Tiểu luận Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam thời kỳ mở cửa

Trong cuộc sống hàng ng ày bất kỳ ai cũng ph ải thực h iện trao đổ i, mua sắm những hàng hóa nhu yếu phẩm để thỏa mãn nhu cầu của bản thân và gia đình. Việc trao đổi mu a sắm ấy có thể được thực hiện ở các chợ trời truyền thống hay trong các trung tâm mua sắm hiện đại mà chúng ta quen gọ i là các siêu thị, cho dù việc này diễn ra ở đâu cũng tạo nên sự sô i động cho thị trường bán lẻ . Thị trường bán lẻ ở Việt Nam hiện nay ngày càng phát triển v ới sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước cũng như nước ngoài đặc biệt là sau kh i nước ta mở củ a th ị trường bán lẻ theo đúng lộ trình mở của th ị trường bán lẻ theo đúng cam kết khi g ia nhập vào WTO. Vậy với việc mở cửa thị trường bán lẻ thì các Doanh ngh iệp bán lẻ Việt Nam sẽ có những cơ hộ i gì và phải đối mặt với những khó khăn thách thức ra sao? Để giải thích điều đó chúng ta hãy cùng nhau đ i sâu ph ân tích tình hình và những đặc điểm, những điểm mạnh đ iểm yếu của các do anh nghiệp bán lẻ, để từ đó tìm ra các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của của các doanh nghiệp trong nước. Nhóm thuyết trình số 6 với đề tài “Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam thời kỳ mở cửa” sẽ mang lại cái nhìn tổng quát nhất về các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

pdf18 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 2040 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam thời kỳ mở cửa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tiểu luận Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam thời kỳ mở cửa - 1 - MỤC LỤC Lời nói đầu................................................................................................................. Tr. 2 I. Quá trình mở cửa:.................................................................................................. Tr. 3 1. Trước năm 2008 2. Năm 2008 3. Năm 2009 II. Điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam:.............................. Tr. 5 1. Điểm mạnh 2. Điểm yếu III. Cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam: .................................. Tr. 7 1. Cơ hội cho doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam a. Cơ hội từ tiềm năng của thị trường b. Cơ hội từ việc mở cửa thị trường bán lẻ 2. Thách thức đối v ới doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam IV. Giải pháp: ............................................................................................................ Tr. 11 1. Giải pháp từ phía nhà nước 2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp Phụ lục ....................................................................................................................... Tr. 13 1. Bán lẻ 2. Chỉ tiêu GRDI 3. Kiểm tra nhu cầu kinh tế ENT 4. Chỉ số niềm tin người tiêu dùng CCI 5. Nhượng quyền thương mại 6. Dịch vụ h ậu cần Logistics Tài liệu tham khảo ..................................................................................................... Tr. 15 - 2 - LỜI NÓI ĐẦU Trong cuộc sống hàng ngày bất kỳ ai cũng ph ải thực hiện trao đổ i, mua sắm những hàng hóa nhu yếu phẩm để thỏa mãn nhu cầu của bản thân và gia đình. Việc trao đổi mua sắm ấy có thể được thực hiện ở các chợ trời truyền thống hay trong các trung tâm mua sắm hiện đại mà chúng ta quen gọi là các siêu thị, cho dù việc này diễn ra ở đâu cũng tạo nên sự sôi động cho thị trường bán lẻ . Thị trường bán lẻ ở Việt Nam hiện nay ngày càng phát triển với sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước cũng như nước ngoài đặc biệt là sau khi nước ta mở của thị trường bán lẻ theo đúng lộ trình mở của thị trường bán lẻ theo đúng cam kết khi gia nhập vào WTO. Vậy với việc mở cửa thị trường bán lẻ thì các Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam sẽ có những cơ hội gì và phải đối mặt với những khó khăn thách thức ra sao? Để giải thích điều đó chúng ta hãy cùng nhau đi sâu ph ân tích tình hình và những đặc điểm, những điểm mạnh điểm yếu của các doanh nghiệp bán lẻ, để từ đó tìm ra các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của của các doanh nghiệp trong nước. Nhóm thuyết trình số 6 với đề tài “Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam thời kỳ mở cửa” sẽ mang lại cái nhìn tổng quát nhất về các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Danh sách s inh viên nhó m 6: STT Họ và tên Mã sinh viên 1. Nguyễn Bá Dũng (nhóm trưởng) 0851010101 2. Bùi Thị Hồng Thương (trình bày phần I) 0851010120 3. Nguyễn Thị Hồng Liên (trình bày phần II) 0851010107 4. Nguyễn Anh Tuấn (trình bày phần III) 0851020014 5. Trần Thị Ngọc Lan (trình bày phần IV) 0851010126 6. Trần Thị Kim Dung 0851020016 7. Nguyễn Ngọc Hà 0851020009 8. Trần Lan Hương 0851010106 9. Nguyễn Thị Minh Giang 0851010127 10. Đào Nhật Linh 0851010108 11. Trần Văn Long 0851010123 12. Mai Đình Phương 0851010119 13. Nguyễn Thị Minh Trang 0851010121 14. Đặng Thanh Tùng 0851020015 - 3 - I. QUÁ TRÌNH MỞ CỬA: 1. Trước năm 2008: Đối với d ịch vụ bán buôn bán lẻ: phải thành lập liên doanh với các đối tác Việt Nam và tỉ lệ vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 49% . Trước năm 1993, thị trường bán lẻ Việt Nam chỉ bao gồm các chợ truyền thống. Đến năm 1993, người tiêu dùng mới được làm quen v ới 1 kênh phân phối hiện đại là siêu thị khi một siêu thị nhỏ Citimart khai trương tại thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1998, siêu thị đầu tiên có vốn đầu tư nước n goài: BigC mở tại Đồng Nai. Từ những năm sau cuộc kh ủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997, kênh phân phối siêu thị bắt đầu phát triển mạnh hơn . Bảng 1: Sự phát triển của các siêu thị từ 1990-2005 1 1 1 2 2 2 2 20 Năm 990 993 000 001 002 004 05 2 3 3 3 Hà Nội 0 0 55 5 2 2 2 Thành phố 2 3 4 4 0 1 71 Hồ Chí Minh 4 8 6 6 (Siêu thị đựơc hiểu là các cửa hàng với diện tích từ 250 m2 trở lên) Kể từ năm 2003, thị trường bán lẻ Việt Nam đã có những bước nhảy vọt với doanh thu thị trường hàng năm tăng 18-20 %. Tuy nhiên, trong thời kì này hệ thống phân phối của chúng ta còn chưa phát triển, theo số liệu thống kê tại thồi điểm cuối năm 2006 thì hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ yếu vẫn qua h ệ thống chợ( khoảng 40%) và qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ độc lập, cửa hàng truyền thống( khoảng 44%), qua hệ thống phân phối hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị, của hàng tự chọn …) mới chỉ chiếm 10%, 6% còn lại là do nhà sản xuất trực tiếp bán thẳng. Mặt khác, do các hạn chế về luật nên thị trường bàn lẻ Việt Nam còn chưa thu hút đươc nhiều sự chú ý của các đại gia tron g n gành bán lẻ trên thế giới. 2. Năm 2008: Kể từ 1/1/2008, Việt Nam cho phép thành lập các doanh nghiệp bán lẻ liên doanh không hạn chế vốn góp từ phía nước ngoài. Mức độ rủi ro Áp lực thời Xếp quốc gia và rủi ro Độ hấp dẫn của Độ bão hoà gian Năm thị trường củathị trường GRDI hạng kinh doanh (Time (Market (Market Score thứ (Country and pressure) attractiveness) saturation) business risk) 2004 7 52 29 90 66 76 2005 8 54 24 88 68 79 1 Bảng 1: nguồn: AD B, Si êu thị v à người nghèo tại Việt Nam, - 4 - 2006 3 43 24 87 81 84 2007 4 57 34 76 59 74 2008 1 57 34 67 99 88 Với sự thay đổi mang tính bước ngoặt này, năm 2008 đã đánh một dấu mốc quan trọng với việc trở thành nước đứng đầu về chỉ số phát triển bán lẻ GRDI do A.T.Kearn ey bình chọn và trở thành thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới. Bảng 2: Xếp hạng GRDI của Việt Nam các năm 2004 – 2008 2 Tính đến hết năm 2008, Việt Nam đã có hơn 8300 chợ các loại và gần 400 siêu thị và trung tâm thương mại. Trên thực tế, thị trường bán lẻ Việt Nam cũng n gày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế quốc dân với mỗi năm đón g góp trên 15% GDP và tạo ra 5,4 triệu việc làm. Chỉ tính năm 2008, doanh số bán lẻ đã tăng 20,5 % so với năm 2007., nhiều nhà kinh doanh phân phối nội địa như Citimart, Phú Thái, Saigon co.op.. đã chạy đua mở rộng hệ thống siêu thi, chiếm lĩnh thị trường. Đáng chú ý là sự ra đời của công ty TNHH Trung tâm Lotte shopping VN v ới tỉ lệ vốn nước n goài là 80%. Bảng 3: Biểu đồ doanh số bán lẻ 1990 – 2008: 3 Doanh số Biểu đồ doanh số bán lẻ 1990 - 2008 (tỷ VNĐ) 800000 700000 600000 500000 400000 300000 200000 100000 0 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 00 01 02 03 04 05 06 07 08 năm 3. Năm 2009: kể từ 1/1/2009, cho phép thành lập những công ty bán lẻ 100% vốn nước ngoài. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nước ngoài chỉ được phép tự động mở 1 cơ sở bán lẻ, việc mở các cơ sở bán lẻ khác ngoài cơ sở thứ nhất phải được sự cho phép của các cơ quan có thẩm quyền dựa trên việc đánh giá chỉ tiêu nhu cầu kinh tế ENT ( economic need tests) 2 Bảng 2: Số liệu tổng hợp từ A.T.Kearney Global Retail Develop ment Index các n ăm 2004 – 2008 ey.com/ind ex.php/Publications/at-kearneys-global-retail-dev elop ment-index.html 3 Bảng 3: Số liệu từ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ phân theo ngành kinh doanh – Tổng cụ c thống kê: .vn/default.aspx?tabid=393 &id mid=3&ItemID=8767 - 5 - Có sự mở rộng về luật, nhưng trái với dự đoán của nhiều chuyên gia, ngành bán lẻ trong gần 1 năm qua đã không thật sự sôi động như dự báo Báo cáo từ Bộ Công Thương cho thấy, năm 2009 chưa có thêm nhà bán lẻ theo hệ thốn g hay chuỗi có 100% vốn nước n goài xin phép đầu tư vào Việt Nam, trong khi các nhà bán lẻ hiện có chỉ mở rộng mạng lưới phân phố i theo kiểu cầm chừng. Và trong xếp hạng của A.T.Kearney, Việt Nam cũng tụt liền 5 bậc xuống vị trí thứ 6 về chỉ số phát triển thị trường. - 6 - Bảng 4: Xếp hạng GRDI của Việt Nam các năm 2004 – 2008 4 Mức độ rủi ro Độ bão hoà Áp lực thời Độ hấp dẫn của Xếp quốc gia và rủi ro của thị gian Năm thị trường GRDI hạng kinh doanh trường (Time (Market Score thứ (Country and (Market pressure) attractiveness) business risk) saturation) 2004 7 52 29 90 66 76 2005 8 54 24 88 68 79 2006 3 43 24 87 81 84 2007 4 57 34 76 59 74 2008 1 57 34 67 99 88 2009 6 34 16 74 97 55 Vậy, đâu là lí do dẫn tới sự ảm đạm của thị trường bán lẻ Việt Nam trong năm 2009? Ngoài nguyên nhân là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới còn n guyên nhân nào khác không? Tất cả sẽ trình bày ở phần II …. II. ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM YẾU: 1. Điểm mạnh: Hiểu rõ thị trường nội địa là một điểm mạnh của nhà bán lẻ Việt Nam Dù thị trường bán lẻ Việt nam có sự gia nhập của nhiều đại gia bán lẻ thế giới, cho dù họ có lượng vốn dồi dào, kinh nghiệm phong phú trong lĩnh vực phân phối lẻ nhưng để hiểu rõ thi trường nước ta các doanh nghiệp nước n goài vẫn phải mất một thời gian dài và phí tổn khá lớn cho việc nghiên cứu. Trong khi đó doanh nghiệp Việt nam rõ ràn g có nguồn thông tin dồi dào h ơn và sự quen thuộc với thị trường nội địa. các doanh nghiệp trong nước n ắm rõ với tình hình của thị trường, hiểu rõ đặc điểm tiêu dùng của người dân, điều kiện để nghiên cứu xu thế phát triển của thị trường rõ ràng là dễ hơn.Trong bối cảnh cạnh tranh khố c liệt của thị trường, lợi thế về thông tin là một điểm mạnh không thể chối cãi. 2. Điểm yếu: a) Tài chính: thiếu vốn *Thiếu vốn để có thể đầu tư vào những dự án trung tâm thương mại lớn: Nhà đầu tư cần một lượng vốn dài hạn để đầu tư vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong bối cảnh lạm phát kinh tế tăng cao, nhiều dự án bất động sản đã bị ngưng trệ. Bên cạnh đó, các ngân hàng đã bắt đầu cung cấp tín dụng trở lại cho bất động sản nhưng với sự k iểm soát chặt chẽ hơn và lượng vốn hạn chế hơn. Các yếu tố này cũng ảnh hưởn g một phần tới việc mở rộng mặt bằng cho thị trường bán lẻ. *Thiếu vốn để xây dựng một hệ thống hậu cần chuyên nghiệp, côn g tác huấn luyện đội ngũ nhân viên cho nhà bán lẻ trong nước. Kinh doanh bán lẻ hiện đại đòi hỏi một hệ thống hậu cần chuyên nghiệp. Các doanh nghiệp bán lẻ lớn nước ngoài đã mạnh tay đầu tư khía cạnh này trong khi vấn đề hậu cần là yếu điểm lớn của toàn hệ thống các nhà bán lẻ Việt Nam. Ở Việt Nam, Metro ( tập đoàn bán lẻ 100% vốn của Đức) đã chi gần 20-25 triệu euro trang bị hệ thống cung ứng hàng (kho lạnh, xe chuyên dụng, thiết bị kiểm tra, bảo quản hàng 4 Bảng 4: Số liệu tổng h ợp từ A.T.Kearney Global Retail Develop ment Ind ex các năm 2004 – 2009 ey.com/ind ex.php/Publications/at-kearneys-global-retail-dev elop ment-index.html - 7 - hóa...) theo chuẩn của Metro toàn cầu v à chi gần 800.000 euro cho công tác huấn luyện nh ân viên. Trong khi đó, các doanh n ghiệp bán lẻ Việt Nam vẫn gặp v ấn đề về nhà cung cấp không giao đủ hàng bán trong dịp lễ, Tết mà chưa có biện pháp nào để khắc phục, hay việc điều phối các xe giao hàng đúng loại, đúng nơi, đúng thời điểm vẫn còn được điều hành, quản lý khá đơn giản làm tăng chi ph í lao động, quản lí. b) Sự thiếu hụt mặt bằng k inh doa nh: Việc chuyển từ hình thức kinh doanh truyền thống trong n gành bán lẻ sang kinh doanh hiện đại đòi hỏi một diện tích mặt bằng kinh doanh lớn. Trong khi nhu cầu ngày càng gia tăng (do sự xâm nhập thị trường của nhiều đại gia bán lẻ trên thế giới và tốc độ phát triển nhanh chóng của thị trường) thì nguồn cung mặt bằng ngày càng trở nên khan hiếm đặc biệt ở các thành phố lớn. Lí do đó đẩy giá thuê mặt bằng tăng cao gây khó khăn cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong n ước và ngoài nước. Bảng 5: Tổng diện tích mặt bằng bán lẻ và tỷ lệ trống tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh: 5 Tp. Hồ Chí Minh Hà Nội Năm Tổng diện tích Tổng diện tích Tỷ lệ trống (%) Tỷ lệ trống (%) mặt bằng bán lẻ mặt bằng bán lẻ 2007 140.000 1 2008 150.000 6 100.000 10 2009 256.025 7 103.576 21 Giá thuê quá cao và thủ t ục rườm rà khiến cho nhiều doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ khó có thể thuê được mặt bằng như mình mong muốn. Theo thống kê tính đến cuối tháng 7/2008, tại Tp.HCM, giá thuê mặt bằng bán lẻ trong khu trung tâm đạt mức trung bình 65USD/m2/tháng, với những vị trí đẹp giá trung bình đạt đến 85USD/m2/tháng và mức giá thuê cao nhất tại khu v ực này lên tới 250 USD/m2/tháng; giá thuê mặt bằng khu vực ngoài trung tâm rẻ hơn đôi chút đang ở mức trung bình 40USD/m2/tháng. c) Hậu cần (logistics): Kinh doanh bán lẻ h iện đại đòi hỏi một hệ thống hậu cần chuyên n ghiệp, tuy nhiên hệ thống hậu cần của các nhà phân phối Việt Nam còn yếu đặc biệt là trong các vấn đề vận chuyển, bảo quản hàng hóa, chỉnh lý và bao gói sản phẩm, đảm bảo n guồn cung hàng trong các dịp lễ tết đặc biệt đôi khi dẫn đến việc thiếu hụt nguồn hàng cung cấp cho các của hàng bán lẻ trong h ệ thống….trong khi các đại gia bán lẻ nước ngoài sẵn sàng chi rất mạnh tay vào các trung tâm hậu cần v ới trang thiết bị hiện đại, các sản phẩm hàng hóa được bảo đảm về chất lượng tốt nhất khi đến tay n gười tiêu dùng. d) Tính chuyên nghiệp chưa cao: Thị trường bán lẻ phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa, cạnh tranh bàng chất lượng. Hiện nay ở Việt Nam, các nhà phân phối n goại quốc vượt trội hơn hẳn về tính chuyên n ghiệp, tuy doanh n ghiệp trong nước có ưu thế về hiểu rõ thị trường. Các nhà bán lẻ Việt Nam còn thiếu chuyên nghiệp, yếu về trình bày, giới thiệu h àng hóa, quản lý, tài chính, dịch vụ khuyến mãi, hậu mãi ít, thủ tục và dịch vụ bảo hành kém khiến nhiều khách hàng phàn nàn. Một điểm yếu khác nữa của các nhà bán lẻ trong nước hể hiện tính không chuyên n ghiệp là việc ứng dụng côn g nghệ thông tin trong khâu bán hàng, phát triển thương mại điện tử và xây dựng thương h iệu. Mặt khác, trong khi các tập đoàn bán lẻ nước ngoài kinh doanh với hình thức chuyên nghiệp thì các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ lẻ,manh mún, mệnh ai nấy làm, chưa có 5 Bảng 5: Nguồn: foru m/showthread.php?t=2094 - 8 - thương hiệu,cạnh tranh yếu,vốn ít nhưng thiếu tính hợp tác giữa các DN. Một điều không thê không nói đến là sự yếu kém trong không phân phối sản phẩm. Chất lượng của đầu vào sản phẩm của nhà bán lẻ Việt nam vẫn là một vấn đề nan giải và chưa được kiểm soát chặt chẽ, vẫn còn những hàng hóa hết hạn sử dụng hay có vấn đề về chất lượng được bày bán trong các siêu thị lớn. Đặc biệt thái độ phục vụ của nhân viên chưa tốt khiến nhiều khách hàng phàn nàn. III. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC: 1. Cơ hội: a) Cơ hội cho các doanh nghiệp từ tiềm năng của thị trường bán lẻ Việt Nam : i. Lực lượng tiêu d ùng nhiều tiềm năng:  Lực lượng tiêu dùng đông đảo (dân số đông, trẻ 86 triệu người, tron g đó 79 triệu người dưới 65 tuổi, nhóm chi tiêu tiêu dùng lớn nhất đang ở độ tuổi 22 - 55 chiếm trên 70% dân số)  Thu nhập trung bình của n gười Việt Nam ngày càng tăng cao, từ 835 USD của năm 2007 tăng lên 960 USD vào n ăm 2008 và đạt khoảng 1.100 USD vào năm 2009, trong đó nhóm có tốc độ tăng thu nhập nhanh nhất trong khoảng 500-1.000 USD/tháng. Bên cạnh đó, APC của người Việt Nam thuộc loại cao nh ất ở Đông Nam Á (APC = 0.7) 6  Người tiêu dùng Việt Nam được đánh giá là có thái độ lạc quan tiêu dùng cao. Theo thông tin trên trang web masterintelligence.com, trong 14 nước châu Á - Thái Bình Dương, 6 nước Trung Đôn g và 4 nước châu Phi, CCI của Việt Nam đang có mức hồi phục cao nhất, đạt 90 điểm, bằng mức trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế. Đứng sau là Trung Quốc (85 điểm) và Singapore (79,4 điểm). Có thể thấy rằng người tiêu dùng Việt Nam lạc quan nhất so với các thị trường châu Á - Thái Bình Dương và cả Trung Đôn g, châu Phi. Bảng 6: Độ phục hồi chỉ số niềm tin người tiêu dùng Việt Nam: 7 6 7 Bảng 6: - 9 - ii. Thị trường đang trong giai đoạn p hát triển: Thị trường phân hóa mạnh với đa số là các cửa hàng bình dân và chợ, chưa vào giai đoạn bão hoà. Theo các nhà phân tích,mỗi thị trường có một giai đoạn nhất định được xem là cơ hội tốt để tham gia, thường diễn ra từ 5 đến 10 năm. Các nhà đầu tư nước ngoài nhận định thị trường bán lẻ Việt Nam giống như một "tiểu Ấn Độ" (little In dia) của 5 năm về trước còn thị trường Trung Quốc - trước kia được xem như là cơ hội vàng cho các tập đoàn bán lẻ- thì nay đang tron g giai đoạn thoái trào. Tốc độ tăng trưởng của thị trường bán lẻ liên tục tăng .Những năm trước, mức này luôn đạt bình quân 20%, thì đến năm 2007 đã tăng lên 25 – 27%… Doanh số bán lẻ toàn Việt Nam năm 2008 đạt 54,3 tỷ USD, tăng 20,5% so với 2007, n ăm 2009 tăng 18,6% so v ới năm 2008, trong khi nhiều thị trường như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU tăng trưởng âm. Nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng trưởng v ẫn đạt gần 12%, tuy giảm so với năm 2008, nhưng trong bối cảnh chung mức tăng này vẫn rất ngoạn mục. Trên đà khởi sắc của thị trường tiêu dùng nội địa, tổng mức lưu chuyển h àng hóa bán lẻ và dịch v ụ được nhận định sẽ còn tiếp tục tăng trên 20% trong năm 2010. Dựa v ào triển vọng này, Công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu RNCOS (Mỹ) cũng dự báo thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ đạt doanh số 85 tỷ USD vào năm 2012 iii. Đa dạng các phương thức bán lẻ và p hương thức thanh toá n: Thị trường bán lẻ Việt Nam đang không ngừng đa dạng hóa các phương thức bán lẻ. Ngày càng nhiều các phương thức bán hàng được cung cấp tới người tiêu dùng như bán hàng qua mạng Internet, TV shopping, qua mạng điện thoại di động, qua catalogue, bán hàng đa cấp. Mức độ thanh toán bằng tiền mặt ở Việt Nam là rất phổ biến. Từ nền tảng thanh toán hoàn toàn thủ công (mọi giao dịch thanh toán đều dựa trên cơ sở chứng từ giấy), hiện nay, hệ thống thanh toán xã hội của Việt Nam chuyển dần sang phương thức xử lý bán tự động do đó giảm thời gian giao dịch việc thanh toán thuận tiện dễ dàng nhanh chóng hơn. Thẻ ATM ngày càng được sử dụng phổ biến bao gồm thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng : visa card, mastercard …có thể thực hiện giao dịch trên khắp toàn cầu. iv. Sự ổn định về chính trị, tăng trưởng liên tục của GDP qua các năm: - 10 - Bảng 7: Tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam qua các năm: 8 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Tốc độ 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,44 8,23 8,46 6,23 5,32 Trong bối cảnh khủng hoảng chung của nền kinh tế thế giới hiện nay, sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam cùng với chế độ chính trị xã hội ổn định (Việt Nam được đánh giá là quốc gia có môi trường chính trị ổn định nhất) càng khiến nền kinh tế tron g n ước trở nên hấp dẫn , là mảnh đất màu mỡ trong mắt các nhà đầu tư quốc tế. v. Sự thay đổi thói quen mua sắm của người dân: Tỷ lệ mua sắm tại các siêu thị, trung tâm thương mại của người Việt Nam đã tăng từ 9% năm 2005 lên 14% năm 2007 và dự kiến sẽ tăng lên 24% vào năm 2010. Người dân có m ức thu nhập từ trung bình đến mức thu nhập cao ở các thành phố lớn hiện nay đã chú ý hoặc chuyển sang việc mua bán hàng hóa nh u yếu phẩm tại các trung tâm thương mại, các siêu thị nơi có nguồn hàng cung cấp và giá cả ổn định. Điều này là một thuận lợi cho việc phát triển các trung tâm thương mại, các chuỗi siêu thị lớn, chuyên n ghiệp. Bảng 8: Tỷ lệ mua sắm tại các siêu thị, trung tâm thương mại: 9 b) Cơ hội cho các doanh nghiệp từ việc mở cửa thị trường bán lẻ: i. Cơ hội phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam. Khi các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới vào VN, để cạnh tranh được các doanh nghiệp Việt Nam cần phải có sự cơ cấu lại hình thức kinh doanh, hợp lý hoá giữa khâu thu mua sản phẩm và phân phối, cải thiện các điều kiện về kho bãi, phương tiện vận chuyển, học tập hình thức kinh doanh chuyên nghiệp của các tập đoàn n ước ngoài. Các doanh nghiệp trong n ước có cơ hội để tự nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên sân nhà, để từ đó ngày
Luận văn liên quan