Tìm hiểu và ngăn chặn lũ quét lũ ống

Lũ quét là sự chảy dồn nước nhanh vào một vùng tương đối rộng (tới vài chục km2) thường quét theo các triền sông, suối với cường độ mạnh xảy ra bất ngờ, duy trì trong một thời gian ngắn và có sức tàn phá rất mạnh, quét sạch hoặc phá huỷ hầu như mọi vật trên bề mặt mà dòng nước chảy qua. Lũ quét là một dạng tai biến nguy hiểm xếp hàng thứ ba sau động đất, trượt đất. Lũ quét rất thường xuyên xẩy ra nhiều vị trí ở Tây Bắc Bộ, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản của nhân dân. Có nhiều vị trí lũ quét xẩy ra liên tiếp nhiều năm trên diện rộng. Lũ ống là sự chảy dồn nước bộc phát đột ngột từ cao xuống thấp với tốc độ rất cao vào một thung lũng suối nhỏ hoặc một khe hẻm có quy mô nhỏ hơn (từ vài trăm mét đến vài km) theo sườn rất dốc, tạo thành một khối nước hình ống, thời gian xẩy ra rất ngắn và sức tàn phá cũng rất mạnh.

doc23 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Lượt xem: 1930 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tìm hiểu và ngăn chặn lũ quét lũ ống, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
GIỚI THIỆU VỀ LŨ ỐNG – LŨ QUÉT NGUYÊN NHÂN GÂY RA LŨ ỐNG – LŨ QUÉT SỰ HÌNH THÀNH LŨ ỐNG – LŨ QUÉT IV. NHỮNG ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA LŨ ỐNG – LŨ QUÉT Tính bất ngờ Tính ngắn hạn, ác liệt Tính hàm chứa lượng vật rắn rất lớn ẢNH HƯỞNG CỦA LŨ ỐNG – LŨ QUÉT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC Thành lập bản đồ nguy cơ lũ quét: MÔ HÌNH PHÒNG CHỐNG LŨ ỐNG – LŨ QUÉT Một số biện pháp phòng chống lũ ống – lũ quét Các biện pháp công trình Tăng khả năng thoát lũ của lòng dẫn Phân dòng lũ Xây dựng đê, tường chắn lũ quét. Tách vật rắn khỏi dòng lũ Xây dựng bổ sung các tràn sự cố ở các hồ chứa nước Mở rộng khẩu độ thoát lũ của hệ thống cầu cống. Sử dụng đất hợp lý Các biện pháp phi công trình Quản lý sử dụng đất Điều chỉnh các điểm định cư Điều chỉnh điều kiện mặt đệm lưu vực và các khu trữ lũ. Sơ tán khỏi vùng lũ quét. Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật Các hoạt động sơ tán, tìm kiếm và cứu trợ khi lũ quét xảy ra Tổ chức nghiên cứu về lũ quét Nghiên cứu, ban hành các chính sách có liên quan đến quản lý lũ quét Tuyên truyền giáo dục về lũ và lũ quét, huấn luyện tập dượt các phương án phòng chống lũ Cơ cấu tổ chức KHÁI NIỆM VỀ LŨ ỐNG- LŨ QUÉT Lũ quét là sự chảy dồn nước nhanh vào một vùng tương đối rộng (tới vài chục km2) thường quét theo các triền sông, suối  với cường độ mạnh xảy ra bất ngờ, duy trì trong một thời gian ngắn và có sức tàn phá rất mạnh, quét sạch hoặc phá huỷ hầu như mọi vật trên bề mặt mà dòng nước chảy qua. Lũ quét là một dạng tai biến nguy hiểm xếp hàng thứ ba sau động đất, trượt đất. Lũ quét rất thường xuyên xẩy ra nhiều vị trí ở Tây Bắc Bộ, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản của nhân dân. Có nhiều vị trí lũ quét xẩy ra liên tiếp nhiều năm trên diện rộng. Lũ ống là sự chảy dồn nước bộc phát đột ngột từ cao xuống thấp với tốc độ rất cao vào một thung lũng suối nhỏ hoặc một khe hẻm có quy mô nhỏ hơn (từ vài trăm mét đến vài km) theo sườn rất dốc, tạo thành một khối nước hình ống, thời gian xẩy ra rất ngắn  và sức tàn phá cũng rất mạnh. TỔNG QUAN VỀ LŨ ỐNG – LŨ QUÉT NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH LŨ QUÉT Nguyên nhân gây ra lũ quét do mưa to nhiều ngày liên tiếp với cường độ mạnh, mưa nhiều ngày liên tục và kết thúc bằng một trận mưa cường độ cao ở những nơi có địa hình dốc, đặc biệt ở những nơi mà địa hình hai phía thung lũng đều dốc, ở những khu vực đồi núi trọc, thực vật ít thì sự tàn phá của lũ quét càng mạnh và tần suất càng cao. Khi lũ quét xẩy ra trong khu vực có các thành tạo bị vỡ vụn, bị phong hoá mạnh thì thường kèm theo dòng bùn đá rất nguy hiểm (điển hình là trận lũ quét kèm dòng bùn đá ở Nậm Coóng, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu). Lũ quét xảy ra chịu ảnh hưởng của các dạng tổ hợp, các điều kiện tự nhiên và các hình thức hoạt động của con người trên lưu vực. Đi vào bản chất, có thể phân nhân tố theo 3 nhóm tùy theo tốc độ biến đổi của chúng. Các nhân tố hình thành lũ quét Ít biến đổi Biến đổi chậm Biến đổi nhanh Hoạt động của con người Địa chất Địa mạo Địa trình Chuyển động kiến tạo Phong hóa thổ nhưỡng Biến đổi khí hậu Địa chất thủy văn Lớp phủ thực vật Mưa lớn Lũ Động đất Xói mòn, trượt lỡ Lượng ẩm lưu vực Dòng chảy mặt Hình :. Các nhân tố hình thành lũ quét ở Việt Nam Các hình thức hoạt động của con người trên lưu vực có thể ảnh hưởng đến cả ba nhóm các nhân tố: biến đổi nhanh, biến đổi chậm và ít biến đổi. Song biến đổi rõ nhất là các nhóm nhân tố biến đổi nhanh. Đây là nhóm nhân tố chỉ thị thường được chọn làm các đặc trưng để phân biệt lũ quét với lũ thường. Nhóm các nhân tố biến đổi chậm tham gia vào quá trình hình thành lũ quét khi quá trình biến đổi vượt qua một "ngưỡng" nào đó. "Ngưỡng" của từng nhân tố là một khoảng khá rộng vì lũ quét hình thành do những tổ hợp khác nhau của các nhân tố. CƠ CHẾ HÌNH THÀNH VÀ VẬN ĐỘNG CỦA LŨ QUÉT Lũ quét xảy ra ác liệt, tập trung rất nhanh lượng vật chất hỗn hợp nước và chất rắn, lũ kết thúc nhanh là những đặc điểm quan trọng nhất dễ nhận thấy. Lũ quét có những đặc điểm khác biệt như vậy là do cơ chế hình thành và vận động của lũ quét đã thay đổi về căn bản so với lũ nước thông thường. Do điều kiện mặt đệm thay đổi đáng kể, kết hợp với cường độ mưa lớn hiếm thấy làm cho cơ chế hình thành dòng nước lũ trong lũ quét đã khác hẳn với cơ chế trước đó: cơ chế hình thành nước lũ theo phương thức vượt thấm là chính (dòng mặt chiếm tuyệt đại bộ phận) đã thay cơ chế dòng bão hòa trước đó. Vì thế, dòng chảy mặt tràn lan trên mặt lưu vực, xói mòn rửa trôi mạnh hơn, vật chất tập trung nhanh hơn hẳn, hầu như đồng thời đổ về hạ lưu. Trong quá trình hình thành, với cơ chế và phương thức vận động như vậy, dòng nước lũ thông thường dần dần chuyển hóa, lũ quét tập trung nhanh hơn, tạo ra dòng xiết trong lòng dẫn, đỉnh lũ cao, động năng rất lớn. Theo ước tính sơ bộ, trị số dòng chảy rắn thường chiếm 15-20% đỉnh lũ quét. Tại hạ lưu, lũ không những quét mà còn bồi lấp vùng gần cửa sông rất mạnh, tàn phá vùng này theo hai kiểu: quét và bồi lấp. Tổn thất nước trong quá trình hình thành dòng lũ quét là không đáng kể càng làm cho tổng lượng lũ, đỉnh lũ gia tăng. Dòng vật chất lỏng - rắn thường chuyển động trượt trên sườn dốc đứng với lưu tốc đặc biệt lớn khác với dòng chảy theo khe lạch trong các trận lũ thường, gây tiếng động mạnh khi tập trung dòng lũ. Lũ có sức tàn phá ghê gớm, gây thiệt hại lớn cho vùng hạ lưu thung lũng sông và hủy hoại rõ rệt trên bề mặt lưu vực. Với nhận thức như trên về cơ cấu hình thành và vận động của lũ quét, rõ ràng, cùng với các loại biện pháp tác động vào các nguyên nhân, cần có những biện pháp làm thay đổi cơ chế hình thành và vận động của dòng lũ. Trước hết là những biện pháp nhằm làm cho cơ chế dòng vượt thấm chuyển một phần sang cơ chế bão hòa, tăng tổn thất nước, giảm tổng lượng nước lũ, sau đó là giảm xói mòn, rửa trôi, điều tiết dòng chảy, cản trở tập trung nhanh và đồng thời nước lũ về hạ lưu, giảm động năng, lượng bùn cát - vật chất rắn khác trong dòng lũ, chia cắt lũ, trữ chậm lũ, hạn chế tiết diện "quét", diện bồi lấp và cuối cùng là giảm, hạn chế tác hại của lũ quét. Rõ ràng ở đây việc áp dụng các biện pháp phi công trình và công trình trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, giao thông... là cần thiết. Các biện pháp tăng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, hồ chống lũ... là những biện pháp hiệu quả nhất tác động vào mặt cơ chế hình thành, vận động của lũ quét. NHỮNG GIAI ĐOẠN CHÍNH HÌNH THÀNH LŨ QUÉT Sự hình thành lũ quét trải qua các giai đoạn sau: - Mưa lớn, cường độ lớn gây hình thành dòng lũ mặt lớn và đặc biệt tràn ngập trên mặt lưu vực nhỏ vùng núi dốc có độ che phủ rừng ít, bị khai thác mạnh mẽ, tiềm tàng nhiều điều kiện thuận lợi cho xói mòn, rửa trôi đất đá, bùn cát, cây cối, song lòng dẫn lại tiêu thoát kém. - Nước lũ gây xói mòn, rửa trôi, sạt, trượt, sụt lỡ mạnh mặt lưu vực, cuốn theo các vật chất rắn, dòng lũ khi đó thay đổi căn bản về chất, trở thành dòng chất lỏng - rắn (gồm nước - bùn đá - cây cối...) tập trung vào sông chính. Lũ khi đó có tổng lượng lớn hơn hẳn tổng lượng dòng lũ nước sinh ra nó. Dòng lũ bùn - nước - cây cối tập trung hầu như đồng thời, rất nhanh từ các sườn dốc lưu vực (thường có độ dốc lớn, trên 20-30%) vào lòng dẫn, đổ vào các vùng trũng, thung lũng sông ở dạng lũ quét rồi thoát một phần nước - bùn cát - cây cối ra sông chính. Dòng lũ quét tàn phá mọi vật cản trên đường chuyển động, tạo ra lòng dẫn mới, xói, bồi lòng dẫn cũ. Bồi lắng bùn cát, đất đá, cây cối ở các vùng trũng, thấp dọc lòng dẫn (cũ và mới tạo thành trong trận lũ quét) ở dạng các bãi lầy, bãi bùn cát, đá sỏi, cây cối phủ đầy vườn tược và cả những khu dân cư, kinh tế vùng thấp. Nếu xét về mặt không gian, mỗi giai đoạn nêu trên thường những miền hoạt động chính, hầu như mọi quá trình xảy ra trên toàn bộ lưu vực. - Khu vực sinh ra lũ là phần thượng nguồn lưu vực sông độ dốc lớn, thường chiếm 2/3 diện tích lưu vực. Tại đây, các quá trình chính hình thành dòng chảy mặt, xói mòn, rửa trôi mặt đất xảy ra mạnh nhất. Quá trình tập trung dòng lũ cũng xảy ra đồng thời, song chưa xảy ra mạnh mẽ. - Khu vực tập trung dòng lũ quét, nơi còn xảy ra mạnh mẽ quá trình xói sâu, sạt trượt lỡ đất đá, cuốn trôi cây cối, tắc ứ tạm thời sau vỡ hàng loạt... Khu này bao trùm một phần thấp hơn (thường là phần chân dốc, chân các sườn núi) của thượng lưu, các đoạn sông suối phần trung tâm lưu vực nơi độ dốc lòng dẫn còn rất lớn, hợp lưu của nhiều sông suối trước khi dòng lũ đổ vào thung lũng. - Khu vực chịu lũ: là nơi thường xảy ra mạnh mẽ nhất là quá trình "quét", trong đó hiện tượng xói sâu, lở, sạt trượt còn xảy ra ở cường độ cao trên đoạn đầu của thung lũng, hiện tượng quét, bồi lấp xảy ra mạnh mẽ nhất ở đoạn cuối của thung lũng trước khi lũ quét thoát được dòng chính. NHỮNG ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA LŨ QUÉT a. Tính bất ngờ: Khoảng thời gian từ khi xuất hiện sự gia tăng mực nước trong sông đến khi đạt đỉnh lũ là rất ngắn. Do vậy thường khó khăn trong dự báo, cảnh báo lũ quét một cách hiệu quả ở trình độ chuyên môn và kỹ thuật hiện nay. Hiểu biết rõ về cơ chế hình thành, những đặc tính và đặc trưng của lũ quét từ đó có thể có biện pháp dự báo, cảnh báo hiệu quả. Mặc dù vậy, lũ quét vẫn là thiên tai bất ngờ ngay cả khi đã báo trước được 1-3 giờ. Cần có biện pháp đặc biệt để giảm tính chất này của lũ quét. b. Tính ngắn hạn, ác liệt: Lũ quét thường tồn tại trong thời gian ngắn, thường kết thúc sau 10-18 giờ, rất ít khi quá 1 ngày, nước lũ lớn xói mòn, rửa trôi khối lượng rất lớn vật chất rắn từ các sườn núi dốc rồi trở thành dòng bùn - nước - vật rắn tập trung hầu như đồng thời và rất nhanh. Do đó, lũ quét thường có nhánh lên xuống rất dốc, khác hẳn lũ thường, lại có đỉnh rất lớn, tổng lượng lớn, hơn hẳn đỉnh lũ nước (có khi gấp 2-5 lần) trong điều kiện mưa tương đương do cơ chế hình thành và vận động khác hẳn. Như thế, để giảm hoặc loại trừ tính ngắn hạn của lũ quét, các biện pháp có lẽ phải hướng vào kéo dài thời gian lũ lên (là chủ yếu) và lũ xuống mà trên căn bản là hướng vào tăng thời gian tập trung dòng lũ ở lưu vực, từ đó cũng giảm hẳn tính ác liệt của lũ (giảm đỉnh lũ, tần suất lũ lên, xuống, lưu tốc dòng sông)... c. Tính hàm chứa lượng vật rắn rất lớn: Dòng lũ quét khác hẳn dòng lũ nước thường bởi tỷ lệ vật chất rắn rất lớn. Trong quá trình hình thành và vận động, tỷ lệ vật rắn trong dòng lũ quét không ngừng tăng lên, tăng mạnh nhất ở khu vực hai - khi chuyển động từ trên núi cao xuống thung lũng. Lượng chất rắn thường chiếm 3-10%, thậm chí trên 10% trong dòng lũ để trở thành dạng lũ bùn đá. Một dòng chảy như vậy, xét về bản chất hình thành và động lực của nó đã khác biệt về chất so với lũ nước thông thường. Dòng lũ quét là pha trung gian giữa vật thể lỏng và rắn. Để giảm và hạn chế tác động đặc tính này của dòng lũ quét, hoặc ngăn ngừa nguy cơ lũ quét, cần phải có biện pháp nhằm vào giảm xói mòn, sạt, trượt, tức là giảm lượng vật chất rắn trong lũ, có biện pháp cắt bớt lượng vật rắn trong lũ quét, giảm quá trình chuyển động trượt ... NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA LŨ QUÉT: Để thiết kế, thực thi bất kỳ loại biện pháp công trình nào, ngay cả với biện pháp phi công trình thì các đặc trưng cơ bản của lũ quét là những cơ sở quan trọng nhất, ngoài những hiểu biết về khu vực hình thành, vận động, khu vực chịu lũ, đặc tính của lũ quét. Những đặc trưng cơ bản của lũ quét là: - Thời gian xuất hiện, thời gian lũ lên, xuống và cả trận, quá trình lũ quét. - Đỉnh lũ và thời gian xuất hiện, biên độ lũ, lưu tốc trung bình và cực đại, phân bố. - Cường suất lũ lên, xuống trung bình và lớn nhất. - Tổng lượng, thành phần vật chất trong lũ (lỏng, rắn), đặc trưng cơ lý của dòng. - Thời gian tập trung lũ, thời gian truyền lũ, khả năng chuyển tải của dòng lũ quét. - Thành phần chất rắn, thành phần hạt, phân bố hạt trong dòng lũ quét. - Động lượng của dòng và tác động của dòng khi gặp vật cản. - Kích thước hình học của dòng. - Áp lực thủy động khi vỡ đập, và các chỗ tắc ứ tạm thời khi có lũ quét. - Vận tốc quán tính khi lũ gia tăng và tắt dần tùy theo yêu cấu trúc lũ quét Loại thiên tai này kéo theo hiện tượng trượt lở đất, phá huỷ rừng, xói mòn đất và gây ra những thiệt hại về kinh tế - xã hội ở nhiều khu vực, đặc biệt là vùng nông thôn miền núi phía Bắc. Sự xói mòn xảy ra mạnh nhất ở độ cao 1000-2000 m và thường gây ra trượt lở đất, nứt đất khi có các trận mưa rào lớn. Do xói mòn mạnh, một lượng lớn các chất dinh dưỡng như nitơ, kali, canxi, magiê cùng các loài vi sinh vật bị cuốn rửa trôi. Đất dần dần mất khả năng tích nước và trở nên rắn, chặt hơn. TỔNG QUAN VỀ TÂY NGUYÊN Theo địa lý hành chính hiện nay, Tây Nguyên gồm có năm tỉnh, kể từ bắc vào nam: Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng. Thông thường, mỗi năm trên mỗi sông suối ở Tây Nguyên có từ 4 đến 6 trận lũ. Biên độ lũ (chênh lệch giữa mực nước chân lũ lên với mực nước đỉnh lũ) đạt từ vài ba mét đến bảy, tám mét, thậm chí trên một số sông suối nhỏ, biên độ lũ có thể lớn hơn 10 mét. Do có địa hình dốc, mưa tập trung nên trên các sông suối ở Tây Nguyên có tốc độ dòng chảy lũ khá lớn, từ 2,0 đến 4,0m/giây. Lũ lên, xuống cũng khá nhanh, cường suất lũ đạt từ 0,20 đến 0,50m/giờ đối với các sông suối có diện tích lưu vực nhỏ hơn 1000 km2; từ 0,10 – 0,30m/giờ đối với các sông lớn hơn; cường suất lũ lên lớn nhất có thể đạt 1,50 – 1,80m/giờ. Thời gian mỗi trận lũ phụ thuộc vào tính chất mưa, hình dạng lưu vực và độ che phủ của thảm thực vật trên lưu vực. Nước lũ trên các sông suối ở Tây Nguyên do mưa sinh ra. Những trận mưa sinh lũ thường là mưa lớn trên diện rộng, xảy ra chủ yếu trong thời kỳ giữa và cuối mùa mưa hàng năm (từ tháng 7 đến tháng 10). Đầu mùa mưa, chỉ có những trận mưa có lượng trên 100mm/trận, với cường độ mưa trên 30mm/giờ và diện mưa trải rộng từ hàng chục ki-lô-mét trở lên mới có khả năng sinh lũ. Trước đây, khi diện tích rừng còn chiếm phần nhiều, thời gian tập trung nước để hình thành lũ khá dài, từ vài ba ngày trở lên. Thời điểm xuất hiện đỉnh lũ cũng thường muộn hơn từ 6 đến 12 giờ đối với các sông suối có diện tích lưu vực từ 1000 km2 trở xuống và từ 10 – 24 giờ đối với các sông có diện tích lưu vực lớn hơn 1000 km2. Những năm gần đây, do rừng bị chặt phá nhiều, đất đai bị san ủi, sông suối bị ngăn, chặn làm nhiều khúc nên khả năng điều tiết dòng chảy tự nhiên của lưu vực sông giảm mạnh làm cho nước lũ  xuất hiện bất ngờ và nguy hiểm hơn. Thậm chí chỉ cần một trận mưa dông đầu mùa mưa cũng đủ gây lũ quét và sạt lở đất. Mùa lũ chính vụ trên các sông chính ở Tây Nguyên như sông Sêrêpôk, sông Ba, sông Dak Bla, Đồng Nai thượng thường trùng với mùa có các nhiễu động mạnh như bão, áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển Đông hoặc đổ bộ vào vùng bờ biển từ Trung Trung bộ đến Nam Trung bộ, kết hợp với gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh trong thời kỳ tháng 8, tháng 9 và không khí lạnh tăng cường trong thời kỳ tháng 10, tháng 11. Phần nhiều những cơn bão, áp thấp nhiệt đới này tạo nên dải hội tụ có trục đi ngang qua Trung bộ. Do vậy, đa phần Tây Nguyên nằm ở phần phía Nam dải hội tụ này nên mưa lũ thường xuất hiện. Đặc biệt nếu bão hoặc áp thấp đổ bộ vào vùng bờ biển từ Bình Định đến Nha Trang thì tàn dư của nó thường gây mưa lũ lớn ở Tây Nguyên. Những năm gần đây, dưới sự tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, biến trình mưa ở khu vực Tây Nguyên cũng có những thay đổi nhất định. Theo đó, số trận mưa có cường độ và lượng lớn có xu thế tăng lên. Kết hợp với những biến đổi tại chỗ như việc chặt phá rừng cùng nhiều hoạt động khác làm thay đổi diện mạo tự nhiên của lưu vực đã khiến cho dòng chảy lũ trên các sông suối ở Tây Nguyên trở nên hung dữ hơn, có mức độ tàn phá khốc liệt hơn. Theo số liệu thống kê, trong vòng 15 năm trở lại đây, ở khu vực Tây Nguyên đã có 18 trận lũ lớn đến đặc biệt lớn và lũ quét gây ngập lụt trên diện rộng. XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÒNG CHỐNG LŨ ỐNG – LŨ QUÉT Thành lập bản đồ nguy cơ lũ quét – lũ ống Phân vùng nguy cơ lũ quét dựa trên cơ sở phân tích từng vùng, từng đơn vị diện tích và tác động tổng hợp của các yếu tố: Địa hình, hình dạng lưu vực, hướng dòng chảy thể hiện ở bản đồ phân cấp độ dốc Khả năng thấm của đất, khả năng sinh dòng chảy, xói mòn, rửa trôi thể hiện ở bản đồ phân bố các loại đất Mặt đệm, lớp phủ thực vật và các yếu tố tác động của con người thể hiện ở bản đồ lớp phủ thực vật Sơ đồ các bước thành lập bản đồ phân vùng nguy cơ lũ quét Các biện pháp ngăn ngừa lũ quét – lũ ống Biện pháp công trình Tăng khả năng thoát lũ của lòng dẫn Sự tiêu thoát nước kém là một yếu tố ảnh hưởng đến cường độ lũ. Nhất là những đoạn hạ lưu, khi lũ tập trung nhanh, lưu lượng lớn mà lại tiêu thoát kém thì tác động càng mạnh. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến tiêu thoát lũ chủ yếu bao gồm địa hình cửa sông hẹp, quanh co hay bị các hộ dân lấn chiếm, vứt rác… tức là tạo các chướng ngại làm tắc nghẽn dòng chảy. Để phòng tránh và giảm nhẹ ảnh hưởng của lũ quét, lũ ống địa phương cần thường xuyên tiến hành các hoạt động: Phá, loại bỏ các chướng ngại tự nhiên: phát quang cây cối trong khu vực lòng dẫn. Loại bỏ các chướng ngại nhân tạo: cầu đổ, các công trình hư hại, các loại vật liệu rắn chất đống trong lòng dẫn… Quy định phương thức khai thác vật liệu trên sông, trong lòng dẫn, các điểm dân cư, dỡ bỏ vùng lấn chiếm… Nghiêm cấm việc san lấp sông suối và đổ chất thải rắn làm ảnh hưởng đến tiêu thoát lũ. Công tác này đòi hỏi phải làm thường xuyên trước mỗi mùa mưa, trong mùa lũ. Phân dòng lũ quét Phân dòng nhằm giảm tính ác liệt của lũ từ đó giảm tác động quét và bồi lấp bùn cát. Phân lũ là làm cho một phần hoặc toàn bộ lưu lượng lũ quét đi theo một tuyến khác ra sông chính hoặc vùng trữ để không gây thiệt hại cho vùng bảo vệ ở thung lũng sông. Việc phân dòng thường được thực hiên bằng cách đào kênh để dẫn ra sông chính hoặc vùng trũng. Tách vật rắn khỏi dòng lũ Biện pháp nhằm tách nước ra khỏi vật chất rắn trong dòng lũ quét để giảm được tác động của nó. Khi đa phần các vật chất rắn bị tách thì lũ quét sẽ trở thành lũ thường và có thể giảm nhẹ bằng các công trình quen biết trên sông. Để tách vật chất rắn, các loại đập có độ dốc đáy nhỏ hoạc các tấm đập chắn thấp ngay đáy lòng dẫn thường được sử dụng. Biện pháp kĩ thuật thủy lợi Biện pháp kĩ thuật thủy lợi nhằm cải thiện địa hình đồi núi, làm gián đoạn lòng chảy, lưu trữ nước ở sườn dốc, thực hiện thủy lợi hóa. Đây là biện pháp khống chế dòng lũ quan trọng và có hiệu quả lớn. Các biện pháp công trình đơn giản bao gồm: đắp bờ dưới nước, đào mương ngăn nước ở khe suối, xây dựng các đập kiểm soát. Biện pháp thủy lợi quan trọng khác là: xây dựng hồ chứa kiểm soát lũ, công trình phân chậm lũ, thoát lũ,… Tăng khả năng thoát lũ của cầu cống bằng Mở rộng khẩu độ cầu cống là biện pháp đặc biệt cần thiết ở những đoạn sông, suối thường xảy ra lũ quét. Quạt bồi do lũ quét tạo ra ngày càng cao, khẩu độ cầu cống sẽ không đủ thoát nước, cần mở rộng khẩu độ hoặc xây thêm cầu ở vị trí thấp của quạt bồi. cầu cống phải được xây dựng
Luận văn liên quan