Tái cấu vốn và giảm chi phí sử dụng cảu doanh nghiệp

Cấu trúc tài chính là sự kết hợp của nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu. Hay nói cách khác, cấu trúc tài chính phản ảnh thành phần và tỉ trọng của từng nguồn vốn trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Cấu trúc tài chính thể hiện phần nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán và có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau. Nếu từ góc độ quan hệ sở hữu thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn là nguồn vốn chủ sở hữu và khoản nợ phải trả. Một cấu trúc tài chính hợp lý phải phản ảnh sự kết hợp hài hòa giữa số nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trong những điều kiện nhất định nhằm mục đích tối đa quá lợi nhuận vốn chủ sở hữu, giảm thiểu tới mức thấp nhất chi phí sử dụng vốn và rủi ro cho doanh nghiệp.

doc63 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 3211 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tái cấu vốn và giảm chi phí sử dụng cảu doanh nghiệp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CHI PHÍ SỬ DỰNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP I- LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN: 1/. Khái niệm Cấu trúc tài chính: Cấu trúc tài chính là sự kết hợp của nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu. Hay nói cách khác, cấu trúc tài chính phản ảnh thành phần và tỉ trọng của từng nguồn vốn trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Cấu trúc tài chính thể hiện phần nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán và có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau. Nếu từ góc độ quan hệ sở hữu thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn là nguồn vốn chủ sở hữu và khoản nợ phải trả. Một cấu trúc tài chính hợp lý phải phản ảnh sự kết hợp hài hòa giữa số nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trong những điều kiện nhất định nhằm mục đích tối đa quá lợi nhuận vốn chủ sở hữu, giảm thiểu tới mức thấp nhất chi phí sử dụng vốn và rủi ro cho doanh nghiệp. 2/ Khái niệm về Cấu trúc vốn: 2.1/. Khái niệm: Cấu trúc vốn là sự kết hợp số lượng nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư tại Doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra ở đây là liệu một Công ty nào đó có thể tác động đến giá trị chi phí sử dụng vốn của nó bằng cách thay đổi cấu trúc vốn hay không? Và quyết định đầu tư hay không đầu tư vào một dự án nào đó có thể thay đổi không và thu nhập của cổ đông thay đổi hay không ? Mục tiêu của bài này là xem xét và phân tích sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên giá trị Doanh nghiệp và thu nhập của Cổ đông. 2.2. Thành phần của cấu trúc vốn: a. Nợ ngắn hạn: Là những khoản nợ có thời gian đáo hạn trong vòng 1 năm. Bao gồm các thành phần sau: + Vay ngắn hạn ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác + Khoản phải trả cho người cung cấp: đây chính là những khoản mua chịu hàng hóa, dịch vụ, đi thuê tài chính ngắn hạn, các khoản nợ tích lũy. + Khoản phải trả cho công nhân viên: là khoản tiền lương, tiền thưởng, tiền phúc lợi xã hội, tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp chậm trả. + Khoản nhận trước của khách hàng: là doanh thu cung ứng hàng hóa, dịch vụ, mà doanh nghiệp đã nhận tiền nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ cung ứng. b. Nợ dài hạn: Bao gồm những khoản nợ trung hạn và dài hạn từ trên 1 năm trở lên nhưng thuê tài chính, vay có kỳ hạn, mua hàng trả chậm và các khoản nợ khác. Những khoản nợ dài hạn từ 1 năm trở lên bao gồm: + Vay dài hạn của ngân hàng. + Vay do phát hành trái phiếu. c. Nguồn vốn chủ sở hữu: Là nguồn vốn thuộc về các chủ sở hữu, đây là nguồn vốn không thể thiếu trong một doanh nghiệp, nó tạo ra khả năng tự chủ tài chính cho doanh nghiệp, nguồn vốn này gồm: + Vốn điều lệ: Là mức vốn ban đầu để cho doanh nghiệp hoạt động được ghi trong điều lệ của Công ty. Đối với doanh nghiệp Nhà nước đây là nguồn vốn do ngân sách Nhà nước cấp. Đối với Công ty cổ phần, nguồn vốn này được huy động từ việc phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi. Cổ phần thường là phần đóng góp của cổ đông, là nguồn cung ứng vốn đầu tiên cho một Công ty cổ phần mới thành lập và cũng là căn cứ để hỗ trợ doanh nghiệp vay thêm nợ. + Các nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn trong các quỹ được trích lập từ lợi nhuận để lại. II- LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN TỐI ƯU: 1/- Khái niệm Cấu trúc vốn tối ưu Cấu trúc vốn tối ưu là cấu trúc vốn khi sử dụng nợ để tài trợ phải thỏa mãn được 3 mục đích cho nhà đầu tư. - Tối đa hóa EPS. - Tối thiểu hóa rủi ro. - Tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn. Một Công ty, có thể có một cấu trúc tối ưu bằng cách sử dụng đòn bẩy tài chính phù hợp. Như vậy Công ty có thể hạ thấp chi phí sử dụng vốn thông qua việc gia tăng sử dụng nợ (Vì khi sử dụng nợ Công ty sẽ được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế). Tuy nhiên khi tỷ lệ nợ gia tăng thì rủi ro cũng gia tăng do đó nhà đầu tư sẽ gia tăng tỷ lệ nhận đòi hỏi rE. Mặc dù sự gia tăng rE lúc đầu cũng không hoàn toàn xóa sạch lợi ích việc sử dụng nợ như: Là một nguồn vốn rẽ hơn cho đến khi nào nhà đầu tư tiếp tục gia tăng lợi nhuận đòi hỏi khiến cho lợi ích của việc sử dụng nợ không còn nữa. 2/. Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn tối ưu: Khi thiết lập một cấu trúc vốn tối ưu ta cần chú ý đến một số yếu tố ảnh hưởng như sau: 2.1- Rủi ro Doanh nghiệp: Rủi ro phát sinh đối với tài sản của Công ty ngay cả Công ty không sử dụng nợ. Công ty nào có rủi ro Doanh nghiệp càng lớn thì càng hạ thấp tỷ lệ tối ưu. 2.2- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Do lãi và yếu tố chi phí trước thuế nên sử dụng nợ giúp Công ty tiết kiệm thuế. Tuy nhiên điều này sẽ không còn ý nghĩa nữa đối với những Công ty nào được ưu đãi hay vì lý do gì đó mà thuế thu nhập ở mức thấp. 2.3- Sự chủ động về tài chính: Sử dụng nợ nhiều làm giảm đi sự chủ động về tài chính đồng thời làm xấu đi tình hình bảng cân đối tài sản khiến cho những nhà cung cấp vốn ngần ngại cho vay đầu tư vốn vào Công ty. 2.4- Các tiêu chuẩn ngành: Cấu trúc vốn giữa các ngành công nghiệp khác nhau rất nhiều. Các nhà phân tích tài chính, các Ngân hàng đầu tư, các cơ quan xếp hạng trái phiếu, các nhà đầu tư cổ phần thường và các ngân hàng thương mại thường so sánh rủi ro tài chính của Doanh nghiệp, đo lường bởi các tỷ số khả năng thanh toán lãi vay, khả năng thanh toán chi phí tài chính cố định và tỷ lệ đòn bẩy với các tiêu chuẩn hay định mức của ngành hoạt động. Tóm lại các nghiên cứu về tác động của ngành hoạt động đối với cấu trúc vốn thường đi tới kết luận là có một cấu trúc vốn tối ưu cho các Doanh nghiệp cá thể. 2.5- Tác động của tín hiệu: Khi Doanh nghiệp phát hành chứng khoán mới, sự kiện này có thể được coi là đang cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về viễn cảnh tương lai của Doanh nghiệp hay các hoạt động tương lai do các Giám đốc của Doanh nghiệp hoạch định. Những tín hiệu do các thay đổi cấu trúc vốn cung cấp là đáng tin cậy vì nếu có dòng tiền tương lai không xảy ra, Doanh nghiệp phải chịu số tiền phạt tức chi phí phá sản có thể có. Nói chung, các nghiên cứu về thay đổi cấu trúc vốn đều cho rằng các cung ứng chứng khoán mới đưa tới các đáp ứng giá chứng khoán giảm. Việc mua lại cổ phần thường là sẽ đưa tới các lợi nhuận được công bố dương lớn từ cổ phần của Doanh nghiệp. Các hành động làm tăng đòn bẩy tài chính thường gắn với thu nhập cổ phần dương và các hành động làm giảm đòn bẩy tài chính gắn với thu nhập cổ phần âm. Vì vậy khi một Doanh nghiệp thực hiện quyết định thay đổi về cấu trúc vốn, Doanh nghiệp phải chú ý đến tín hiệu có thể có về các viễn cảnh thu nhập tương lai và hiện tại của Doanh nghiệp cũng như các dự định của các Giám đốc mà giao dịch đề xuất sẽ chuyển đến thị trường. 2.6- Tác động của ưu tiên quản trị: Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng có thể không có một cấu trúc vốn mục tiêu riêng và hàm ý rằng các Doanh nghiệp thích tài trợ nội bộ hơn. Các Giám đốc điều chỉnh tỷ lệ chi trả cổ tức để tránh việc bán cổ phần thường bên ngoài trong khi tránh các thay đổi lớn trong số lượng cổ phần. Nếu cần phải có tài trợ từ bên ngoài, các chứng khoán an toàn nhất nên được phát hành trước. Cụ thể nợ thường là chứng khoán đầu tiên được phát hành và bán ra bên ngoài là giải pháp cuối cùng. Ưu tiên cho tài trợ nội bộ dựa trên ước muốn tránh các biện pháp kỷ luật và giám sát sẽ xảy ra khi bán chứng khoán mới cấu tạo công chúng. 2.7- Các hàm ý về quản trị của lý thuyết cấu trúc vốn: Quyết định cấu trúc vốn là một trong những quyết định trọng tâm quan trọng mà các giám đốc tài chính phải quan tâm. Trước hết, hầu như chắc chắn rằng các thay đổi trong cấu trúc vốn sẽ đưa đến các thay đổi trong giá trị thị trường của Doanh nghiệp. Thứ hai, lợi ích của tấm chắn thuế từ nợ đưa đến giá trị Doanh nghiệp gia tăng, ít nhất đến điểm mà chi phí đại lý và chi phí phá sản gia tăng làm bù trừ lợi thế của nợ. Thứ ba, cấu trúc voán tối ưu chịu ảnh hưởng nặng nề bởi rủi ro kinh doanh của Doanh nghiệp. Thứ tư, khi các giám đốc thực hiện các thay đổi thể hiện trong cấu trúc vốn của Doanh nghiệp, các hành động này sẽ chuyển các thông tin quan trọng đến các nhà đầu tư. 2.8- Các vấn đề đạo đức: Tác động của mua lại bằng vốn vay (LBO) đối với cổ đông: Mua lại bằng vốn vay đặt ra các vấn đề đạo đức quan trọng. Các quyền lợi có tính cạnh tranh của cổ đông sẽ được giải quyết như thế nào trong các mua lại bằng vốn vay và các giao dịch tài chính quan trọng khác? Tuy nhiên, các câu hỏi này ít khi có được câu trả lời đơn giản. Một vài vấn đề cần xem xét khi thảo luận về tính đạo đức của việc mua lại bằng vốn vay: . Có phải việc duy trì số lượng nhân viên và các cơ sở hoạt động không hiệu quả là giảm khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp với các Doanh nghiệp khác vì lợi ích lâu dài của nhân viên hay không? . Trong các giao dịch mua lại bằng vốn vay, các trái chủ có thực sự bị thiệt hại khi tính đến các điều khoản bảo vệ trong hợp đồng ký kết lúc họ mua trái phiếu với mối liên hệ giữa lợi tức trái phiếu và thỏa hiệp bảo vệ không ? Các đòi hỏi của nhà cho vay và các cơ quan xếp hạng trái phiếu thường định ra các giới hạn cho việc chọn lựa cấu trúc vốn của Doanh nghiệp như là một điều kiện để cung cấp tín dụng hay duy trì xếp hạng của trái phiếu hoặc cổ phần ưu đãi. 3. Quy trình hoạch định cấu trúc vốn trong thực tế: 3.1. Phân tích EBIT – EPS: Phân tích quan hệ EBIT – EPS là phân tích sự ảnh hưởng của những phương án tài trợ khác nhau đối với lợi nhuận trên cổ phần. Từ sự phân tích này, chúng ta sẽ tìm một điểm bàng quan (indifferent poit), tức là điểm của EBIT mà ở đó các phương án tài trợ đều mang lại EPS như nhau. Mục tiêu của chúng ta là phân tích để tìm ra điểm bàng quan, tức là điểm mà ở đó các phương án tài trợ đều mang lại EPS như nhau. Trước hết, chúng ta xác định EPS theo công thức sau: EPS = (EBIT – R) (1 - T) - Dp NE Trong đó: R: là lãi suất hàng năm phải trả T: là thuế suất thuế thu nhập của Công ty Dp: là lợi tức của cổ phần ưu đãi NE: là số lượng cổ phần thông thường Để xác định EPS của Công ty theo 3 phương án tài trợ, chúng ta lập bảng tính toán dưới đây: Bảng tính EPS theo 3 phương án tài trợ: Phương án tài trợ Cổ phiếu Thường Nợ Cổ phiếu ưu đãi Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) Lãi vay (R) Lợi nhuận trước thuế (EBIT) Lợi nhuận thu nhập Doanh nghiệp (40%) Lợi nhuận sau thuế (EAT) Cổ tức cổ phiếu ưu đãi (DP) Lợi nhuận dành cho cổ đông thường Số lượng cổ phần (NE) Lợi nhuận trên cổ phần (EPS) Dựa vào bảng tính toán trên chúng ta có thể xác định điểm bàng quan bằng một trong hai phương pháp: phương pháp hình học và phương pháp đại số. a) Xác định điểm EBIT hoà vốn bằng phương pháp hình học: Sử dụng đồ thị biểu diễn quan hệ giữa EBIT và EPS chúng ta có thể tìm ra được điểm EBIT hoà vốn, tức là điểm giao nhau giữa các phương án tài trợ ở đó EBIT theo bất kỳ phương án nào cũng mang lại EPS như nhau. Để làm được điều này chúng ta xây dựng đồ thị như trên hình vẽ. Đối với mỗi phương án, chúng ta lần lượt vẽ đường thẳng phản ánh quan hệ giữa EPS với tất cả các điểm của EBIT. Đồ thị xác định điểm hòa vốn EBIT theo 3 phương án. 7 - EPS ($) 1 2 3 4 Nôï CP öu ñaõi CP thöôøng EBIT(trieäu$) 4- 6 - 5 - 3 - 1- 2 - 0 - 2.7 Trên hình vẽ, hai điểm cắt nhau giữa đường thẳng cổ phiếu thường với đường thẳng cổ phiếu nợ và cổ phiếu ưu đãi cho chúng ta hai điểm hòa vốn EBIT vì ở điểm đó các phương án tài trợ đều đem lại cùng EPS. b) Xác định điểm EBIT hoà vốn bằng phương pháp đại số : Phương trình xác định điểm hòa vốn (EBIT) của hai phương án tài trợ 1 và 2 như sau : EPS 1 = EBIT (1 – T) (EBIT – R) (1 - T) EPS2 = NE NDE Khi EPS1 = EPS2 thì : EBIT (1 – T) (EBIT – R) (1 - T) = NE NDE Vôùi NE tiêu biểu cho số cổ phần thường chưa chi trả tương ứng của phương án tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần. NDE : Tiêu biểu cho số cổ phần thường chưa chi trả của phương án tài trợ có đòn bẩy tài chính (PA2). EBIT và EBIT hoà vốn giữa hai phương án tài trợ 1 và 2. * Ý nghĩa của điểm hoà vốn: Từ phương pháp hình học cũng như phương pháp đại số chúng ta tìm thấy điểm EBIT hoà vốn giữa hai phương án tài trợ và nợ cổ phiếu thường . Điều này có nghĩa là nếu EBIT thấp hơn điểm EBIT hoà vốn thì phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường tạo ra được EPS cao hơn phương án tài trợ bằng nợ, nhưng nếu EBIT vượt qua điểm hoà vốn thì phương án tài trợ bằng nợ mang lại EPS cao hơn phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường. Tương tự điểm hoà vốn giữa hai phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi . Nếu EBIT nằm dưới điểm này thì phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường tạo ra EPS cao hơn phương án tài trợ bằng cổ phiếu ưu đãi, nhưng nếu EBIT vượt qua điểm hoà vốn thì phương án tài trợ bằng cổ phiếu ưu đãi mang lại EPS cao hơn phương án tài trợ cổ phiếu thường. 3.2 Quy trình hoạch định cấu trúc vốn trong thực tế: Quy trình gồm 5 bước: - Bước 1: Tính toán mức EBIT dự kiến sau khi mở rộng hoạt động. Căn cứ trên kinh nghiệm hoạt động đã qua và một dự kiến về tác động của việc mở rộng kinh doanh - Bước 2: Ước lượng tính khả năng của mức EBIT naøy thông qua việc xác định độ lệch EBIT. - Bước 3: Tính toán điểm hòa vốn EBIT giữa hai phương án tài trợ đề xuất so sánh EBIT dự kiến với EBIT hòa vốn để ra quyết định tài trợ. - Bước 4: Phân tích các ước lượng này trong bối cảnh rủi ro mà Công ty sẵn sàng chấp nhận. - Bước 5: Xem xét các chứng cứ thị trường để xác định cấu trúc vốn đề xuất có quá rủi ro không. Ở bước này nhà đầu tư sẽ dùng phân phối chuẩn thông qua điểm Z để đo lường khả năng xảy ra rủi ro cho phương án tài trợ được đề xuất. Giả sử nếu phải so sánh giữa 2 phương án: Tài trợ hoàn toàn vốn cổ phần với phương án tài trợ nợ và vốn cổ phần thì rủi ro này được xác định qua 2 điểm như sau: + Z1: Đo lường khả năng xảy ra tình trạng phương án tài trợ Nợ – Vốn cổ phần không tốt bằng phương án tài trợ hoàn toàn vốn cổ phần: + Z2 : Đo lường khả năng xảy ra tình trạng EBIT phương án tài trợ nợ và vốn cổ phần đem đến EPS < 0 : Z2 : III/ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN LÊN DOANH LỢI VÀ RỦI RO: 1/ Mối quan hệ giữa rủi ro tài chính và đòn bẩy tài chính: Khái niệm rủi ro tài chính: Là tính khả biến tăng thêm của thu nhập mỗi cổ phần và xác suất mất khả năng chi trả xảy ra khi một doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn có chi phí tài chính cốđđđịnh như nợ và cổ phần ưu đđãi trong cấu trúc vốn của mình. Mất khả năng chi trả xảy ra khi một doanh nghiệp không thể đđáp ứng các nghĩa vụ tài chính theo hợpđđđồng như thanh toán lãi và vốn vay, thanh toán các khoản phải trả và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp khi đđáo hạn. Một phần của rủi ro tài chính là có hệ thống và phần còn lại là rủi ro không hệ thống. 1.2 Khái niệm đòn bẩy tài chính: Đòn bẩy tài chính là một đòn bẩy kinh tế xảy ra khi một phần tài sản của Doanh nghiệp được tài trợ bằng những nguồn vốn phải trả chi phí tài chính cố định như tài trợ bằng cổ phần ưu đãi, bằng nợ hoặc nói cách khác đòn bẩy tài chính là loại đòn bẩy sử dụng tiềm năng của chi phí tài chính cố định để khuyếch đại thu nhập cho chủ sở hữu (EPS). 2/. Phân tích tác động của đòn bẩy tài chính đối với thu nhập và rủi ro của cổ đông thông qua phân tích mối quan hệ giữa EBIT và EPS: Các Doanh nghiệp thường sử dụng đòn bẩy tài chính để tăng thu nhập cho cổ đông. Tuy nhiên việc đạt được lợi nhuận gia tăng này sẽ kéo theo gia tăng rủi ro. Để thấy rõ tác động của đòn bẩy tài chính đối với thu nhập và rủi ro của cổ đông. Đòn bẩy tài chính luôn mang tính hai mặt: Một mặt sử dụng và gia tăng đòn bẩy tài chính có thể tối đa hóa thu nhập cho chủ sở hữu khi ROA> 0 và ROA > rD thì khi gia tăng đòn bẩy tài chính sẽ làm cho thu nhập của chủ sở hữu cao sẽ cao hơn nữa. Mặt khác sử dụng và gia tăng đòn bẩy tài chính có thể đưa cổ đông đến một rủi ro lớn hơn nghĩa là khi ROA < rD cũng việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ làm cho thu nhập của chủ sở hữu giảm thấp hơn nữa. Đặc biệt nghiêm trọng hơn khi doanh nghiệp hoạt động bị thua lỗ không có khả năng thanh toán lãi vay, thì việc sử dụng và gia tăng đòn bẩy tài chính sẽ khuyếch đại lỗ lên rất nhiều và nhanh chóng đưa Doanh nghiệp đi đến phá sản. * Tấm chắn thuế từ lãi vay: Khi Công ty sử dụng nợ dài hạn để tài trợ thì Công ty luôn nhận được một khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế của lãi vay. Đây được xem là lợi ích chủ yếu có được từ việc vay nợ. Khoản sinh lợi này cũng được coi như là một khoản mà chính phủ đã trợ cấp cho các Công ty dưới hình thức giảm thuế để khuyến khích các Công ty sử dụng các khoản vay nợ. Gọi T là thuế suất thu nhập Doanh nghiệp và R là lãi vay, thì khoản nợ cấp này hàng năm sẽ là (T x R) Do đó khi Công ty sử dụng càng nhiều nợ vay thì khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế của lãi vay càng lớn. Tuy nhiên Công ty cũng cần chú ý là khi gia tăng nợ vay ngày càng lớn thì rủi ro tài chính mà Công ty gánh chịu cũng ngày càng gia tăng. Do đó Công ty nên thận trọng cân nhắc kỹ trước khi quyết định gia tăng nợ vay trong cấu trúc vốn. * Rủi ro tài chính và độ nghiêng đòn bẩy tài chính: Có thể dùng nhiều tỷ số tài chính khác nhau để đo lường rủi ro gắn với việc sử dụng nợ và cổ phần ưu đãi trong cấu trúc vốn của Doanh nghiệp. Các tỉ số này bao gồm tỷ số nợ trên tổng tài sản, tỷ số nợ trên vốn cổ phần thường, tỷ số khả năng thanh tóan lãi vay. Bây giờ, một phương pháp khác để đo lường rủi ro tài chính của một Doanh nghiệp là độ nghiêng đòn bẩy tài chính (DFL). Độ nghiêng đòn bẩy tài chính là thước đo độ nhạy cảm tính không chắc chắn của EPS khi EBIT thay đổi cụ thể độ nghiêng đòn bẩy tài chính được tính như phần trăm thay đổi trong thu nhập mỗi cổ phần do phần trăm thay đổi trong EBIT. DFL tại X = Phần trăm thay đổi trong EPS Phần trăm thay đổi trong EBIT Hay: DFL = DEPS EPS DEBIT EBIT Với DEPS và DEBIT là các thay đổi trong EPS và EBIT. Vì DFL của một Doanh nghiệp khác nhau ở mỗi mức EBIT cần xác định điểm X tại đó muốn tính đòn bẩy. Công thức đo lường DFL của một Doanh nghiệp khá bất tiện vì cần sử dụng hai dự báo về EBIT và EPS, đòi hỏi phải có số liệu ít nhất của hai kỳ. Và sau đây là những công thức thường dùng: . Cấu trúc vốn gồm cổ phần thường và nợ: DFL = (2) Q(P - V) – F Q(P - V) – F – R . Cấu trúc vốn gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, nợ: DFL = (3) Q(P - V) – F Q(P - V) – F – R - Với Q là sản lượng sản phẩm tiêu thụ dự định P là giá bán một sản phẩm V là biến phí cho một đơn vị sản phẩm F là định phí sản xuất chung R là chi phí trả lãi vay Dp là cổ tức cổ phần ưu đãi Thường là thuế suất thuế thu nhập Doanh nghiệp Lưu ý: . Không giống như lãi vay, lợi tức cổ phần ưu đãi không được khấu trừ thuế. Vì vậy để thấy được tác động của lãi vay và lợi tức cổ phần ưu đãi đến rủi ro tài chính chúng ta phải đặt lãi vay và lợi tức cổ phần ưu đãi trên 1 cơ sở trước thuế tương đương nhau: . Công thức (2) (3) được dùng để xác định DFL của những Doanh nghiệp chỉ sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm. . Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm DFL được tính như sau: Cấu trúc vốn gồm cổ phần thường và nợ: DFL = EBIT EBIT – R Cấu trúc vốn gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi và nợ: DFL = EBIT EBIT – R - . Doanh nghiệp có thể thay đổi DFL bằng cách tăng hay giảm các chi phí tài chính cố định. Số lượng chi phí hoạt động tài chính cố định của một Doanh nghiệp tùy thuộc vào hỗn hợp giữa nợ và vốn cổ phần thường trong cấu trúc vốn của mình. Như vậy một Doanh nghiệp có tỷ lệ nợ và cổ phần ưu đãi tương đối lớn trong cấu trúc vốn sẽ có chi phí tài chính cố định tương đối lớn và một DFL cao. 3/ Chi phí sử dụng vốn : Chi phí sử dụng vốn là chi phí mà doanh nghiệp, nhà đầu tư phải trả cho việc sử dụng các nguồn tài trợ. Vốn đầu tư gồm: + Vay dài hạn. + Vốn cổ phần + Cổ phần ưu đãi + Lợi nhuận giữ lại 3.1/ Chi phí sử dụng nợ: Công ty có thể huy động nợ dưới hình thức vay của các tổ chức tín dụng tài chính trung gian hay dưới hình thức phát hành trái phiếu. a/. Chi phí sử dụng nợ trước thuế (rD): Nếu Công ty huy động nợ dưới hình thức là vay của các tổ chức tài chính trung gian thì chi phí sử dụng nợ trước thuế là lãi suất thỏa thuận giữa hai bên. Nếu là phát hành trái phiếu thì chi phí sử dụng nợ trước thuế là lãi suất trái phiếu khi đáo hạn. Có hai loại trái phiếu: Trái phiếu zero coupon lãi suất tr
Luận văn liên quan