Sử dung phần mềm địa cầu ảo (google earth) trong thiết kế một số bài giảng Địa lí lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực

Quá trình toàn cầu hóa về các lĩnh vực đang diễn ra mạnh mẽ. Hội nhập quốc tế cách mạng khoa học công nghệ, cách mạng thông tin truyền thông, nền kinh tế tri thức, đã tạo ra cơ hội cho nền giáo dục Việt Nam tiếp cận các xu thế mới, mô hình giáo dục, chương trình giáo dục tiên tiến, hiện đại và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông (THPT) là vấn đề thời sự, vừa cấp bách, vừa cơ bản đối với sự nghiệp giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Yêu cầu đổi mới là cần đề cao vai trò của người học, chống lại thói quen học tập thụ động, bồi dưỡng năng lực tự học giúp cho người học có khả năng học tập suốt đời hay nói cách khác là đòi hỏi người thầy phải áp dụng các phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực phù hợp với thực tiễn. Đứng trước yêu cầu đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Công nghệ thông tin (CNTT), đặc biệt là Internet đã làm xuất hiện nhiều phương pháp dạy học mới như dạy học từ xa, dạy học tương tác qua máy vi tính,. CNTT hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu của việc dạy và học, việc ứng dụng CNTT trên thực tế cũng đã đem lại kết quả đáng kể và những chuyển biến lớn trong dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học các bộ môn văn hoá, CNTT với ưu thế đặc biệt chẳng những đã có tác dụng thiết thực nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ lên lớp của giáo viên (GV) mà còn đang được đẩy mạnh làm khâu đột phá để đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS).

doc93 trang | Chia sẻ: baohan10 | Lượt xem: 2785 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Sử dung phần mềm địa cầu ảo (google earth) trong thiết kế một số bài giảng Địa lí lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN XUÂN CHUNG SỬ DUNG PHẦN MỀM ĐỊA CẦU ẢO (GOOGLE EARTH) TRONG THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ LỚP 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Thái Nguyên, năm 2018 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN XUÂN CHUNG SỬ DUNG PHẦN MỀM ĐỊA CẦU ẢO (GOOGLE EARTH) TRONG THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ LỚP 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Sư phạm Địa lí NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TS ĐỖ VŨ SƠN Thái Nguyên, năm 2018 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Địa lí, các thầy cô giáo đã hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại khoa cũng như trong quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận này. Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Đỗ Vũ Sơn – người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này. Đề tài được thực hiện trong thời gian không dài, mặc dù đã rất cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình làm đề tài, em rất mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp, đánh giá của thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Tác giả Sinh viên Trần Xuân Chung MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1. Mục tiêu kiến thức cần đạt được sau bài học đối với học sinh 30 Bảng 1.2. Thống kê kết quả khảo sát từ giáo viên 34 Bảng 2.1 Quy trình xây dựng tiết học 38 Bảng 2.2. Khả năng ứng dụng Google Earth trong dạy học môn Địa lí 41 Bảng 3.1. Danh sách các lớp và số lượng học sinh tham gia TNSP 70 Bảng 3.2. Danh sách các trường và GV tham gia thực nghiệm sư phạm. 71 Bảng 3.2. Tổng hợp điểm bài 9 72 Bảng 3.3. Tổng hợp điểm bài 10 73 Bảng 3.4. So sánh điểm trung bình của HS sau khi học bài 9 74 Bảng 3.5. So sánh điểm trung bình của HS sau khi học bài 10 74 DANH MỤC HÌNH Hình 1. Sơ đồ các năng lực chung, cốt lõi 17 Hình 1.1 Giao diện Google Earth 24 Hình 1.2 Hình ảnh một khu dân cư trên Google Earth 25 Hình 1.3. Phân chia ngày đêm trênTrái Đất 25 Hình 1.4. Xác định khoảng cách bằng Google Earth 26 Hình 1.5. Vũ Trụ nhìn từ Google Earth 27 Hình 1.6. Mặt Trăng nhìn từ Google Earth 27 Hình 3.1. Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm bài 9 72 Hình 3.2. Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm bài 10 73 CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Viết đầy đủ 1 CNTT Công nghệ thông tin 2 GD Giáo dục 3 GV Giáo viên 4 HS Học sinh 5 HTTCDH Hình thức tổ chức dạy học 6 PPDH Phương pháp dạy học 7 THPT Trung học phổ thông 8 GD Giáo dục MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Quá trình toàn cầu hóa về các lĩnh vực đang diễn ra mạnh mẽ. Hội nhập quốc tế cách mạng khoa học công nghệ, cách mạng thông tin truyền thông, nền kinh tế tri thức, đã tạo ra cơ hội cho nền giáo dục Việt Nam tiếp cận các xu thế mới, mô hình giáo dục, chương trình giáo dục tiên tiến, hiện đại và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông (THPT) là vấn đề thời sự, vừa cấp bách, vừa cơ bản đối với sự nghiệp giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Yêu cầu đổi mới là cần đề cao vai trò của người học, chống lại thói quen học tập thụ động, bồi dưỡng năng lực tự học giúp cho người học có khả năng học tập suốt đời hay nói cách khác là đòi hỏi người thầy phải áp dụng các phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực phù hợp với thực tiễn. Đứng trước yêu cầu đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Công nghệ thông tin (CNTT), đặc biệt là Internet đã làm xuất hiện nhiều phương pháp dạy học mới như dạy học từ xa, dạy học tương tác qua máy vi tính,... CNTT hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu của việc dạy và học, việc ứng dụng CNTT trên thực tế cũng đã đem lại kết quả đáng kể và những chuyển biến lớn trong dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học các bộ môn văn hoá, CNTT với ưu thế đặc biệt chẳng những đã có tác dụng thiết thực nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ lên lớp của giáo viên (GV) mà còn đang được đẩy mạnh làm khâu đột phá để đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS). Theo xu hướng phát triển của công nghệ, nhiều phương tiện trực quan mới đã ra đời và có khả năng ứng dụng hiệu quả trong các lĩnh vực có liên quan đến yếu tố không gian, trong đó có phần mềm Google Earth. Phần mềm Google Earth là sản phẩm công nghệ cao, phổ thông, nguồn mở, kỹ thuật sử dụng đơn giản, được cung cấp miễn phí bởi Google Earth. Sản phẩm đã được ứng dụng rộng rãi tại nhiều nước tiên tiến trên thế giới. Có thể chia sẻ thông tin giữa các nhóm người/người được thuận lợi và nhanh chóng. Ứng dụng trong việc khảo sát, xác định chính xác toạ độ, xác định sơ bộ cao độ, đo chiều dài, đo diện tích, tham quan du lịch... Tập huấn trong thời gian ngắn là có thể sử dụng thành thạo chương trình. Có thể nói, Google Earth đã mang lại một hình thức tìm kiếm thông tin mới, giúp khám phá và hiểu hơn về Trái Đất mà tiết kiệm được chi phí và thời gian đi lại, chỉ cần có điện thoại hoặc máy tính kết nối internet. Địa lí là một môn khoa học có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm, cần liên hệ thực tế và có tính thời sự rất cao. Nên cần những hình ảnh thực tế để HS có cái nhìn cụ thể về vấn đề đang học và lựa chọn Google Earth là một công cụ hữu hiệu. Với những lý do trên tác giả chọn “Sử dụng phần mềm Địa cầu ảo (Google Earth) trong thiết kế một số bài dạy học địa lí lớp 11 Trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực” làm đề tài tốt nghiệp. 2. Lịch sử phát triển Google Earth và quá trình nghiên cứu, ứng dụng Google Earth trong dạy học 2.1. Lịch sử phát triển Google Earth Tháng 6/2005, phần mềm Google Earth, phiên bản vệ tinh bản đồ trái đất được Google cho ra mắt. Google Earth là một chương trình một phần mềm mô phỏng quả địa cầu có tên gọi gốc là Earth Viewer vẽ bản đồ Trái đất là một quả địa cầu ảo 3D, trên đó là những hình ảnh địa lí được lấy từ ảnh vệ tinh, các ảnh chụp trên không và từ hệ thống thông tin địa lí GIS. Google thể hiện một cách tổng quan về các khu vực trên Trái đất, mô phỏng địa hình theo hình ảnh không gian đa chiều bằng cách kết hợp tổng thể các ảnh viễn thám (phản xạ ánh sáng đa sắc (ánh mặt trời).Có thể lưu dấu vị trí, hình dạng và toàn bộ thư mục và nội dung của thư mục vào ổ cứng máy tính . Tệp hoặc thư mục dấu vị trí được lưu dưới dạng tệp đơn lẻ trong định dạng KML hay KMZ mà chúng ta có thể mở bất kỳ lúc nào trong Google Earth. Nhằm đa dạng hoá loại hình thông tin tìm kiếm, năm 2004 Google đã mua lại phần mềm địa cầu ảo nổi tiếng là Keyhole để kết hợp nó với những tính năng của Google Maps. Đến năm 2005, sản phẩm này được đổi tên thành Google Earth và chạy được trên các hệ điều hành Linux, MAC OS và MS Windows. Hiện nay có sẵn cho thiết bị Android và iOS. Google Earth cung cấp khả năng tìm kiếm và khả năng để định vị, zoom, xoay, nghiêng xem Trái đất. Nó cũng cung cấp các công cụ cho việc tạo dữ liệu mới và một bộ các lớp dữ liệu, như núi lửa và địa hình mà có sẵn trong Google Earth và hiển thị thông tin dữ liệu ra giao diện màn hình của Google Earth. Google Earth sử dụng dữ liệu độ cao chủ yếu từ Mission Shuttle Radar địa hình của NASA (SRTM) để cung cấp một lớp địa hình, có thể hình dung ra cảnh quan trong 3D. Đối với một số địa điểm, như hầu hết các phần phía tây của Hoa Kỳ, các dữ liệu địa hình được cung cấp với độ phân giải cao. Google Earth không phải là một hệ thống thông tin địa lí (GIS) với khả năng phân tích sâu rộng của ArcGIS hoặc MapInfo, nhưng là dễ dàng hơn để sử dụng hơn so với các gói phần mềm khác [Theo wikipedia]. 2.2. Quá trình nghiên cứu, ứng dụng Google Earth trong dạy học 2.2.1. Trên thế giới Theo tài liệu từ trang web thenextweb.com về vấn đề ứng dụng Google Earth vào dạy học thì trên thế giới khoa học, toán học, địa lí và lịch sử chỉ là một vài trong số các môn học mà Google Earth có thể được sử dụng như một công cụ giảng dạy hiệu quả. Google Earth là một công cụ mang lại cho các bài học địa lí một cấp độ hoàn toàn mới bằng cách cung cấp trải nghiệm tương tác sâu sắc cho HS. Đó là một ứng dụng cung cấp cho HS kinh nghiệm học tập phong phú hơn và tài liệu tham khảo tốt hơn. Google Earth có thể được sử dụng để khuyến khích HS tìm ra những thứ như Volcanos, và một số GV đã tạo ra một trò chơi giống như người thợ săn ngoài việc nghiên cứu các địa điểm. Loại dự án này có HS điều tra các địa điểm của các núi lửa khác nhau và sau đó cho phép họ áp dụng thông tin bằng cách khám phá và đánh dấu bằng cách sử dụng Google Earth. GV có thể kiểm tra Chương trình núi lửa Toàn cầu để truy cập vào các dấu vị trí của Google Earth Tại EarthAt Dominion University, sinh viên tạo tài liệu giảng dạy bằng Google Earth và Google Sketch-up bằng cách đưa ra một loạt các tệp KML chỉ vào các tấm kiến ​​tạo, thung lũng núi, núi lửa... Các sinh viên đã sử dụng Google Earth như một công cụ để trình bày các đại diện của động đất và dự báo các cơn dư chấn. Dự án khoa học Google Earth của trường đã nhận được tài trợ từ Quỹ Khoa học Quốc gia. Các trường trung học / tiểu học đã sử dụng Google Earth để dạy HS về vĩ độ và kinh độ bằng cách yêu cầu HS ghi lại tọa độ của các địa điểm. Tạo kế hoạch bài học phong phú về phương tiện sử dụng video và Wikipedia. Trên một bài đăng tại Random Connection đã chỉ ra quá trình làm thế nào Google Earth có thể được sử dụng để tạo ra các bài học tương tác cho HS. Bài báo đưa độc giả qua các bước sử dụng dấu vị trí, bảng phân tích Wikipedia và trình tạo vòng tròn KML để tìm và đánh dấu nghiên cứu trên bản đồ. Ngoài ra, đề cập đến video YouTube, Vimeo và TeacherTube có thể được đặt trong dấu vị trí của Google Earth như thế nào. Các GV có thể sử dụng các bước này để tạo các chuyến tham quan và bài học ảo tương tác cho HS. Và HS có thể đi đến các dấu vị trí khác nhau và xem các video có liên quan về vị trí . Như vậy trên thế giới, việc ứng dụng Google Earth vào dạy học, nhất là dạy học địa lí đã trở nên khá phổ biến và đem lại nhiều hiệu quả giáo dục. 2.2.2. Ở Việt Nam Trong dạy học ở Việt Nam, việc ứng dụng Google Earth vẫn còn khá hạn chế, mới chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm, thu phóng và hiển thị các đối tượng trên phần mềm. Tiêu biểu hơn cả là nghiên cứu “Sử dụng phần mềm Google Earth trong thiết kế bản đồ dạy học Lịch sử và Địa lí” của tác giả Lê Thiên Nhiên được đăng tải trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục số 49/9-2009. Tác giả khẳng định việc soạn bài giảng điện tử trong giảng dạy Lịch sử là rất khó khăn và tốn kém thời gian nhất là thiết kế và sử dụng hiệu quả bản đồ Lịch sử. Google Earth được đánh giá là đơn giản nhưng hiệu quả cao trong việc thiết kế các dạng bản đồ trong dạy học Lịch sử, Địa lí cũng như việc tạo các bản đồ câm trong việc kiểm tra, đánh giá HS. Năm 2015, thầy giáo Lê Văn Trung của trường THCS Tiên Lục (Lạng Giang - Bắc Giang) đã nghiên cứu và đưa ra sáng kiến kinh nghiệm “Phương pháp sử dụng sản phẩm ứng dụng Google Earth trong công tác dạy học địa lí”. Qua thực nghiệm giảng dạy, tác giả thấy rằng giờ học địa lí đã có sự thay đổi đáng kể, HS lĩnh hội kiến thức nhanh, tiếp nhận thông tin địa lí nhẹ nhàng hơn, học tập chủ động, sáng tạo không nặng nề và yêu thích, chú tâm vào bộ môn hơn. Năm 2016, tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng đã tiến hành nghiên cứu “Sử dụng Google Earth trong dạy học môn địa lí ở trường THCS” và đã đề xuất được một số hướng khai thác hiệu quả phần mềm Google Earth nhằm hỗ trợ cho việc dạy học địa lí ở trường THCS. Gần đây nhất, PGS.TS Đỗ Vũ Sơn – Giảng viên trường ĐHSP Thái Nguyên đã có những nghiên cứu trong việc “Trải nghiệm sáng tạo Địa lí bằng Địa cầu ảo 3D Google Earth” và đưa ra được các hoạt động trải nghiệm trên Google Earth mà giáo viên có thể tự thiết kế như: - Tổ chức tham quan, tìm hiểu địa phương qua du lịch ảo bằng Google Earth - Tìm hiểu sự vận động của lớp vỏ Trái Đất qua các thời kì (Thuyết Kiến tạo mảng) - Tìm hiểu các châu lục trên Trái Đất - Tổ chức du lịch ảo các thành phố lớn, các địa danh nổi tiếng trên thế giới - Tìm hiểu văn hóa các dân tộc trên Thế giới. Như vậy, có thể thấy rằng: việc ứng dụng Google Earth trong việc dạy học Địa lí đã có hiệu quả nhất định, tuy phần lớn mới chỉ khai thác đến các chức năng cơ bản. Các nghiên cứu vẫn chưa khai thác được hết các tính năng vượt trội của phần mềm như chức năng 3D, chức năng mô hình hóa, chức năng hiển thị dữ liệu đa thời gian, Trong khi đó, các chức năng này có thể đem lại nhiều thế mạnh trong việc hỗ trợ dạy học theo hướng trực quan sinh động. Do vậy, việc đề xuất các hướng khai thác mới trong Google Earth vẫn còn là chủ đề cần tiếp tục được nghiên cứu. 3. Mục đích nghiên cứu Nhằm giúp người học thấy được tầm quan trọng, tính tất yếu, tính hiệu quả của việc kết hợp dạy học trên lớp và ứng dụng công nghệ thông tin đối với quá trình học tập, dạy học môn Địa lí cho đối tượng học sinh THPT. Đồng thời đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập và hình thành cho các em các năng lực tư duy, năng lực chủ động, năng lực sáng tạo trong tập trên lớp và được trải nghiệm những ứng dụng của tin học ngay trong quá trình dạy và học địa lí nói chung và địa lí 11 nói riêng ở trường THPT. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 1) Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc ứng dụng phần mềm Google Earth trong dạy học môn Địa lí lớp 11 THPT. 2) Thiết kế quy trình ứng dụng Google Earth trong dạy học địa lí; thiết kế một số giáo án địa lí 11 ứng dụng Google Earth; 3) Triển khai dạy học thực nghiệm tại một số trường THPT và đánh giá kết quả thực nghiệm; khảo sát ý kiến người học, giáo viên và chuyên gia; 4) Đánh giá đề tài nghiên cứu. 5. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu quy trình và cách thức ứng dụng CNTT, cụ thể là phần mềm Google Earth trong dạy học địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. 6. Phạm vi nghiên cứu - Về chuyên môn: Ứng dụng phần mềm Google Earth trong dạy học môn Địa lí lớp 11 THPT (Ban cơ bản); - Về không gian: Một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; - Về thời gian: Năm học 2017 - 2018; 7. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu. 7.1. Quan điểm nghiên cứu 7.1.1. Quan điểm giáo dục định hướng phát triên năng lực Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Giáo dục định hướng năng lực nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức. Trong quá trình học tập cần tăng cường việc học tập trong nhóm, mối quan hệ giữa GV – HS cần thân thiện, gần gũi hơn theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy các năng lực xã hội cần thiết cho cuộc sống. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của từng môn học cần bổ sung chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. 7.1.2. Quan điểm công nghệ dạy học Quan điểm công nghệ dạy học cũng là một quan điểm chi phối đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Công nghệ dạy học đồng nhất với việc sử dụng vào dạy học các phát minh, các sản phẩm công nghệ hiện địa, các phương tiên, thiết bị hiện đại, các hệ thống kĩ thuật và phương tiện hỗ trợ để cải tiến quá trình học tập của HS, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục. Như vậy, công nghệ dạy học coi quá trình dạy học như một quy trình công nghệ, có mục đích rõ rang, có đầu vào, đầu ra và có quá trình tác động. Hiện nay, công nghệ dạy học đang là một hướng tiếp cận quan trong để đổi mới PPDH Địa lí trong nhà trường phổ thông. GV cần vận dụng quan điểm này vào quá trình thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT để dạy học Địa lí trong trương THPT theo hướng tích cực theo định hướng phát triển năng lực người học. 7.1.3. Quan điểm hệ thống Hệ thống là tập hợp các thành tố tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn, tương đối ổn định và vận động theo quy luật tổng hợp. Mỗi hệ thống bao giờ cũng có một cấu trúc và gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố lại có những cấu trúc nhỏ hơn. Như vậy hệ thống nhỏ bao giờ cũng nằm trong hệ thống lớn. Mỗi thành tố của hệ thống lại là một bộ phận độc lập, có chức năng riêng và luôn vận động theo quy luật của toàn hệ thống. Các thành tố của hệ thống có mối quan hệ biện chứng với nhau bằng quan hệ vật chất và quan hệ chức năng. Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trên cơ sở của mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Tức là các sự vật, hiện tượng tồn tại và phát triển trong một hệ thống. Trong giáo dục, các thành tố như mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, GV, HS và môi trường giáo dục có quan hệ mật thiết với nhau, có cấu trúc nhất định và cùng phát triển trong một hệ thống. Nếu có sự thay đổi thành phần này sẽ kéo theo sự thay đổi thành phần khác. Mục tiêu giáo dục hiện nay là trang bị cho HS khả năng độc lập, sáng tạo. Do đó, nội dung dạy học, phương pháp dạy học cũng phải thay đổi. Xu hướng thay đổi phương pháp dạy học hiện nay là nhằm phát huy hơn nữa vai trò chủ động của người học, tìm cách giúp cho học sinh có động cơ, thái độ và phương pháp học tập đúng đắn. Vận dụng quan điểm hệ thống để làm nổi bật mối quan hệ giữa: Phương pháp dạy học – CNTT – Phương tiện. Qua đó tìm ra quy trình hợp lí trong việc sử dụng CNTT vào dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và phát triển năng lực của học sinh trong học tập môn Địa Lí lớp 11 ở nhà trường THPT. 7.1.4. Quan điểm tổng hợp Trong nghiên cứu Địa lí, việc vận dụng quan điểm tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, điều đó bắt nguồn từ chính đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học này. Các hiện tượng địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội rất phong phú và đa dạng chúng có quá trình hình thành, phát triển trong mối quan hệ nhiều chiều giữa bản thân các hiện tượng đó với nhau và giữa chúngvới các hiện tượng khác. Các đối tượng đó rất phong phú và đa dạng, chúng có mối liên hệ tác động lẫn nhau. Vì vậy trong quá trình nghiên cứu sử dụng quan điểm tổng hợp để thấy được mối liên hệ của nó để vận dụng trong dạy học tích hợp. 7.1.5. Quan điểm lịch sử Các đối tượng, hiện tượng đều tồn tại và phát triển trong một thời gian nhất định. Vì vậy cần vận dụng quan điểm này để gắn liền giữa lí luận và thực tiễn, từ đó có cái nhìn khách quan về vấn đề nghiên cứu. Đồng thời khi xem xét quá khứ và hiện tại của các đối tượng, ở một mức độ nhất định có thể dự đoán được tương lai của chúng. Trong dạy học cần phải nhìn nhận về lịch sử đã đi qua, từ đó nhận thấy những mặt chưa tốt của các phương pháp, phương tiện dạy học. Đánh giá các phương pháp, phương tiện đó có phù hợp với thời buổi phát triển ngày nay. Từ đó, đưa ra những giải pháp tốt nhất cho dạy học và tìm ra mối liên hệ giữa chúng. Trong nghiên cứu đề tài vận dụng quan điểm lịch sử để tiến hành nghiên cứu tìm hiểu làm rõ vấn đề trong đề tài. 7.1.6. Quan điểm thực tiễn Quan điểm thực tiễn là luận điểm quan trọng của phương pháp luận, nó yêu cầu phải bám sát sự phát triển của thực tiễn sinh động. Thực tiễn là toàn bộ các hoạt động vật chất có tính lịch sử - xã hội của con người. Thực tiễn là động lực thúc đẩy quá trình triển khai mọi hoạt động nghiên cứu khoa học. Vì vậy trong dạy học hiện nay, xã hội ngày càng phát triển thì cần phải dựa trên thực tiễn xã hội hiện nay để tìm ra những phương pháp tốt, sử dụng những phương tiện như thế nào để đạt được hiệu quả cao. Qua thực tiễn để thấy được mối liên hệ giữa các môn học để thiết kế được bài giảng có nội dung tích hợp đạt hiệu quả cao nhất và là xu hướng cho sự phát triển giáo dục trong tương lai. 7.2. Phương pháp nghiên cứu 7.2.1. Phương pháp thu thập, phân tích và hệ thống hóa tài liệu - Căn cứ vào mục đích nhiệm vụ của đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập, phân tích tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như trong các sách báo, tạp chí, các luận văn, các công trình đề tài nghiên cứu khoa học, các phần mềm nghiên cứu ứng dụng vào học tập có liên quan. - Để việc thiết kế bài giảng đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục, tác giả chú ý đến việc nghiên cứu tài liệ
Luận văn liên quan