bày vấn đề
một cách có hệ thống, ông chủ yếu trình bày sơ lược việc kinh doanh cao su của tư
bản Pháp về: chính sách cướp đất đai của thực dân Pháp, tình cảnh lao động và đời
sống của công nhân cao su, phong trào đấu tranh của công nhân cao su. Các vấn đề
về sự ra đời và phát triển của các công ty và đồn điền cao su, quy mô của đồn điền, sự
phân bố các đồn điền cao su cũng như sở hữu của các điền chủ chưa được tác giả làm
rõ.
- Tình hình kinh tế Đông Dương(1900-1939) và kế hoạch tái thiết, trang bị
canh tân Đông Dương, nguyên tác của ủy ban kế hoạch Pháp do Lê Khoa dịch và
bình, xuất bản năm 1969.
- Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ của Nguyễn Thế Anh, nhà xuất bản Lửa
Thiêng, năm 1970 và Việt Nam Pháp thuộc sử của Phan Khoang, phủ quốc vụ khanh
đặc trách văn hóa xuất bản, năm 1971. Trong chương 2 trình bày về sinh hoạt kinh tế
của Việt Nam, hai tác giả cũng đã nêu sơ lược về diện tích, sản lượng cao su.
- Vấn đề cao su Việt Nam của Đỗ Văn Minh, luận văn cao học Quốc gia hành
chính Sài Gòn, năm 1971. Đây cũng là một chuyên khảo về cao su, tuy nhiên tác
phẩm của ông chủ yếu nghiên cứu ở giai đoạn từ 1945 trở về sau.
- Nền kinh tế Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (1920-1930) của Trịnh Như Kim,
luận văn cao học sử, Đại họcVạn Hạnh, năm 1972.
- Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ của Huỳnh Lứa (chủ biên), nhà xuất bản
Tp. Hồ Chí Minh, năm 1987. Trong chương 4 khi trình bày về công cuộc khai phá
dưới thời Pháp thuộc, các tác giả đã dành 7 trang để nêu sơ lược về: diện tích trồng
cao su, sự phân bố, năng suất và tác động của đồn điền cao su đối với kinh tế, xã hội
Miền Đông Nam Kỳ.
- Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859-
1939) của Jean- Pierre Aumiphine (bản dịch), xuất bản ở Hà Nội, năm 1994. Tác giả
cũng trình bày một cách khái quát về hoạt động đồn điền cao su.
- Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Miền Nam Việt Nam (1954-
1975) của Võ Văn Sen, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1996. Trong
chương 1, tác giả đã giành một vài trang để sơ lược về hoạt động kinh doanh của tư
bản Pháp trong nông nghiệp ở Nam Kỳ trong đó có cây cao su.
- Cây cao su đặc sản của vùng Đông Nam Bộ của Lê Huỳnh Hoa đăng trên tạp
chí xưa và nay, số 45b, 11/1997. Bài viết của tác giả Lê Huỳnh Hoa đã trình bày
những nội dung chủ yếu nhất của đồn điền cao su (sự du nhập cây cao su vào Việt
Nam, chính sách cướp đất và tuyển mộ lao động, việc khai thác mủ và xuất khẩu cao
su). Song, do vấn đề chỉ được đề cập trong một số trang ít ỏi, tác giả chưa thể làm
sáng tỏ tất cả mọi mặt
- Góp thêm tư liệu Sài Gòn- Gia Định từ 1859-1945 của Nguyễn Phan Quang,
nhà xuất bản Trẻ Tp. Hồ Chí Minh, năm 1998. Tác giả cũng nêu sơ lược về diện tích
cao su và sản lượng cao su xuất khẩu.
- Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa( 1858-1945) của Nguyễn văn
Khánh, nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội, năm 1999. Tác giả cũng đề cập đến
hoạt động của đồn điền cao su ở Nam Kỳ về: diện tích cao su, số lượng đồn điền, sản
lượng cao su xuất khẩu.
- Một trăm năm cao su Việt Nam của Đặng văn Vinh, nhà xuất bản Nông
nghiệp, Tp. HCM, năm 2000. Tác phẩm của ông đã trình bày khá rõ về sự ra đời và
phát triển của đồn điền cao su ở nước ta, sự cải tiến kỹ thuật trồng trọt cũng như
phong trào đấu tranh của công nhân cao su. Tuy vậy, một số vấn đề như: chính sách
và biện pháp cướp đoạt đất đai của thực dân Pháp, hiệu quả kinh tế của đồn điền cao
su, tác động của đồn điền cao su đối với kinh tế - xã hội Miền Đông Nam Kỳ
chưa được tác giả làm rõ, cần được tìm hiểu thêm.
- Cảng Sài Gòn và những biến đổi kinh tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc(1860-1939)
của Lê Huỳnh Hoa, luận án tiến sĩ khoa học Lịch sử, Đại học sư phạm Tp.HCM, năm
2002. Tác giả cũng đã trình bày về hoạt động đồn điền cao su.
Đặc biệt còn có một số công trình chuyên nghiên cứu về giai cấp công nhân
Việt Nam và bộ phận công nhân cao su như là:
- Địa ngục cao su của Nguyễn Hải Trừng, nhà xuất bản Sự Thật, năm 1955.
- Giai cấp công nhân Việt Nam của Trần văn Giàu , nhà xuất bản Sự thật, Hà
Nội, 1961.
- Phú Riềng đỏ của Trần Tử Bình, nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, 1971.
- Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam của Nguyễn Công
Bình, nhà xuất bản Lao động, năm 1974.
- Giai cấp công nhân Việt Nam trước khi thành lập Đảng của Ngô văn Hòa-
Dương Kinh Quốc, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1978.
- Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ 1936-1939 của Cao văn Biền, nhà xuất
bản KHXH, 1979.
- Phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân cao su Miền Đông Nam Bộ
của Thành Nam, nhà xuất bản Lao động, năm 1982.
- Lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam (1906-1990) của Huỳnh Lứa
(chủ biên), Nhà xuất bản Trẻ, năm 1993.
- Phú Riềng đỏ trong phong trào công nhân Miền Đông Nam Kỳ của Hà Minh
Hồng, nghiên cứu lịch sử số 5, năm 1999.
Những tác phẩm trên giúp chúng tôi nhận biết chân xác hơn về : sự ra đời và
phát triển cũng như tình cảnh lao động và đời sống của giai cấp công nhân Việt Nam,
đặc biệt là bộ phận công nhân làm việc tại các đồn điền cao su. Đồng thời, thấy rõ
bản chất bóc lột của tư bản thực dân Pháp.
Bên cạnh đó, một số tác giả có những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn
đề cao su ở một số địa phương của Miền Đông Nam Kỳ. Nhìn chung các tài liệu này
cũng giúp người nghiên cứu bổ sung thêm một ít tư liệu về đồn điền cao su ở các địa
phương.
- Lịch sử các đồn điền cao su thuộc miền đất đỏ Bình Long của Lê Linh, Tuần
san Phòng thương mãi Sài Gòn, số 186-187, 1961.
- Thực tế khai thác cao su của người Pháp tại Bình Long, của Ngô Viết Đức,
luận văn cao học Quốc gia hành chính Sài Gòn, năm 1972.
- Những chặng đường đấu tranh cách mạng của công nhân cao su Đồng Nai
của Nguyễn Viết Trân, Công ty cao su Đồng Nai xuất bản, năm 1985.
- Lịch sử đấu tranh cách mạng Sông Bé (1920-1945) của Lưu Huỳnh Thống,
trong “Địa chí Sông Bé”, nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé, 1991.
- Sự hình thành và phát triển của đội ngũ công nhân cao su Đồng Nai qua các
thời kì lịch sử (1906-1991) của Trần Toản, luận án tiến sĩ khoa học
lịch sử, Viện khoa học xã hội tại Tp.HCM, năm 1991.
- Tìm hiểu phong trào đấu tranh của công nhân cao su Sông Bé (1933-1975),
luận văn cao học sử, Viện khoa học xã hội tại Tp.HCM, 1991.
- Phong trào đấu tranh của công nhân Thủ Dầu Một trong kháng chiến chống
thực dân Pháp của Nguyễn Thị Mộng Tuyền, nhà xuất bản Lao Động, năm 2002.
- Những biến đổi kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước thời Pháp thuộc
giai đoạn 1897-1939 của Bùi Thị Huệ, luận văn cao học sử, Đại học sư phạm
Tp.HCM, năm 2002.
Nhìn chung, các tác phẩm trên đã đề cập ở nhiều mức độ khác nhau về đồn
điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc. Có tài liệu khảo cứu khá chi tiết,
có tài liệu chỉ nói đến một cách sơ lược như là một sự kiện bên cạnh nhiều sự kiện
khác. Song, tất cả đều có ích đối với người nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có công trình
nào nghiên cứu tập trung và hệ thống về hoạt động của đồn điền cao su ở Miền Đông
Nam Kỳ. Vì vậy, nghiên cứu “Lịch sử đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ thời
Pháp thuộc giai đoạn (1898-1939)” sẽ là một đóng góp thiết thực để hiểu rõ hơn về
hoạt động kinh tế mang tính đặc thù đã từng làm nên thế mạnh kinh tế của Miền
Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc.
3. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ nhận thức nêu trên, đề tài muốn đặt ra và giải quyết các yêu cầu
khoa học cụ thể sau đây :
- Bước đầu tập hợp, thống kê, hệ thống hóa tư liệu, dựng lên bức tranh sinh
động về hoạt động trồng trọt chính của Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc, cụ thể
là cây cao su.
- Từ thực tế hoạt động của đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp
thuộc, tiến hành xem xét, đánh giá những ảnh hưởng tích cực và hạn chế của đồn điền
cao su đối với kinh tế, xã hội của Miền Đông Nam Kỳ.
- Trên cơ sở nhận thức về sự khai thác triệt để và những hậu quả mà thực dân
Pháp để lại cho thuộc địa. Bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây
dựng và phát triển kinh tế Miền Đông Nam Kỳ trong hiện tại và tương lai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu về hoạt động cụ thể của đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ
giai đoạn (1898-1939). Vì vậy, hoạt động của đồn điền cao su (1898-1939)– ngành
sản xuất mang tính đặt thù của kinh tế Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc – là đối
tượng nghiên cứu chủ yếu. Tuy nhiên được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu như
sau:
- Không gian nghiên cứu của đề tài là khu vực Miền Đông Nam Kỳ gồm các
tỉnh : Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn. Ngày nay
thuộc địa phận hành chính các tỉnh : Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa-
Vũng Tàu, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn bởi hai mốc :
Mốc mở đầu là năm 1898 : Đây là năm bắt đầu trồng và lập đồn điền cao
su ở Miền Đông Nam Kỳ.
Mốc kết thúc là năm 1939 : Trên thực tế đây là năm kết thúc công cuộc
khai thác thuộc địa lần II. Từ năm 1940-1945, phát xít Nhật đã nhảy vào
Đông Dương. Về danh nghĩa thực dân Pháp vẫn duy trì chủ quyền của
mình, nhưng trên thực tế, các hoạt động của thực dân Pháp đã hoàn toàn
bị phát xít Nhật chi phối, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, phương pháp lịch sử và phương pháp logic được xác định
là những phương pháp cơ bản để tiến hành nghiên cứu.
Hỗ trợ cho phương pháp lịch sử và phương pháp logic là phương pháp thống
kê nhằm hệ thống các số liệu, dữ kiện làm cơ sở để kết hợp đồng thời với phương
pháp tổng hợp rút ra những kết quả tổng hợp, đáp ứng yêu cầu của một đề tài lịch sử
kinh tế.
Ngoài ra phương pháp so sánh cũng được vận dụng để giúp làm sáng tỏ những
hoạt động và biến đổi của kinh tế, xã hội Miền Đông Nam Kỳ so với các thời kỳ
trước và sau đó.
6. Đóng góp của Luận văn
- Luận văn đã tiếp cận, lựa chọn, thu thập và tổng hợp một số tài liệu từ nhiều
nguồn khác nhau đặc biệt là nguồn tư liệu hiện đang lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ
quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh có liên quan đến kinh tế, xã hội nói chung và đồn điền
cao su nói riêng ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc. Việc nghiên cứu đầy đủ và
có hệ thống sự phát triển của đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ sẽ giúp phục
dựng lại hoạt động của các đồn điền cao su ở đây - một hoạt động mang tính đặt thù
của kinh tế Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc.
-Trên cơ sở khôi phục lại hoạt động kinh tế tiêu biểu đó, luận văn góp phần
giúp đọc giả hiểu rõ vị trí và vai trò của cây cao su đối với kinh tế Miền Đông Nam
Kỳ thời Pháp thuộc.
-Qua nghiên cứu luận văn còn làm sáng rõ :
1. Nhận thức về thế mạnh, tiềm năng của vùng kinh tế Miền Đông Nam Kỳ
trong quá khứ, làm cơ sở định hướng cho hoạt động kinh tế của Miền Đông
Nam Kỳ hiện nay trên bước đường công nghiệp hóa- hiện đại hoá đất nước.
2. Nhận thức về chủ nghĩa thực dân.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia
thành 4 chương:
Chương 1 : Vùng đất Miền Đông Nam Kỳ trước và trong thời Pháp thuộc.
Chương 2 : Sự hình thành và phát triển đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ
thời Pháp thuộc (1898-1939).
Chương 3 : Khai thác đồn điền cao su và hiệu quả kinh tế của đồn điền cao su
ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1898-1939).
Chương 4 : Tác động của đồn điền cao su đối với kinh tế - xã hội của Miền
Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1898-1939).
Chương 1 : VÙNG ĐẤT MIỀN ĐÔNG NAM KỲ TRƯỚC VÀ
TRONG THỜI PHÁP THUỘC
1.1. Miền Đông Nam Kỳ trước thời Pháp thuộc
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Miền Đông Nam Kỳ là vùng đất mới trong lịch sử phát triển của đất nước Việt
Nam. Trong giai đoạn Pháp thuộc, Miền Đông Nam Kỳ bao gồm các tỉnh: Gia Định,
Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, Tây Ninh. Ngày nay thuộc địa phận các
tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố
Hồ Chí Minh.
Về mặt vị trí địa lí: Phía Tây và Tây Nam, nằm kề đồng bằng châu thổ sông
Cửu Long. Phía Đông và Đông Nam giáp biển. Phía Bắc và Đông Bắc giáp vùng Tây
Nguyên.
Theo tác giả Huỳnh Lứa trong tác phẩm “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ”,
Miền Đông Nam Kỳ có diện tích 27.920 km2, là vùng đồng bằng phù sa cổ, tồn tại
dưới dạng bán bình nguyên, có địa hình đồi gò lượn sóng, độ cao trung bình từ vài
chục mét đến khoảng 200m trên mực nước biển, độ dốc dưới 150 chiếm 80% diện
tích, gồm những cao nguyên thấp và những ngọn đồi lượn sóng, rải rác xuất hiện một
vài ngọn núi trẻ như núi Chứa Chan (858m), núi Bà Rá (736m), núi Bà Đen
(986m) Miền Đông Nam Kỳ là một vùng đất cao tiếp liền dưới chân phía nam các
cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh kéo dài từ Tây Ninh đến Bà Rịa. Rìa phía nam đổ
thoai thoải xuống đồng bằng sông Cửu Long. Đây là vùng của các núi lửa đã tắt và
của các bậc thềm sông, khoảng 1/3 diện tích có địa hình hiểm trở, còn lại đất đỏ và
đất xám là chủ yếu, rất thích hợp cho cây công nghiệp.[27, tr.17-18]
Đất đỏ ở Miền Đông Nam Kỳ trải rộng ở phía bắc chạy dài thành một dải theo
hướng bắc-đông-bắc; nam-đông-nam phủ trên nền đá hoa cương cổ. Trước hết người
ta tìm thấy đất đỏ ở gần Kompong-cham (tả ngạn sông Mê Kông), nó đi qua Lộc
Ninh, Xa Trạch và từ An Bình xuống phía nam về Bà Rịa. Đó là loại đất sét ít chất đá
vôi, có nhiều mùn và có một hàm