Trước đây, phẫu thuật điều trị ung thư phổi được thực hiện bằng
phẫu thuật mở ngực kinh điển, vết mổ dài hơn 15cm và banh các
xương sườn để vào lồng ngực cắt thùy phổi và nạo hạch. Với vết mổ
dài và thao tác banh xương sườn nên bệnh nhân rất đau sau phẫu
thuật, thậm chí nhiều trường hợp đau dai dẳng kéo dài dù đã được
phẫu thuật trước đó nhiều tháng. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa
học kỹ thuật, sự ra đời của hệ thống thấu kính, camera nội soi, các
dụng cụ phẫu thuật nội soi, thiết bị cắt và khâu phổi tự động đã tạo ra
kỹ nguyên mới trong phẫu thuật.
Hiện nay, nhiều trung tâm trên thế giới đã áp dụng kỹ thuật này.
Tuy nhiên, khả năng nạo hạch triệt căn bằng phẫu thuật nội soi là vấn
đề được nhiều tác giả bàn cãi. Một số tác giả cho rằng qua nội soi
lồng ngực phẫu trường được phóng to và quan sát tốt hơn, chính điều
này giúp xác định, bộc lộ rõ ràng cấu trúc vùng rốn phổi và các vị trí
hạch trung thất, qua đó kết luận rằng phẫu thuật nội soi lồng ngực
nạo vét hạch triệt để hơn so với phẫu thuật mở ngực kinh điển. Bên
cạnh đó, cũng còn nhiều quan điểm về cách thức phẫu thuật nạo hạch
như: phẫu thuật nạo hạch hệ thống, nạo hạch chọn lọc, nạo hạch giới
hạn hay chỉ lấy mẫu hạch Nhưng đa số các tác giả đều cho rằng
phẫu thuật nội soi có thể thay thế mở ngực kinh điển trong cắt thùy
phổi và nạo hạch triệt căn đối với ung thư phổi nguyên phát giai đoạn
I và IIA, cũng có một số tác giả báo cáo thực hiện cho cả giai đoạn
IIIA (T2a,N2).
Tại Việt Nam, PTNS lồng ngực đã áp dụng tại nhiều bệnh viện
lớn trong cả nước ta như BV Chợ Rẫy, BV ĐH Y Dược TP HCM,
BV Phạm Ngọc Thạch, BV Nhân Dân Gia Định, BV Việt Đức
Mặc dù đã có những báo cáo về PTNS cắt thùy phổi ở nước ta, nhưng
chủ yếu là cắt thùy phổi, còn vấn đề nạo hạch qua NSLN chưa được
đề cập nhiều. Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu trong nước
báo cáo về khả năng nạo hạch của phẫu thuật nội soi lồng ngực
27 trang |
Chia sẻ: thientruc20 | Lượt xem: 380 | Lượt tải: 2
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi và nạo hạch, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------
TRẦN MINH BẢO LUÂN
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI
KHÔNG TẾ BÀO NHỎ BẰNG PHẪU THUẬT
NỘI SOI CẮT THÙY PHỔI VÀ NẠO HẠCH
Ngành: Ngoại Lồng Ngực
Mã số: 62720124
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018
Công trình được hoàn thành tại:
Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM
2. PGS.TS. NGUYỄN TRUNG TÍN
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
trường họp tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
vào hồi .giờ..phút, ngày thángnăm 2018
Có thể tìm hiểu Luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM
- Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
Lý do và tính cần thiết của nghiên cứu
Trước đây, phẫu thuật điều trị ung thư phổi được thực hiện bằng
phẫu thuật mở ngực kinh điển, vết mổ dài hơn 15cm và banh các
xương sườn để vào lồng ngực cắt thùy phổi và nạo hạch. Với vết mổ
dài và thao tác banh xương sườn nên bệnh nhân rất đau sau phẫu
thuật, thậm chí nhiều trường hợp đau dai dẳng kéo dài dù đã được
phẫu thuật trước đó nhiều tháng. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa
học kỹ thuật, sự ra đời của hệ thống thấu kính, camera nội soi, các
dụng cụ phẫu thuật nội soi, thiết bị cắt và khâu phổi tự động đã tạo ra
kỹ nguyên mới trong phẫu thuật.
Hiện nay, nhiều trung tâm trên thế giới đã áp dụng kỹ thuật này.
Tuy nhiên, khả năng nạo hạch triệt căn bằng phẫu thuật nội soi là vấn
đề được nhiều tác giả bàn cãi. Một số tác giả cho rằng qua nội soi
lồng ngực phẫu trường được phóng to và quan sát tốt hơn, chính điều
này giúp xác định, bộc lộ rõ ràng cấu trúc vùng rốn phổi và các vị trí
hạch trung thất, qua đó kết luận rằng phẫu thuật nội soi lồng ngực
nạo vét hạch triệt để hơn so với phẫu thuật mở ngực kinh điển. Bên
cạnh đó, cũng còn nhiều quan điểm về cách thức phẫu thuật nạo hạch
như: phẫu thuật nạo hạch hệ thống, nạo hạch chọn lọc, nạo hạch giới
hạn hay chỉ lấy mẫu hạch Nhưng đa số các tác giả đều cho rằng
phẫu thuật nội soi có thể thay thế mở ngực kinh điển trong cắt thùy
phổi và nạo hạch triệt căn đối với ung thư phổi nguyên phát giai đoạn
I và IIA, cũng có một số tác giả báo cáo thực hiện cho cả giai đoạn
IIIA (T2a,N2).
Tại Việt Nam, PTNS lồng ngực đã áp dụng tại nhiều bệnh viện
lớn trong cả nước ta như BV Chợ Rẫy, BV ĐH Y Dược TP HCM,
BV Phạm Ngọc Thạch, BV Nhân Dân Gia Định, BV Việt Đức
Mặc dù đã có những báo cáo về PTNS cắt thùy phổi ở nước ta, nhưng
chủ yếu là cắt thùy phổi, còn vấn đề nạo hạch qua NSLN chưa được
đề cập nhiều. Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu trong nước
báo cáo về khả năng nạo hạch của phẫu thuật nội soi lồng ngực.
Vì vậy, đánh giá kết quả áp dụng phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi
và nạo hạch trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ là đề tài bức
thiết, xuất phát từ nhu cầu thực tiển trong thực hành lâm sàng của
nước ta hiện nay. Câu hỏi đặt ra là khi áp dụng phẫu thuật nội soi
2
lồng ngực cho những chỉ định đã được các tác giả trên thế giới đề cập
đến (giai đoạn I, II và IIIA-T2a,N2), thì khả năng nạo hạch như thế
nào? có thực hiện được không? tai biến, biến chứng và hiệu quả của
việc nạo hạch (kết quả dài hạn) như thế nào?
Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm: “đánh giá
kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng phẫu thuật
nội soi cắt thùy phổi và nạo hạch”.
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá khả năng nạo hạch của phẫu thuật nội soi lồng ngực và
giá trị của chụp cắt lớp vi tính (CLVT) ngực cản quang trong tiên
đoán khả năng nạo hạch.
Đánh giá kết quả sớm và dài hạn của phẫu thuật nội soi lồng
ngực (PT NSLN) cắt thùy phổi và nạo hạch trong điều trị ung thư
phổi không tế bào nhỏ.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm những bệnh nhân ung thư phổi không
tế bào nhỏ được chỉ định điều trị bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực
cắt thùy phổi kèm nạo hạch tại BV Phạm Ngọc Thạch và BV Đại học
Y Dược TPHCM từ 01/2012 đến 12/2016.
Những đóng góp mới của nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn
Nghiên cứu cho thấy khả năng của phẫu thuật nội soi lồng ngực
trong vấn đề nạo vét triệt căn các nhóm hạch khi tiến hành cắt thùy
phổi điều trị ung thư.
Nghiên cứu cũng cho thấy giá trị của cắt lớp vi tính ngực cản
quang trong tiên đoán khả năng nạo vét các nhóm hạch qua nội soi
lồng ngực trong phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ.
Phân tích kết quả dài hạn của phẫu thuật nội soi lồng ngực trong
điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ, góp phần xác định hiệu quả
của cắt thùy phổi và nạo hạch bằng phẫu thuật nội soi trong điều trị
ung thư phổi không tế bào nhỏ.
Bố cục luận án
Luận án có 130 trang. Ngoài phần đặt vấn đề và mục tiêu nghiên
cứu (2 trang), kết luận và kiến nghị (3 trang), có 4 chương: tổng quan
tài liệu 36 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 20 trang, kết
quả 32 trang, bàn luận 36 trang. Có 54 bảng, 11 biểu đồ, 28 hình,
162 tài liệu tham khảo (25 tiếng Việt, 137 tiếng Anh).
1.1.
Bản
H
1 – 9
thị b
Theo
và h
1.2.N
viên
trong
PTN
hành
N2 t
đoạn
có h
H
Chư
BẢN ĐỒ HẠCH
đồ 14 vị trí nhó
ạch trung thất k
. Những hạch rố
ằng các chữ số
hệ thống xếp lo
ạch trung thất N2
ẠO HẠCH HA
Trong thời gian
đề nghị không
mổ mà nên chu
S, sự trợ giúp d
PTNS cắt thùy
rong mổ.
Theo nghiên cứu
I, ông tiến hành
ạch trung thất tro
ình 1.1: phân bố
“
3
ơng 1: TỔNG Q
RỐN PHỔI VÀ
m hạch trong un
ý hiệu là “N2” đư
n phổi và trong p
từ 10 – 14, và đ
ại hiện nay, đườ
là đường giới hạ
Y LẤY MẪU H
đầu của PTNS c
PTNS cắt thùy p
yển sang mổ m
ụng cụ PTNS, n
phổi kèm nạo hạ
của Kim H. K.
PTNS nạo hạch
ng lúc phẫu thu
14 vị trí nhóm h
Nguồn: Mounta
UAN TÀI LIỆU
TRUNG THẤ
g thư phổi nguy
ợc biểu thị bằng
hổi ký hiệu là “
ều nằm trong m
ng phân chia hạc
n của màng phổi
ẠCH BẰNG PT
ắt thùy phổi, nhi
hổi khi phát hiệ
ở. Với sự tiến bộ
gày nay nhiều t
ch ngay cả khi p
trên 547 bệnh n
trung thất ngay cả
ật. Kết quả 7,3%
ạch trong lồng n
in C. F. (2009)
T
ên phát
các chữ số từ
N1” được biểu
àng phổi tạng.
h rốn phổi N1
trung thất.
NSLN
ều phẫu thuật
n có hạch N2
của kỹ thuật
ác giả đã tiến
hát hiện hạch
hân UTP giai
khi phát hiện
bệnh nhân có
gực của UICC
4
hạch N1 di căn, 8,9% bệnh nhân có hạch N2 di căn, thời gian sống
thêm 3 năm của nhóm N1 và N2 là 59% và 33%, tương tự mổ mở. Vì
vậy, tác giả đề nghị không chuyển mổ mở mà tiếp tục PTNS nạo
hạch ngay cả khi phát hiện có hạch trung thất trong lúc phẫu thuật.
Phẫu thuật lấy hạch có thể là nạo hạch nguyên khối hay là chỉ
phẫu thuật lấy những nhóm hạch bất thường. Trong phác đồ điều trị
của Hội phẫu thuật Lồng ngực Châu Âu (ESTS) định nghĩa:
- Phẫu thuật nạo hạch: tất cả các hạch trong các vùng phải được
nạo nguyên một khối cùng mạch bạch huyết và mô mỡ xung quanh
để bảo đảm lấy sạch tất cả tế bào ung thư tiềm tàng từ hệ bạch huyết.
- Phẫu thuật lấy hạch: lấy hạch đơn thuần, không lấy mô xung
quanh, các hạch được xác định nhờ CLVT trước phẫu thuật hay được
phát hiện trong phẫu thuật.
Cả hai phẫu thuật lấy hạch hay nạo hạch đều giúp xác định chính
xác giai đoạn ung thư sau phẫu thuật hơn so với việc phân giai đoạn
trước phẫu thuật, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho điều trị
hỗ trợ về sau. Nghiên cứu của Goldstraw cho thấy 24% bệnh nhân
được phát hiện có hạch trung thất di căn (N2) ở những bệnh nhân
được phân loại N1 trước phẫu thuật. Một số nghiên cứu khác cho
thấy bệnh nhân được hóa trị sau lấy hạch có thời gian sống kéo dài
hơn so bệnh nhân không được lấy hạch.
Nghiên cứu ngẫu nhiên, đa trung tâm của ACOSOG (The
American College of Surgeons Oncology Group), trên 1023 bệnh
nhân, cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ biến chứng, tử vong
giữa hai nhóm bệnh nhân được phẫu thuật nạo hạch và phẫu thuật lấy
hạch nhưng tiên lượng sống của nhóm bệnh nhân được phẫu thuật
nạo hạch tốt hơn dù không có ý nghĩa thống kê. Dù không chứng
minh được sự cải thiện thời gian sống còn, phẫu thuật nạo hạch cũng
giúp cho làm giảm bớt sai lầm phân chia giai đoạn ung thư sau mổ do
bỏ sót hạch di căn khi lấy hạch.
1.3.CHỈ ĐỊNH ÁP DỤNG PT NSLN ĐIỀU TRỊ UTP
Hiện nay, đa số các tác giả khuyến cáo phẫu thuật nội soi cắt
thùy phổi nên được thực hiện trong các trường hợp sau:
-Ung thư phổi giai đoạn I, IIA (T1-2a,N1) và IIIA (T1-2a,N2).
-Kích thước u nhỏ hơn 5cm (4-6cm) nằm ở ngoại biên, không xâm
lấn mạch máu, thành ngực, rãnh liên thùy, cơ hoành và màng tim.
5
-Bệnh nhân không xạ trị vùng ngực trước đó, chức năng hô hấp đảm
bảo thông khí một phổi tốt trong quá trình gây mê phẫu thuật.
Tuy vậy, tác giả Kozo Nakanishi cũng đã báo cáo thực hiện
thành công cắt thùy phổi nội soi cho UTP giai đoạn IIIA và tạo hình
phế quản qua nội soi lồng ngực sau khi cắt thùy phổi kèm nạo hạch.
Vadim G. Pischik (2014) còn đưa ra chỉ định PTNSLN mở rộng:
- Kích thước u # 5cm hoặc có thể lớn hơn (< 7cm).
- Xâm lấn các cấu trúc xung quanh: thành ngực, trung thất, cơ hoành.
- Có hạch N1 hoặc N2 (trên CLVT hoặc kích thước hạch > 12mm)
- Khối u phổi thể trung tâm (u lan đến lỗ PQ thùy thấy trên NSPQ)
1.2.KẾT QUẢ PT NSLN CẮT THÙY PHỔI VÀ NẠO HẠCH
Cắt thùy phổi bằng PTNSLN đã được nhiều công trình nghiên
cứu đơn trung tâm cũng như đa trung tâm báo cáo nhằm chứng minh
tính an toàn và hiệu quả trong điều trị UTP giai đoạn sớm; cũng như
lợi điểm của phẫu thuật nội soi như: vết mổ nhỏ thẫm mỹ cao, ít đau
sau mổ, thời gian phục hồi ngắn, rút ngắn thời gian nằm viện... Kết
quả phẫu thuật cắt thùy phổi nội soi cũng được nhiều tác giả báo cáo
cho thấy tương đương với phẫu thuật mở ngực tiêu chuẩn. Tác giả
Jesus Loscertales báo cáo 260 trường hợp cắt thùy phổi nội soi,
chuyển mổ hở 9,2% (24 trường hợp) trong đó 12 trường hợp chảy
máu, 11 trường hợp khó khăn về mặt kỹ thuật. Thời gian nằm viện
trung bình sau mổ 4,1 ngày. Tác giả Kirby cho thấy biến chứng
thường gặp nhất là xì khí kéo dài trên 4 ngày. Tử vong chu phẫu là
2%. Tỷ lệ sống còn sau 5 năm là 77,7%. Tác giả Akinori Iwasaki
thực hiện phẫu thuật 100 trường hợp cắt thùy phổi qua NSLN, không
biến chứng hay tử vong chu phẫu, có 3 trường hợp chuyển mổ hở
trong đó: 1 trường hợp chảy máu không kiểm soát được qua nội soi,
2 trường hợp khó khăn về mặt kỹ thuật. Tỷ lệ sống còn sau 5 năm là:
80,9% đối với UTP giai đoạn I; 70,3% đối với giai đoạn II. Daniel
báo cáo 110 trường hợp cắt thùy phổi nội soi, tỷ lệ chuyển mổ mở là
1,8%; tử vong chu phẫu là 3,6%, không tai biến trong mổ. Gần đây,
báo cáo tác giả Mc Kenna với 1100 trường hợp cho thấy tỷ lệ tử vong
được hạ thấp hơn nữa chỉ còn 0,8%.
Vấn đề còn lại được nhiều tác giả nhắc đến đó là tính khả thi và
hiệu quả của kỹ thuật cắt thùy phổi nội soi về mặt ung thư học. Đa số
các tác giả đều cho rằng phẫu thuật được thực hiện bởi phẫu thuật
6
viên có kỹ năng thì việc cắt thùy phổi nên bao gồm cả nạo hạch như
phẫu thuật mở tiêu chuẩn. Tác giả Shigemura chứng minh hiệu quả
của việc nạo hạch trung thất qua nội soi cũng như các báo cáo trước
đây cũng khẳng định điều này. Tác giả Shiraishi cũng cho rằng về
mặt kỹ thuật, PTNS cắt thùy phổi và nạo hạch tương đương như phẫu
thuật mở tiêu chuẩn. Tác giả Sugi và cộng sự cũng cho thấy không có
sự khác nhau về tỷ lệ sống còn khi so sánh với phẫu thuật mở trước
đây: 90% so với 93% sau 3 năm và 90% so với 85% sau 5 năm. Các
biến chứng sau phẫu thuật cũng không có sự khác biệt giữa hai nhóm
phẫu thuật nội soi và phẫu thuật mở ngực kinh điển ngoại trừ báo cáo
của Kirby có một vài trường hợp xì khí hơn 4 ngày. Và kết quả được
báo cáo về phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi của nhiều tác giả khác
được chúng tôi tổng kết như sau:
Bảng 1.1: kết quả cắt thùy phổi và nạo hạch bằng PT NSLN
Nghiên cứu
Mẫu
nghiên
cứu
Tử
vong
(%)
Tử vong
tích lũy
(%)
Sống còn 3
năm (%)
Sống còn
5 năm
(%)
Sugi và cs 48 90% 90%
Kirby và cs 25 0 24%
Kaseda 103 0.8% 94.4%
Solaini và cs 99 0 11.6% 85%; 90%gđ I
McKenna 1015 0.8% 15.3%
Daniels và cs 108 3.6% 19.1% 93%
Theo báo cáo của tác giả Sofina Begum (2014), Hiệp hội PTLN
Châu Âu thực hiện tổng kết hơn 43.330 trường hợp cắt phổi tại 235
trung tâm khắp các quốc gia Châu Âu, cho thấy: tỷ lệ PTNSLN cắt
thùy phổi và nạo hạch dao động từ 18,8 – 55% tùy trung tâm và
khẳng định PTNSLN tốt hơn hẳn PT mở ngực kinh điển về tỷ lệ biến
chứng cũng như tử vong chu phẫu. Bên cạnh đó, báo cáo cũng chứng
minh hiệu quả về mặt ung thư học trong phẫu thuật điều trị UTP
tương đương với mở ngực kinh điển. Qua những báo cáo trên, nhìn
chung kết quả cắt thùy phổi qua nội soi lồng ngực trong điều trị UTP
rất đáng khích lệ. Hiện nay, tại một số trung tâm trong những năm
gần đây PTNS cắt thùy phổi được lựa chọn áp dụng cho hơn 80%
bệnh nhân. Tuy nhiên, vẫn còn bàn cãi rất nhiều quanh chủ đề này và
đa phần các tác giả đều cho rằng cần một nghiên cứu lớn hơn được
thiết kế chặt chẻ hơn với thời gian kéo dài hơn để so sánh vấn đề nạo
hạch giữa phẫu thuật nội soi và mở ngực tiêu chuẩn.
7
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Đối tượng nghiên cứu:
Tiêu chuẩn chọn bệnh:
- Bệnh nhân được chẩn đoán UTP không tế bào nhỏ dựa vào
CLVT ngực cản quang và GPB của sinh thiết qua NSPQ
hoặc xuyên thành ngực dưới CLVT hay sinh thiết tức thì.
- Định giai đoạn trước phẫu thuật chủ yếu dựa vào CLVT ngực
có cản quang và theo phân loại IUCC hay AJCC (2009)
- Tiêu chuẩn áp dụng PT NSLN cắt thùy phổi và nạo hạch:
Ung thư phổi giai đoạn I, IIA(T1-2a,N1) và IIIA(T1-2a,N2)
Tiêu chuẩn loại trừ:
- UTP tế bào nhỏ và UTP thứ phát.
- UTP KTBN giai đoạn IIIA (T2b, T3, T4), IIIB hoặc IV.
2.2.Phương pháp nghiên cứu:
Thiết kế nghiên cứu: NC can thiệp không đối chứng, tiến cứu
Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại BV Phạm Ngọc Thạch và BV
Đại học Y dược TPHCM từ 01/01/2012 đến 31/12/2016.
Cở mẫu thuận tiện: nhằm thuận tiện cho nghiên cứu được hoàn
thành trong thời gian từ 2012 – 2016, chúng tôi thực hiện nghiên cứu
với cở mẫu thuận tiện, chọn tất cả những bệnh nhân phù hợp tiêu
chuẩn chọn bệnh tại BV Phạm Ngọc Thạch và BV Đại học Y Dược
TPHCM trong thời gian trên.
2.4.Các bước tiến hành nghiên cứu:
CLVT ngực cản quang: tất cả bệnh nhân được chụp CLVT
ngực có tiêm thuốc cản quang với tiêu chuẩn độ dày lát cắt 0,625mm,
chụp cả hai cửa sổ phổi và trung thất, được thực hiện tại BV với máy
CT scanner hiệu SOMATOM Definition AS - Siemens.
Kỹ thuật phẫu thuật: PT NSLN hoàn toàn được thực hiện với
vết mổ nhỏ thao tác 4 -6cm và 2 lỗ trocar, không dùng dụng cụ banh
ngực và phẫu thuật viên nhìn hoàn toàn qua màn hình để thao tác.
Các nhóm hạch được nạo vét khi cắt từng thùy phổi:
Theo hướng dẫn NCCN (2015), chúng tôi tiến hành nạo vét hạch
hệ thống khi cắt từng thùy phổi chứa khối u như sau:
- Thùy trên phổi trái sẽ nạo các nhóm hạch 10L, 7L, 5L, 6L, 4L.
- Thùy trên phải và thùy giữa sẽ nạo các nhóm hạch 10R, 7R, 2R, 4R.
8
- Thùy dưới phổi phải và trái sẽ nạo các nhóm hạch:
Bên phải: 10R, 8R, 9R, 7R và 2R, 4R.
Bên trái: 10L, 8L, 9L, 7L, 5L, 6L và 4L.
Theo dõi và điều trị sau khi phẫu thuật:
Phác đồ điều trị theo hướng dẫn của NCCN (2012 có cập nhật 2015)
+ Giai đoạn IA và IB: tái khám định kỳ theo hẹn.
+ Giai đoạn IIA: hóa trị hỗ trợ, phác đồ có Platin, 4 - 6 chu kỳ
+ Giai đoạn IIIA: kết hợp xạ trị +hóa trị phác đồ có Platin, 4-6 chu kỳ
Chế độ theo dõi: BN được hẹn tái khám 1 tuần sau xuất viện, 1 tháng,
3 tháng, 6 tháng và mỗi 6 tháng đến kết thúc nghiên cứu.
2.5.Đánh giá kết quả PT NSLN cắt thùy phổi và nạo hạch
Kết quả sớm của PT NSLN:
- Tai biến phẫu thuật: chảy máu, tổn thương các cấu trúc lân cận,
chuyển PTNS hỗ trợ hay mở ngực kinh điển.
- Biến chứng hậu phẫu: rối loạn nhịp tim, chảy máu sau mổ, dò khí
kéo dài, TDMP dưỡng trấp, xẹp phổi, viêm phổi, thở máy kéo dài.
- Kết quả chung phẫu thuật:tốt, trung bình, xấu, tử vong chu phẫu.
Khả năng nạo hạch của PT NSLN và giá trị của CLVT ngực
tiên đoán khả năng nạo hạch:
Hạch rốn phổi và trung thất: vị trí hạch, kích thước, số lượng
hạch được lấy ra cho từng vị trí nhóm hạch. Hạch nghi ngờ di căn
trên CLVT khi có đủ 3 đặc điểm sau: kích thước hạch ≥ 1cm, mất
ranh giới giữa hạch và tổ chức xung quanh, hoại tữ trung tâm hạch.
Phẫu thuật nạo hạch:
+ Lấy hết hạch: toàn bộ hạch tại một vị trí được xác định lấy hết
trên đại thể trong mổ và trên CLVT kiểm tra 1 tháng sau mổ.
+ Không lấy hết: còn 1 phần hạch không thể lấy được trên đại thể
Kết quả dài hạn của PT NSLN cắt thùy phổi và nạo hạch
- Sống còn và tử vong: tái phát, di căn xa, tử vong do mọi nguyên
nhân, thời gian sống thêm toàn bộ, thời gian sống thêm không bệnh.
2.7.Thu thập và xử lý số liệu
Tất cả các thông tin ghi nhận trên mẫu “hồ sơ nghiên cứu” được
nhập vào bảng biến số của phần mềm thống kê SPSS 16.0.
Các kiểm định xem là có ý nghĩa thống kê khi giá trị p < 0,05.
Tất cả các thuật toán thống kê dùng để phân tích trong các bảng,
biểu đều được ghi chú phía dưới bảng.
CHƯ
UTP
3.1.Đ
3
Tuổi
≤ 4
40 –
≥ 6
Tổ
3
3.2.K
3
Đặc
Phươ
Nộ
Ch
Ch
Tai b
Kh
Rá
Rá
1: 1 t
2: ch
3:tính
4:xử
ƠNG 3: KẾT Q
Trong thời gian
KTBN được điề
ặc điểm nhóm
.1.1.Tuổi và giớ
Bảng 3.1
0
60
0
ng cộng (109)
.1.2.Vị trí u phổ
Biểu đ
ẾT QUẢ SỚM
.2.1.Đặc điểm c
Bảng 3
điểm
ng pháp phẫu thuậ
i soi hoàn toàn
uyển NSLN hỗ trợ
uyển mổ mở 2
iến phẫu thuật
ông
ch TM đơn
ch phế quản đối bê
rường hợp hạch 4L
ảy máu do rách tĩn
trên tổng 105 trư
lý được qua nội so
22.9%
9
UẢ NGHIÊN C
từ 2012 – 2016,
u trị bằng PTNSL
nghiên cứu
i: tuổi trung bìn
: tỷ lệ phân bố gi
N
1 (
32 (
26 (
59 (
i:
ồ 3.1: tỷ lệ từng t
PHẪU THUẬT
hung
.2: đặc điểm chun
Số
t
10
1 3
1
10
1
n4 1
, 1 trường hợp 7R
h mạch đơn khi nạ
ờng hợp mổ nội so
i lồng ngực
20.
27.5%
16.5%
ỨU
chúng tôi có 10
N cắt thùy phổi
h 59,18 ± 10,08 (
ới tính theo độ tu
Giới
am
0,9%)
29,4%)
23,8%)
54,1%)
hùy phổi chứa kh
NSLN
g của phẫu thuật
bệnh nhân
5
7
và 1 trường hợp 1
o hạch 2R,4R
i hoàn toàn
2%
12.8%
Th
Th
Th
Th
Th
9 trường hợp
và nạo hạch.
31 – 80)
ổi
Nữ
1 (0,9%)
28 (25,7%)
21 (19,3%)
50 (45,9%)
ối u
Tỷ lệ %
96,4
2,7
0,9
98,2
0,9
0,9
0R
ùy trên (P)
ùy giữa
ùy dưới (P)
ùy trên (T)
ùy dưới (T)
10
3.2.2.Thời gian phẫu thuật: trung bình 128,8 ± 31,3 (70 – 220)
Lượng máu mất: trung bình 165,1 ± 95,6 (50 – 600)
Thời gian DLMP: trung bình 3,1 ± 1,8 (2 – 14)
Thời gian nằm viện: trung bình 5,9 ± 1,9 (4 – 18)
3.2.3.Đặc điểm hậu phẫu
Bảng 3.3: biến chứng và mức độ đau sau phẫu thuật
Đặc điểm Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Biến chứng hậu phẫu
Không 105 96,3
Dò khí kéo dài 2 1,8
Viêm phổi 1 0,9
Suy hô hấp, thở máy 1 0,9
3.2.4.Giai đoạn ung thư phổi trước và sau mổ
Bảng 3.4: độ chính xác của CLVT trong định giai đoạn UTP
Giai đoạn trên CLVT Giai đoạn sau mổ Độ chính xác (%) IA IB IIA IIIA
IA 19 5 0 0
71,6% IB 6 28 4 4 IIA 0 1 13 10
IIIA 0 0 1 18
Tổng số (109) 25 34 18 32
3.2.5.Kết quả chung của phẫu thuật nội soi lồng ngực
PT NSLN cho thấy kết quả tốt chiếm đa số 91,7%, chỉ 5 trường
hợp (4,6%) kết quả trung bình và 4 trường hợp (3,7%) cho kết quả
xấu. Trong đó, 3 trường hợp chuyển PTNS có hỗ trợ do không thể
tiếp cận hạch (4L, 7R, 10R) và 1 trường hợp mở ngực vì chảy máu
lượng lớn do rách TM đơn trong lúc nạo hạch nhóm 2R, 4R.
3.2.6..CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN KẾT QUẢ SỚM PT NSLN
Tai biến trong mổ và các nhóm hạch được PT nạo vét
Có 2 trường hợp tai biến xảy ra trong mổ (1 rách TM đơn, 1 rách phế
quản gốc đối bên); không có sự liên quan về vị trí hạch, kích thước
hạch và hạch nghi ngờ di căn trên CLV