Luận văn Phân tích hiệu quả kinh doanh của xí nghiệp bánh mứt kẹo Hà Nội

Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải có lãi. Để đạt được kết quả cao nhất trong sản xuất và kinh doanh, các doanh nghiệp cần phảI xác định phương hướng mục tiêu trong đầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện sẵn có về các nguồn nhân tài, vật lực. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trước hết chúng ta tìm hiểu kháI niệm, ý nghĩa của các thuật ngữ trên theo lý thuyết về quản lý kinh doanh. Kết quả sản xuất kinh doanh đạt được sau một thời gian hoạt động nhất định. Kết quả có thể là: sản lượng, doanh thu, lợi nhuận (hoặc là thua lỗ), giá trị gia tăng. Trong đó, các chỉ tiêu kết quả cần phân biệt giữa kết quả trung gian và kết quả cuối cùng. Các kết quả trung gian là điều kiện cần thiết để thực hiện các bước tiếp theo cho đến khi chủ thể đạt được mục đích cuối cùng, và khi đó ta có kết quả cuối cùng. Như vậy, việc phân tích kết quả trung gian và kết quả cuối cùng phụ thuộc vào mục đích của chủ thể hoạt động. Đối với các doanh nghiệp thì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, còn đối với xã hội mục tiêu cuối cùng không phảI là lợi nhuận mà có thể là số việc làm, giá trị gia tăng. Định nghĩa:

pdf81 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 2005 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Phân tích hiệu quả kinh doanh của xí nghiệp bánh mứt kẹo Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 Luận văn: “Phân tích hiệu quả kinh doanh của xí nghiệp bánh mứt kẹo Hà Nội” 2 PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH I.1.KHÁI NIỆM HIỆU QUẢ Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải có lãi. Để đạt được kết quả cao nhất trong sản xuất và kinh doanh, các doanh nghiệp cần phảI xác định phương hướng mục tiêu trong đầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện sẵn có về các nguồn nhân tài, vật lực. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trước hết chúng ta tìm hiểu kháI niệm, ý nghĩa của các thuật ngữ trên theo lý thuyết về quản lý kinh doanh. Kết quả sản xuất kinh doanh đạt được sau một thời gian hoạt động nhất định. Kết quả có thể là: sản lượng, doanh thu, lợi nhuận (hoặc là thua lỗ), giá trị gia tăng... Trong đó, các chỉ tiêu kết quả cần phân biệt giữa kết quả trung gian và kết quả cuối cùng. Các kết quả trung gian là điều kiện cần thiết để thực hiện các bước tiếp theo cho đến khi chủ thể đạt được mục đích cuối cùng, và khi đó ta có kết quả cuối cùng. Như vậy, việc phân tích kết quả trung gian và kết quả cuối cùng phụ thuộc vào mục đích của chủ thể hoạt động. Đối với các doanh nghiệp thì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, còn đối với xã hội mục tiêu cuối cùng không phảI là lợi nhuận mà có thể là số việc làm, giá trị gia tăng... Định nghĩa: Hiệu quả là các đại lượng (chỉ tiêu) so sánh một cách tuyệt đối và tương đối giữa kết quả cuối cùng và các nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra kết quả 3 đó. Tong nền kinh tế thị trường, mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là lợi nhuận. Để đạt được lợi nhuận như mong muốn, doanh nghiệp phải đầu tư sử dụng các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh. Do vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sự so sánh tương đối giữa doanh thu, lợi nhuận thu được và các nguồn lực (vốn, lao động, đất đai) đầu tư vào sản xuất kinh doanh để có được lợi nhuận, doanh thu đó. Hiệu quả kinh tế là khái niệm phản ánh mức độ sử dụng có ích các nguồn lực khan hiếm, nhằm thoả mãn nhu cầu của mọi người, đó là nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và cũng là mục tiêu chung của toàn xã hội Hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết quả tương ứng với toàn bộ nguồn lực phảI bỏ ra trong quă trình thực hiện một hoạt động nhất định (nhằm đạt mục đích nào đó) (theo định nghĩa của PGS.TS Nguyễn Văn Thụ - sách Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh - Nhà xuất bản Giao thông vận tải) Từ những khái niệm hiệu quả trên, hoạt động sản xuất kinh doanh của một đơn vị kinh tế được coi là hiệu quả nếu thoả mãn những yêu cầu chủ yếu sau: +Kết quả kinh doanh thu được phải là tối đa với chi phí bỏ ra phải là tối thiểu. Đây cũng chính là tính kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh. +Sản phẩm xã hội thu lại nhiều nhất nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường và yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân đòi hỏi nhưng với chi phí xã hội bỏ ra là nhỏ nhất. +Đảm bảo các yêu cầu về mặt xã hội (bên trong và bên ngoàI doanh nghiệp) và tác động tích cực đến môi trường sinh thái.  Đo lường hiệu quả Kết quả đầu ra 4 Hiệu quả = --------------------- Yếu tố đầu vào Hiệu quả tuyệt đối = Kết quả đầu ra - Chi phí đầu ra Kết quả đầu ra có thể là: doanh thu, lợi nhuận, số lượng sản phẩm sản xuất được ... Các chi phí hay yếu tố đầu vào có thể là: số lao động, số thời gian lao động đã sử dụng, số vốn hay chi phí sản xuất đã sử dụng ... Hệ thống chỉ tiêu biểu thị hiệu quả sản xuất kinh doanh Dt L Lđ Hlđ = Dt / Lđ Tlđ = L / Lđ Hiệu quả sử dụng lao động V Hv = Dt / V Tv = L / V Hiệu quả sử dụng vốn C Hc = Dt / C Tc = L / C Hiệu quả sử dụng chi phí Trong đó: Lđ : tổng lao động C : tổng chi phí V : tổng vốn Dt : tổng doanh thu L : tổng lãi T : tỷ suất lợi nhuận I.2. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SXKD Doanh nghiệp muốn đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao phải xác định các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả. Từ đó phát huy những nhân tố mạnh, khắc phục những nhân tố chưa mạnh. Ta phải xác định các nhân tố một cách riêng biệt, đồng thời phải xác định được mối tương quan qua lại giữa các nhân tố . I.2.1.Các nhân tố chủ quan 5 Nhóm này gồm các nhân tố ảnh hưởng phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người, con người làm chủ các nhân tố sau:  Trình độ công nghệ kĩ thuật: Ngày nay, trong thời đại sản xuất công nghiệp, trình độ khoa học kỹ thuật là nhân tố quyết định đến năng suất , chất lượng sản phẩm, hàng hoá. Do vậy ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, áp dụng khoa học kĩ thuật mới giúp doanh nghiệp giảm tiêu hao nguyên vật liệu, lao động ... từ đó tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.  Trình độ tổ chức quản lý đIều hành sản xuất Doanh nghiệp có đầy đủ các yếu tố thuộc về cơ sở vật chất, kỹ thuật, sức lao động, thiết bị, nguyên vật liệu, nhưng những yếu tố đó chưa đủ để một doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả sản xuất cao thì cần phải có một bộ máy tổ chức quản lý tốt, năng động, hiệu quả. Để quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp được tiến hành liên tục và có hiệu quả thì doanh nghiệp phải sử dụng và khai thác triệt để các nguồn lực sẵn có của mình. Các yếu tố quyết định năng lực sản xuất kinh doanh gồm hai nhóm: +Nhóm các yếu tố thuộc về tổ chức quản lý +Nhóm các yếu tố thuộc về vật chất kĩ thuật. Trong đó, nhóm này được phân làm 3 yếu tố: .Các yếu tố về lao động: gồm số lượng và chất lượng lao động . Các yếu tố về trang bị và sử dụng tài sản cố định (thiết bị máy móc cho hoạt động sản xuất kinh doanh) .Các yếu tố phụ thuộc về cung cấp và sử dụng nguyên vật liệu (tài nguyên cho sản xuất kinh doanh) Nếu doanh nghiệp có đầy đủ 3 yếu tố về vật chất kĩ thuật của sản xuất kinh doanh, và sử dụng, khai thác tất cả các yếu tố trên để tham gia kinh doanh 6 một cách đồng bộ, thì doanh nghiệp sẽ tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh rất lớn. I.2.2.Các nhân tố khách quan: Nhân tố khách quan là những nhân tố nằm ngoài sự chi phối của chủ thể quản lý. Nhóm nhân tố này bao gồm: +ĐIều kiện khí hậu, thời tiết. +Môi trường pháp lý (các chủ trương chính sách của nhà nước, địa phương) +Thị hiếu người tiêu dùng ... Với các nhân tố khách quan, người quản lý doanh nghiệp không thể thay đổi theo ý mình mà chỉ có thể tính toán, vận dụng, tìm cách tác động trong chừng mực nhất định. Tóm lại, việc xác định, nhận thức đúng đắn đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng tới hiêu quả sản xuất kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp tránh những rủi ro, thiệt hại lớn, và nó có vai trò đặc biệt trong công tác quản lý. I.3. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH I.3.1.Khái niệm Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh là quả trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và hiệu quả sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp, nhằm làm rõ chất lượng sản xuất kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần được khai thác. Trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp. Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh là quá trình nhận thức và cải tạo hiệu quả kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với đIều kiện cụ thể và với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, nhằm đem lại hiệu quả cao hơn. 7 I.3.2.Ý nghĩa phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng, là công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh. Thông qua phân tích doanh nghiệp ta mới thấy rõ nguyên nhân của các vấn đề phát sinh trong doanh nghiệp, từ đó mới đưa ra biện pháp khắc phục hợp lý. Chính trên cơ sở này, các doanh nghiệp sẽ xác định đúng đắn mục tiêu, chiến lược sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Phân tích sản xuất kinh doanh là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp. Để sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả như mong muốn, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của mình, đồng thời dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian tới để vạch ra chiến lược kinh doanh cho phù hợp. Ngoài việc phân tích các đIều kiện về tài chính, vật tư, lao động... doanh nghiệp còn phải quan tâm phân tích các đIều kiện tác động ở bên ngoài như : thị trường, đối thủ cạnh tranh, khách hàng ... từ đó doanh nghiệp có thể dự đoán những rủi ro có thể xảy ra và có kế hoạch phòng ngừa trước khi xảy ra. I.3.3.Các phương pháp phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh Các phương pháp thường được dùng để phân tích trong kinh doanh gồm: a. Phương pháp so sánh Đây là phương pháp hay được dùng trong việc phân tích kết quả kinh doanh. Việc so sánh được đánh giá qua hai chỉ tiêu có cùng đIều kiện: +Đồng nhất về nội dung phản ánh. +Thống nhất về phương pháp tính toán. +Các số liệu thu thập dùng để tính toán phải có thời gian tương ứng và cùng đại lượng biểu hiện. Với phương pháp so sánh có các kỹ thuật so sánh chủ yếu sau: 8 +So sánh bằng số tuyệt đối : là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện khối lượng quy mô của các hiện tượng kinh tế. +So sánh bằng số tương đối : là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Kết quả so sánh biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức phổ biến của hiện tượng kinh tế. +So sánh bằng số bình quân: là dạng đặc biệt của số tuyệt đối, biểu hiện tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng, nhằm phản ánh đặc đIểm chung của một đơn vị, một bộ phận, hay một tổng thể chung có cùng một tính chất. b. Phương pháp thay thế liên hoàn Thực chất là phương pháp so sánh, nó được sử dụng khi phân tích chỉ tiêu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Việc phân tích tiến hành bằng cách thay thế lần lượt các số liệu của nhân tố ảnh hưởng trong khi giữ nguyên các nhân tố khác để tính mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố chỉ tiêu đang xét. c. Phương pháp tính số chênh lệch Phương pháp này là một dạng đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn, nhằm phân tích các nhân tố thuận ảnh hưởng đến sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế, là dạng đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn. Cho nên, phương pháp này tôn trọng đầy đủ nội dung các bước tiến hành của phương pháp liên hoàn. Chúng chỉ khác ở chỗ là khi xác định các nhân tố ảnh hưởng đơn giản hơn, chỉ việc nhóm các số hạng và tính chênh lệch các nhân tố sẽ cho ta mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích. Như vậy, phương pháp tính số chênh lệch chỉ áp dụng được trong trường hợp các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu bằng tích số, và cũng có thể áp dụng trong trường hợp các nhân tố có quan hệ vối chỉ tiêu bằng thương số. d. Phương pháp phân tích chi tiết 9 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt được sau những quá trình hoạt động có thể xem xét, đánh giá chi tiết theo những hướng khác nhau +Chi tiết theo các bộ phận cấu thành của chỉ tiêu Các chỉ tiêu kinh tế thường được chi tiết thành các yếu tố cấu thành. Nghiên cứu chi tiết giúp ta đánh giá chính xác các yếu tố cấu thành của các chỉ tiêu phân tích. Ví dụ: kết quả kinh doanh tiêu thụ được chi tiết bao gồm doanh thu của nhiều mặt hàng tiêu thụ. +Chi tiết theo thời gian Các kết quả kinh doanh bao giờ cũng là một quá trình trong từng khoảng cách thời gian nhất định. Mỗi khoảng cách thời gian khác nhau có những nguyên nhân tác động không giống nhau. Việc phân tích chi tiết này giúp đánh giá chính xác và đúng đắn kết quả kinh doanh, từ đó có các giảI pháp hiệu quả trong từng thời gian. Ví dụ: trong sản xuất, lượng sản phẩm sản xuất hoặc dịch vụ cung cấp được chi tiết theo từng tháng, từng quý. +Chi tiết theo địa đIểm và phạm vi kinh doanh Kết quả kinh doanh do nhiều bộ phận, theo phạm vi và theo địa điểm tạo nên. Việc chi tiết này nhằm đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, phạm vi, địa điểm khác nhau, nhằm khai thác các mạnh mặt và khắc phục những mặt yếu kém của các bộ phận và phạm vi hoạt động khác nhau. Ngoài những phương pháp phân tích đã nêu trên, còn có những phương pháp khác như: phương pháp sắc xuất, quy hoach tuyến tính ... Tuy nhiên, trong việc phân tích hiệu quả của doanh nghiệp, tuỳ theo từng chỉ tiêu và phụ thuộc vào mục đích của việc phân tích mà người ta dùng những phương pháp khác nhau cho phù hợp. I.3.4. Nội dung phân tích 10 Nội dung của phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ cung cấp thông tin để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cho các nhà quản trị doanh nghiệp. Thông tin này thường không có sẵn trong các báo cáo kết quả tài chính hoặc bất cứ tài liệu nào ở doanh nghiệp. Để có những thông tin này người ta phải thông qua quá trình phân tích. Nội dung phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh là đánh giá quá trình hướng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, với sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng và biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế. Nó không chỉ dừng lại ở đánh giá biến động của kết quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế, mà còn đi sâu xem xét các nhân tố ảnh hưởng tác động đến sự biến động của chỉ tiêu kinh tế. I.3.4.1. Các chỉ tiêu hiêu quả tổng hợp: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề hết sức phức tạp và có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh. Chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Để đánh giá chính xác và có cơ sở khoa học, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh phù hợp, các chỉ tiêu xây dựng phải phản ánh được sức sản xuất, xuất hao phí cũng như sức sinh lời của từng yếu tố, từng loại vốn, và phải cùng thống nhất với công thức tính hiệu quả chung : Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = --------------------- Các yếu tố đầu vào Công thức này có thể tính tổng hợp toàn bộ chi phí hoặc tính riêng theo từng yếu tố. Nó phản ánh sức sản xuất (hay sức sinh lời ) của các chỉ tiêu phản ánh đầu vào. Nó cho biết cứ một đồng chi phí sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng kết quả (lợi nhuận thuần) 11 *Một số chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp chủ yếu: Lợi nhuận trước thuế Sức sinh lợi của nguồn vốn CSH = ----------------------------------------- Vốn chủ sở hữu bình quân Hệ số này cho biết cứ một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Lợi nhuận trước thuế Sức sinh lợi của tài sản = ----------------------------------- Tổng tài sản bình quân Hệ số này cho biết cứ một đồng nguyên giá tài sản bình quân thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Đây là hai chỉ tiêu quan trọng, phản ánh khả năng sinh lợi và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Các chỉ tiêu kết quả cần phân tích: +Sản lượng +Doanh thu +Chi phí +Lợi nhuận +Nộp ngân sách I.3.4.2.Các chỉ tiêu thành phần a.Tài sản cố định: Để đánh giá mức độ sử dụng TSCĐ ta có các chỉ tiêu sau: Tổng doanh thu thuần Sức sản xuất của TSCĐ = -------------------------------------- Nguyên giá bình quân TSCĐ Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh đem lại mấy đồng doanh thu thuần hoặc giá trị tổng sản lượng. Lợi nhuận thuần (hay lãi gộp) 12 Sức sinh lợi của TSCĐ = --------------------------------------- Nguyên giá bình quân TSCĐ Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ đem lại máy đồng lợi nhuận thuần hay lãi gộp. -Để biết mức độ cũ mới của TSCĐ trong doanh nghiệp người ta dùng hệ số hao mòn TSCĐ. Tổng mức khấu hao TSCĐ Hệ số hao mòn TSCĐ = ----------------------------------- Nguyên giá TSCĐ Hệ số này càng gần tới 1 thì TSCĐ càng cũ và khi đó doanh nghiệp phải chú trọng việc đổi mới, hiện đại hoá TSCĐ. Nếu hệ số này càng nhỏ hơn 1 bao nhiêu thì TSCĐ trong doanh nghiệp còn mới chưa phải đầu tư ngay. -Để đánh giá trình độ sử dụng TSCĐ ta dùng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ. Giá trị sản lượng sản phẩm Hiệu suất sử dụng TSCĐ = --------------------------------------- Nguyên giá bình quân TSCĐ Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ tham gia vào quá trình kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản lượng. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ trình độ sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp ngày càng tốt. Trong đó hiệu suất sử dụng TSCĐ là nhân tố phát triển sản xuất theo chiều sâu có thể tăng vô hạn. Vì vậy doanh nghiệp cần phải chú trọng khâu quản lý, sử dụng thiết bị về các mặt, số lượng máy móc tham gia sản xuất kinh doanh, đặc biệt là số máy móc thực tế. Tận dụng tối đa công suất sử dụng của máy. Doanh nghiệp cũng cần có chế độ bảo quản, bảo dưỡng hợp lý để tuổi thọ của máy móc thiết bị càng cao, tiết kiệm chi phí đầu tư trang thiết bị, nâng cao năng suất máy. b.Tài sản lưu động: 13 +Sức sản xuất vốn lưu động cho ta biết 1 đồng vốn lưu động đem lại máy đồng doanh thu. Tổng số doanh thu thuần Sức sản xuất của vốn lưu động = ---------------------------------- Vốn lưu động bình quân +Sức sinh lời của vốn lưu động phản ánh 1 đồng vốn lưu động làm ra mấy đồng lợi nhuận thuần hay lãi gộp. Lợi nhuận thuần (hay lãi gộp) Sức sinh lời của vốn lưu động = --------------------------------------- Vốn lưu động bình quân -Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất (dự trữ - sản xuất - tiêu thụ). Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau: +Số vòng quay của vốn lưu động: cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả dụng vốn tăng và ngược lại. Tổng số doanh thu thuần Số vòng quay của vốn lưu động = --------------------------------- Vốn lưu động bình quân +Thời gian của 1 vòng (chu kỳ) luân chuyển: cho biết số ngày cần thiết để cho vốn lưu động quay được một vòng. Tcủa chu kỳ phân tích Tmột vòng luân chuyển = ----------------------------------------------------- Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ Thời gian 1 vòng càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng càng cao. 14 +Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động: cho biết để có 1 đồng luân chuyển thì cần mấy đồng vốn lưu động. Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều. Vốn lưu động bình quân Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động = --------------------------------- Tổng số luân chuyển thuần Trong đó: Tổng số luân chuyển thuần = Tổng số doanh thu thuần về tiêu thụ + Tổng số doanh thu thuần hoạt động tài chính + Tổng số thu nhập thuần hoạt động khác d.Về lao động: Lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh là yếu tố có tính chất quyết định nhất. Sử dụng tốt nguồn lao động về các mặt số lượng, thời gian lao động, năng lực chuyên môn về các mặt của người lao động sẽ làm tăng khối lượng sản phẩm hàng hoá, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, đó cũng chính là biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Số lượng lao động và chất lượng lao động là một trong những yếu tố quyết định quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp cần có các biện pháp nâng cao năng suất lao động. Khối lượng sản phẩm Năng suất (W) = ---------------------- Thời gian lao động Năng suất lao động cho biết số sản phẩm mà 1 lao động sản xuất ra trong đơn vị thòi gian hao phí. Năng lực LĐ tham gia sản xuất 15 Hệ số đảm nhiệm công việc =
Luận văn liên quan