Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ đã đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế trong những năm tới của Việt Nam là 9 - 10% năm và phấn đấu đến năm 2020, mức GDP bình quân đầu người tăng lên gấp 8 - 10 lần so với hiện nay, tương đương mức 2 - 3 nghìn USD/người. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế đó, yêu cầu về thu hút và dùng vốn là một trong những thách thức lớn nhất và khó giải quyết với nền kinh tế Việt Nam. Theo tính toán sơ bộ, để duy trì tốc độ tăng trưởng GDP như mục tiêu đề ra, Việt Nam cần đầu tư khoảng lớn hơn 40 tỷ USD. So với năng lực tiết kiệm nội địa hiện tại của Việt Nam thì con số này thực sự là khổng lồ, vì vậy chúng ta phải tính đến khả năng huy động các nguồn vốn từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu vật tư. Với lợi thế của nước ta đi sau thì thu hút đầu tư nước ngoài nói chung, đầu tư trực tiếp sử dụng chúng có hiệu quả là một trong những cách quan trọng để chúng ta đạt được mục tiêu trên. Trong điều kiện nền kinh tế nước xuất phát thấp, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng nó là nguồn bổ sung vốn cho đầu tư, là một kênh chuyển giao công nghệ, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động tạo nguồn thu cho ngân sách, giúp đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

doc12 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 1492 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phần I I. Mở đầu Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ đã đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế trong những năm tới của Việt Nam là 9 - 10% năm và phấn đấu đến năm 2020, mức GDP bình quân đầu người tăng lên gấp 8 - 10 lần so với hiện nay, tương đương mức 2 - 3 nghìn USD/người. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế đó, yêu cầu về thu hút và dùng vốn là một trong những thách thức lớn nhất và khó giải quyết với nền kinh tế Việt Nam. Theo tính toán sơ bộ, để duy trì tốc độ tăng trưởng GDP như mục tiêu đề ra, Việt Nam cần đầu tư khoảng lớn hơn 40 tỷ USD. So với năng lực tiết kiệm nội địa hiện tại của Việt Nam thì con số này thực sự là khổng lồ, vì vậy chúng ta phải tính đến khả năng huy động các nguồn vốn từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu vật tư. Với lợi thế của nước ta đi sau thì thu hút đầu tư nước ngoài nói chung, đầu tư trực tiếp sử dụng chúng có hiệu quả là một trong những cách quan trọng để chúng ta đạt được mục tiêu trên. Trong điều kiện nền kinh tế nước xuất phát thấp, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng nó là nguồn bổ sung vốn cho đầu tư, là một kênh chuyển giao công nghệ, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động tạo nguồn thu cho ngân sách, giúp đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. II. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam Thực trạng Cho đến nay, Việt Nam đã đặt quan hệ ngoại giao và quan hệ thương mại với nhiều nước trên thế giới. Đã có trên 2040 văn phòng đại diện nước ngoài quan hệ Việt Nam, thuộc mọi lĩnh vực. Có khoảng 900 công ty thuộc 65 nước và lãnh thổ trên thế giới đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam với gần 2400 dự án được cấp giấy phép với tổng số 36 tỷ USD, vốn pháp định là 14,5 tỷ USD chiếm trên 43% tổng vốn đăng ký, tổng số vốn FDI đã thực hiện đến cuỗi năm 1997 đạt 12,2 tỷ USD. Về vốn vay đã có 274 hợp đồng vốn vay nước ngoài của các doanh nghiệp FDI được ngân hàng nhà nước chấp thuận với tổng số vốn là 3,34 tỷ USD, trong đó vốn đã rút là trên 2,3 tỷ USD. Ngoài ra theo số liệu của ngân hàng Nhà nước cung cấp thì có khoảng 500 triệu USD vốn vay chưa đăng ký qua Ngân hàng Nhà nước. Số dự án hoạt động theo hình thức hợp tác kinh doanh chiếm 7% theo hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 30% và số dự án liên doanh đang hoạt động, chiếm tỷ lệ nhiều nhất: 61% tổng số dự án được cấp giấy phép. Sự phân bổ FDI thay đổi nhiều trong suốt thời kỳ. Tỉ lệ FDI đầu tư vào ngành khai thác (chủ yếu là dầu khí) và nông nghiệp giảm xuống, trong khi tỷ lệ FDI và các ngành công nghiệp (chủ yếu là công nghiệp chế biến) và dịch vụ (khách sạn du lịch) lại tăng nhanh, cụ thể là ngành chế biến đã thu hút tỉ lệ FDI cao nhất (39,1% tổng số vốn đầu tư) tiếp theo là nhà cửa khách sạn du lịch (21,2%); khu chế xuất, khu công nghiệp chiếm tỉ lệ 10,8%. Trong khi đối với khu vực nông nghiệp, FDI lại chiếm tỉ lệ rất nhỏ (4,8%). Trong tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam, Singapore đứng đầu chiếm 15,41% tổng số vốn đầu tư, tiếp Đài Loan 13,2, Hồng Kông 10,7, Hàn Quốc 9,42%... 4 nước Châu á chiếm một nửa. Theo vùng lãnh thổ, FDI chủ yếu tập trung ở phía Nam, miền Bắc theo sau rồi bắt kịp. Sự phân bố FDI chênh lệch rất nhiều giữa khu vực thành thị và nông thôn. Trên 80% tổng số vốn đầu tư tập trung ở khu vực thành thị chỉ có 20% cho khu vực nông thôn. Trong khi đó 70% dân số Việt Nam lại sống ở khu vực nông thôn, điều này tạo ra sự bất bình đẳng trong thu nhập. III. Những vướng mắc và yếu kém trong việc thu hút FDI 1. Những vướng mắc về mặt pháp luật. - Vấn đề chuyển lỗ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Theo qui định của Luật đầu tư nước ngoài, chỉ có các doanh nghiệp liên doanh mới được chuỷen lỗ của bất kỳ năm tính thuế nào sang năm có lãi tiếp theo thời gian chuyển lỗ không quá 5 năm. Nhưng cũng theo luật này, chỉ có doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đều là pháp nhân Việt Nam việc quy định chuyển lỗ như trên đã gây sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư nước ngoài. - Về thuế doanh thu có hiện tượng thuế chồng lên thuế, luật thuế thu nhập công ty thuế suất chủ yếu là 32% có hiệu lực từ ngay 1/1/99 trong khi theo luật đầu tư nước ngoài có doanh nghiệp FDI trừ dầu khí và khai thác vàng bạc đá quí được hưởng thuế suất 10%, 20%, 25% trong một thời gian nhất định hoặc suốt thời gian thực hiện dự án. Như vậy tất cả doanh nghiệp FDI được cấp giấy phép sẽ chịu thuế suất thu nhập công ty 32% thay cho thuế suất từ 10 - 20% và khi đó cần bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài với thuế suất từ 5 - 10% để đảm bảo sự công bằng nhất định cho các nhà đầu tư. Thuế suất áp dụng theo pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là quá cao so với các nước lân cận vì vậy các doanh nghiệp FDI đứng trước nguy cơ khó mà duy trì đủ lượng nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý có trình độ chuyên môn cần thiết để tham gia và điều hành hoạt động của doanh nghiệp và càng không thu hút được những người giỏi vào làm việc ở Việt Nam. 2. Về cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém do phải bỏ nhiều chi phí cho các công trình ngoài hàng rào, chi phí vận chuyển. Chính phủ chủ trương huy động FDI dưới hình thức BOT, BTO và BT để cải thiện cơ sở hạ tầng nhưng cho đến nay chưa đem lại hiệu quả vì các nhà đầu tư đều đánh giá rằng các công trình kết cấu hạ tầng ở Việt Nam còn nhiều rủi ro. 3. Việc quy hoạch ruộng đất, quy hoạch ngành kinh tế -kỹ thuật trong việc gọi vốn FDI còn nhiều yếu kém, chúng ta đã phê duyệt thành lập nhiều KCN ở nhiều tỉnh thành nhưng đối với các khu đã đi vào hoạt động hoặc đang tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng việc quy hoạch chi tiết rất chậm khiến các nhà đầu tư nước ngoài rất bị động trong việc chọn địa điểm nhất, thậm chí gây tâm lý hoài nghi . Nhiều dự án cần sử dụng diện tích đất lớn liên quan đến an ninh quốc phòng nhưng phối hợp quy hoạch không đồng bộ, có dự án được cấp giấy phép và chấp thuận cho thuê nhưng khi đi vào triển khai lại bị phản đối phải chuyển địa điểm, phải giảm đáng kể diện tích dẫn đến dự án kém khả thi. Việc quy hoạch gọi vốn FDI vào 1 số ngành quá yếu kém và các nhà đầu tư nước ngoài cũng đã tin vaò những dự báo khả quan của ta, vì vậy, chúng ta phải chịu trách nhiệm về tình trạng thừa công suất của 1 số ngành như: khách sạn, nhà ở, thuê văn phòng.... 4. Lực lượng lao động của chúng ta còn nhiều yếu kém. Chúng ta rất hiếm công nhân lành nghề, hiện nay việc tuyển 1 công nhân lành nghề cao ở địa bàn Hà Nội khó khăn hơn việc tuyển 1 sinh viên tốt nghiệp đại học. Thêm vào nữa hệ thống các trường đại học của ta chưa đảm bảo chất lượng về đào tạo ngoại ngữ, lẫn chuyên môn . Hầu hết lao động trực tiếp của các doanh nghiệp FDI đều tuyển chưa qua đào tạo hoặc đào tạo chưa đầy đủ chưa đạt chất lượng. Chính vì vậy chi phí cho dạy nghề rất tốn kém. Lao động của ta được các chuyên gia đánh giá là chịu khó, cần cù nhưng vì ít kinh nghiệm nghề nghiệp, không có tác phong công nghiệp cho nên năng suất thấp. 5. Khó khăn về cân đối ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhà nước. Theo luật đầu tư và các văn bản dưới luật, ngân hàng nhà nước chỉ cân đối ngoại tệ cho các doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng hoặc sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu thiết yếu. Trong điều kiện nhà nước và doanh nghiệp đều thiếu ngoại tệ thì quy định trên là phù hợp với tình hình thực tiễn. Tuy nhiên trong điều kiện 70% các doanh nghiệp tiêu thụ hàng hoá tại thị trường Việt Nam và nguyên liệu chủ yếu dựa vào nguồn nhập khẩu (linh kiện điện tử, ô tô...) việc không có 1 chính sách và biện pháp giúp đỡ tất cả các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp FDI cân đối ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu (chưa nói đến nguồn ngoại tệ để trả nợ gốc, lãi vay nước ngoài...) sẽ không đảm bảo cho các doanh nghiệp hoạt động bình thường và cản trở việc tiếp tục huy động nguồn vốn FDI. 6. Thủ tục hành chính trong lĩnh vực FDI còn quá rườm rà nhiêu khê. Các nhà đầu tư nước ngoài kêu ca phàn nàn nhiều về việc xin giấy phép đầu tư, thủ tục thuê đất, xin giấy phép xây dựng cũng như các thủ tục triển khai thực hiện quá trình XDCB. Còn nhiều điều phải xét lại trong thủ tục kiểm tra hàng hoá xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI trong nhiều trường hợp vào kiểm tra gian lận thương mại các cơ quan hải quan đã giữ hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu quá lâu gây ách tách cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI . 7. yếu kém trong lĩnh vực kiểm tra của các cơ quan chức năng đối với hoạt động của các doanh nghiệp FDI. Trong lĩnh vực này phải nói rằng kiểm tra thì nhiều nhưng chất lượng không đạt yêu cầu bởi lẽ cán bộ được cử đi kiểm tra chưa đủ trình độ phát hiện những vi phạm của đơn vị, đặc biệt về lĩnh vực tài chính về giá xuất khẩu thành phẩm.... Sự buông lỏng quản lý trong đó bao gồm công tác kiểm tra của các đơn vị chủ quản bên Việt Nam trong các doanh nghiệp lao động với nước ngoài đã dẫn đến tình trạng không phát hiện được những yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ đến khi doanh nghiệp bị lỗ, cơ quan quản lý mới biết. Phần II: Đâu là giải pháp cho hướng đi. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có được thực hiện hay không, điều đó tuỳ thuộc vào cả hai phía, bên đầu tư và bên nhận đầu tư. Vì vậy để thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp, cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp khác nhưng thực chất lại rất gắn bó với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Với tư cách là bên nhận đầu tư, chúng ta phải tạo ra các điều kiện cần thiết để thu hút vốn đầu tư, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. I. Các giải pháp đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. 1. Giữ vững sự ổn định từ xã hội, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch vững vàng, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đảm bảo lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đảm bảo trật tự an toàn xã hội. 2. Giữ vững sự ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân, kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, giá cả. 3. Hoàn thiện môi trường pháp lý, đảm bảo hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài bằng những điều khoản có tính chất ưu đãi về mặt lợi ích kinh tế của họ và đảm bảo an toàn về vốn cho họ. Xây dựng một hệ thống pháp luật đầy đủ và đồng bộ, đảm bảo thi hành pháp luật nghiêm minh. 4. Xây dựng chiến lược hợp tác đầu tư với nước ngoài trên cơ sở của chiến lược phát triển KTQD. Khẩn trương hoàn thiện quy hoạch tổng thể đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó cần quy hoạch cụ thể cơ cấu kinh tế, quy hoạch các khu công nghiệp... 5. Phát triển kinh tế thị trường có sự tham gia quản lý của nhà nước với sự tham gia của các thành phần kinh tế thiết lập hệ thống thị trường đồng bộ tạo điều kiện cho chính thị trường đầu tư hoạt động có hiệu quả. Nhanh chóng hình thành thị trường tài chính, hoàn thiện thị trường lao động....và phát triển các ngành dịch vụ tài chính ngân hàng, đáp ứng những đòi hỏi bức bách của hoạt động sản xuất kinh doanh. 6. Cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trước hết phải khẳng định tính nhất quán, ổn định của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các quy định mới của nhà nước làm thiệt hại đến lợi ích của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước không áp dụng đối với các doanh nghiệp đã được cấp giấy phép đầu tư trước đó; các quy định mới ưu đãi hơn sẽ được áp dụng cho doanh nghiệp đã được cấp giấy phép trước đó. Việc bổ sung 1 số biện pháp khuyến khích và bảo đảm nhất, khẳng định tính nhất quán ổn định của chính sách đầu tư... - Trong khi chúng ta chủ trương phát triển đầu tư nước ngoài trên cơ sở có tính đến quy hoạch phát triển chung và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước để tránh sự hiểu lầm từ phía các nhà đầu tư nước ngoài cho rằng chúng ta đang thắt chặt điều kiện đầu tư, tạo môi trường đầu tư không rõ ràng cần ban hành ngay các danh mục sau. - Danh mục các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư - Danh mục các dự án khuyến khích đầu tư - Danh mục các lĩnh vực đầu tư có điều kiện - Danh mục các lĩnh vực không cấp phép đầu tư. - Danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư. Đối với những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, sản xuất hàng thay thế nhập khẩu thiết yếu và các công trình đầu tư quan trọng ngân hàng nhà nước Việt Nam cần đảm bảo cân đối ngoại tệ cho doanh nghiệp đảm bảo bán ngoại tệ cho doanh nghiệp trong suốt thời gian hoạt động. Còn dự án khác, ngân hàng có thể xem xét cho mua ngoại tệ phù hợp với các quy định về quản lý ngoại hối. Cải thiện môi trường đầu tư, thủ tục hành chính vẫn là khâu cần tiếp tục được cải cách, đặc biệt là các thủ tục sau giấy phép đầu tư. Cần xem xét bỏ quy định việc xin giấy phép hành nghề đối với những dịch vụ có liên quan sau khi đã được cấp giấy phép đầu tư. Cần cải tiến việc điều hành, quản lý nhà nước và chính sách cán bộ trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, nhân viên kỹ thuật và tay nghề, cho công nhân theo hướng vừa trang bị kiến thức cơ bản, vừa đào tạo chuyên sâu. Ngoài ra, nhà nước cần sửa đổi quy định thuế thu nhập cá nhân đối với người nước ngoài, đa dạng hoá các hình thức đầu tư. Nhu cầu về cổ phần hoá doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài việc thành lập công ty cổ phần có vốn nước ngoài, đặc khu kinh tế.... đã và đang là yêu cầu được đáp ứng. 7. Củng cố quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, nâng cao quản lý của các cấp, các ngành, các địa phương và đơn vị hợp tác đầu tư với nước ngoài. Phân cấp quản lý chặt chẽ, đồng bộ, đảm bảo sự tập trung thống nhất. Khắc phục hiện tượng chia cắt phân tán. 8. Cải tạo nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng. Đây là công việc không dễ thực hiện trong điều kiện tiềm lực kinh tế của Việt Nam còn nhỏ bé, nhất là nguồn vốn ngân sách nhà nước còn hạn chế. Vì vậy một mặt chúng ta cần huy động tối đa khả năng của mình, mặt khác cần tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức và chính phủ khác. Khi chưa có đủ điều kiện phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế thì nên tập trung xây dựng rứt điểm những công trình then chốt của nền kinh tế. 9. Dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế cho phù hợp với sự phát triển của phân công lao động quốc tế. Một số cơ cấu kinh tế mới chỉ nên tập trung phát triển mạnh những ngành và lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế so sánh. 10. Mở cửa về thông tin trong và ngoài nước, nhất là thông tin kinh tế và thị trường, văn hoá, xã hội, khoa học công nghệ dưới mọi hình thức. Thiết lập một thị trường thông tin công bằng đối với mọi thành viên, mọi người dân và các doanh nghiệp trong nền kinh tế. II. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư FDI. 1. Tạo điều kiện để thực hiện các dự án: Tốc độ thực hiện dự án đầu tư là 1 yếu tố quan trọng trong quyết định đến hiệu quả nhất, quá trình thực hiện càng nhanh thì dự án càng sớm đi vào sản xuất đem lại hiệu quả trong quá trình triển khai thực hiện dự án, các nhà đầu tư còn gặp trở ngại thủ tục hành chính rườm rà , giải phóng mặt bằng chậm chễ... Để cho các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được triển khai nhanh chóng, sớm phát huy hiệu quả, chúng ta cần thiết phải tháo gỡ những trở ngại trên. Cùng với việc cải tiến thủ tục hành chính, hoàn thành các văn bản pháp quy, chúng ta cần phải cải tạo và xây dựng mới hệ thống cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. 2. Quản lý nhà nước. Công cụ quan trọng nhất để nhà nước thực hiện vai trò kinh tế là việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, ban hành chính sách, pháp luật. Thẩm định dự án là khâu đầu tiên xác định hiệu quả của một dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Công việc này đỏi hỏi phải được tiến hành nhanh chóng chuẩn xác. Muốn có kết quả tốt yêu cầu phải có đầy đủ thông tin cần thiết những kiến thức khoa học về kinh tế, kỹ thuật. Quản lý dự án sau giấy phép đầu tư là công đoạn khó khăn nhất chiếm thời gian và công sức nhất trong toàn bộ quy trình quản lý nhà nước, nó quyết định thành công và hiệu quả của hoạt động hợp tác đầu tư. Việc buông lỏng quản lý dự án sau giấy phép đầu tư đã gây nhiều khó khăn trở ngại cho việc triển khai thực hiện dự án một cách có hiệu quả. Công tác tổ chức cán bộ là yếu tố quyết định nhất nhưng đang là khâu yếu nhất trong công tác quản lý nhà nước. Hầu hết các cán bộ hoạt động trong lĩnh vực đầu tư chưa có kiến thức và kinh nghiệm về đầu tư nước ngoài, ít hiểu biết pháp luật ngoại ngữ kém. Nhưng họ lại được nhận công việc khó khăn, mới mẻ vượt quá sức của họ. Để đáp ứng yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài, chúng ta cần đặc biệt chú trọng đến công tác bồi dưỡng và đào tạo cán bộ. 3. Tăng khả năng tiếp nhận đầu tư nhà nước. Khả năng tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài của nền kinh tế nói chung và từng doanh nghiệp là một nhân tố quyết định hiệu quả nhất. Đầu tư FDI chỉ phát huy hiệu quả tốt khi chúng ta có khả năng tiếp nhận tốt. Để tiếp tục nhận một cách có hiệu quả FDI đòi hỏi chúng ta phải có 1 tỷ lệ hợp lý vốn đối ứng trong nước. Nhưng vấn đề là làm thế nào để huy động được nhiều vốn trong nước đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư một cách chủ động, điều đó phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế khả năng huy động vốn tích luỹ trong nội bộ nền kinh tế. Về năng lực tiếp nhận đầu tư nước ngoài của các doanh nghiệp trong thời gian qua còn nhiều hạn chế. Trong các doanh nghiệp liên doanh, phần vốn góp của bên Việt Nam còn thấp, trung bình từ khoảng 25%. Phần vốn góp ít không chỉ có nghĩa là phần lợi nhuận được chia thấp, mà quan trọng hơn về lâu dài là quyền chi phối hoạt động kinh tế của cơ sở kinh doanh thuộc về các chủ đầu tư nước ngoài. Để hạn chế sự chi phối của các công ty nước ngoài và nâng cao hiệu quả của hợp tác đầu tư, các bên đối tác Việt Nam cần tăng tỉ lệ góp vốn trong cá liên doanh với nước ngoài, về lâu dài có thể mua cổ phần của bên nước ngoài. Để tăng cường tiềm lực kinh tế của các doanh nghiệp Việt Nam hiện tại cũng như trong tương lai, ngoài sự nỗ lực của bản thân các doanh nghiệp nó cần thiết phải có sự giúp đỡ của Nhà nước bằng các chính sách kinh tế vĩ mô, Nhà nước cần tạo điều kiện và khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh tăng sức mạnh kinh tế. Đây là công việc mang tính chiến lược nó phục vụ cho lợi ích lâu dài của chúng ta trong hợp tác đầu tư với nước ngoài cũng như trong quá trình phát triển kinh tế.
Luận văn liên quan