Báo cáo Hỗ trợ Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu tại Việt Nam Chiến lược Xuất khẩu - Hướng dẫn Tiếp thị Xuất khẩu ngành Rau quả

Rau quả có vai trò quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của người Việt Nam. Bên cạnh đó, ngành rau quả còn đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển nông thôn và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Nhu cầu ngày càng tăng về rau quả ở thị trường trong nước và nước ngoài đã mang đến những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành này ở Việt Nam. Những cơ hội về thị trường này cũng đồng nghĩa với việc ngành rau quả cần phải có những bước phát triển phù hợp để đáp ứng được nhu cầu. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT), rau quả của Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu phục vụ thị trường trong nước và thường chỉ là mặt hàng rau quả tươi. Chỉ có một lượng nhỏ (10-15%) cung ứng cho các nhà máy chế biến và xuất khẩu, trong đó tỉ lệ xuất khẩu từ 3-5% tổng lượng sản xuất. Kim ngạch xuất khẩu rau quả tươi của Việt Nam cũng ở mức rất khiêm tốn, chiếm 2,5% kim ngạch xuất khẩu của ngành. Trước năm 1991, thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là Liên bang Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Trong thời gian gần đây, mặc dù rau quả tươi của Việt Nam đã xuất khẩu tới gần 60 nước trên thế giới, nhưng châu Á vẫn là thị trường xuất khẩu chính với một số thị trường quan trọng như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc. Một số thị trường có nhu cầu lớn về rau quả nhưng Việt Nam vẫn chưa tìm ra phương thức thích hợp để tiếp cận, đặc biệt là Nhật Bản và Hoa Kỳ có nhu cầu lớn về rau quả tươi. Bên cạnh đó, một số loại rau quả chọn lọc cũng có tiềm năng lớn và có thể xuất khẩu sang Châu Âu và Trung Đông. Để xuất khẩu thành công mặt hàng rau quả của Việt Nam sang các thị trường tiềm năng này, ngành cần phải vượt qua được những trở ngại về nguyên liệu thô, các tiêu chuẩn vệ sinh, công nghệ sau thu hoạch… Theo Kế hoạch được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2010 ngành Rau và Hoa quả sẽ phấn đấu đạt được diện tích canh tác là 1,3 triệu hecta, khối lượng sản xuất là 20 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu là 1 tỉ đôla Mỹ, trong đó tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả sẽ chiếm khoảng 900 triệu đôla Mỹ. Mặc dù ngành rau quả đã đạt được một số thành tựu trong những năm qua, nhưng ngành thực sự vẫn chưa tạo dựng được bước tiến vượt bậc trong tiến trình phát triển. Ngành còn gặp nhiều khó khăn và thách thức liên quan đến những vấn đề trước và sau thu hoạch, đặc biệt là xuất khẩu mặt hàng rau quả. Việc xây dựng một chiến lược xuất khẩu ngành có tính khả thi cao có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giúp cho ngành có thể đạt được những mục tiêu xuất khẩu đề ra, đóng góp vào quá trình phát triển nông thôn, tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của người dân.

doc47 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 15/12/2012 | Lượt xem: 1564 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo Hỗ trợ Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu tại Việt Nam Chiến lược Xuất khẩu - Hướng dẫn Tiếp thị Xuất khẩu ngành Rau quả, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Dự án VIE 61/94 Hỗ trợ Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu tại Việt Nam Chiến lược Xuất khẩu - Hướng dẫn Tiếp thị Xuất khẩu. BÁO CÁO Ngành rau quả  Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Mai Mai Thế Cường Báo cáo thực hiện theo yêu cầu của Dự án Hỗ trợ Xúc tiến Thương mại và Phát triển xuất khẩu thuộc Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Thương mại) 28-12-2006 NỘI DUNG 1. GIỚI THIỆU 3 1.1. Cơ sở 3 1.2. Tiếp cận 3 2. TẦM NHÌN VÀ CHUỖI GIÁ TRỊ TƯƠNG LAI CỦA NGÀNH 3 2.1. Tầm nhìn 3 2.2. Chuỗi giá trị tương lai của ngành. 3 3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGÀNH 3 3.1. Hoạt động xuất khẩu và năng lực canh tranh. 3 3.2. Chuỗi giá trị hiện tại của ngành 3 3.3. Hoạt động của ngành dựa vào những nhân tố quyết định thành công. 3 3.4. Chính sách của nhà nước và chiến lược hỗ trợ ngành. 3 3.5. Mạng lưới hỗ trợ của ngành 3 4. PHÂN TÍCH SWOT (ĐIỂM MẠNH, YẾU, CƠ HỘI, THÁCH THỨC) 3 5. PHƯƠNG HƯỚNG 3 6. ĐÁNH GIÁ TRIỂN VỌNG 3 7. HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC 3 PHỤ LỤC 3 TÀI LIỆU THAM KHẢO 3 Chiến lược xuất khẩu rau quả Việt Nam (Dự thảo lần 3) 1. GIỚI THIỆU 1.1. Cơ sở Rau quả có vai trò quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của người Việt Nam. Bên cạnh đó, ngành rau quả còn đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển nông thôn và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Nhu cầu ngày càng tăng về rau quả ở thị trường trong nước và nước ngoài đã mang đến những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành này ở Việt Nam. Những cơ hội về thị trường này cũng đồng nghĩa với việc ngành rau quả cần phải có những bước phát triển phù hợp để đáp ứng được nhu cầu. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT), rau quả của Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu phục vụ thị trường trong nước và thường chỉ là mặt hàng rau quả tươi. Chỉ có một lượng nhỏ (10-15%) cung ứng cho các nhà máy chế biến và xuất khẩu, trong đó tỉ lệ xuất khẩu từ 3-5% tổng lượng sản xuất. Kim ngạch xuất khẩu rau quả tươi của Việt Nam cũng ở mức rất khiêm tốn, chiếm 2,5% kim ngạch xuất khẩu của ngành. Trước năm 1991, thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là Liên bang Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Trong thời gian gần đây, mặc dù rau quả tươi của Việt Nam đã xuất khẩu tới gần 60 nước trên thế giới, nhưng châu Á vẫn là thị trường xuất khẩu chính với một số thị trường quan trọng như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc. Một số thị trường có nhu cầu lớn về rau quả nhưng Việt Nam vẫn chưa tìm ra phương thức thích hợp để tiếp cận, đặc biệt là Nhật Bản và Hoa Kỳ có nhu cầu lớn về rau quả tươi. Bên cạnh đó, một số loại rau quả chọn lọc cũng có tiềm năng lớn và có thể xuất khẩu sang Châu Âu và Trung Đông. Để xuất khẩu thành công mặt hàng rau quả của Việt Nam sang các thị trường tiềm năng này, ngành cần phải vượt qua được những trở ngại về nguyên liệu thô, các tiêu chuẩn vệ sinh, công nghệ sau thu hoạch… Theo Kế hoạch được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2010 ngành Rau và Hoa quả sẽ phấn đấu đạt được diện tích canh tác là 1,3 triệu hecta, khối lượng sản xuất là 20 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu là 1 tỉ đôla Mỹ, trong đó tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả sẽ chiếm khoảng 900 triệu đôla Mỹ. Mặc dù ngành rau quả đã đạt được một số thành tựu trong những năm qua, nhưng ngành thực sự vẫn chưa tạo dựng được bước tiến vượt bậc trong tiến trình phát triển. Ngành còn gặp nhiều khó khăn và thách thức liên quan đến những vấn đề trước và sau thu hoạch, đặc biệt là xuất khẩu mặt hàng rau quả. Việc xây dựng một chiến lược xuất khẩu ngành có tính khả thi cao có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giúp cho ngành có thể đạt được những mục tiêu xuất khẩu đề ra, đóng góp vào quá trình phát triển nông thôn, tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của người dân. 1.2. Tiếp cận Tổ chức thương mại thế giới (ITC) đã giới thiệu phương pháp xây dựng chiến lược tiếp thị xuất khẩu gồm 13 bước. Các bước này đã được áp dụng trong quá trình viết Chiến lược xuất khẩu cho ngành Rau quả. Khuôn khổ phân tích Quy trình cơ bản chính là đảm bảo vai trò dẫn dắt của của khu vực tư nhân và sự hỗ trợ từ khu vực nhà nước theo những hình thức sau: • Các vấn đề về năng lực nội tại của ngành (Border-in gear): Phía cung ứng sản phẩm cần đáp ứng tối đa cơ hội từ thị trường quốc tế bằng cách (i) nâng cao hơn nữa năng lực hiện có; (ii) thúc đẩy những khả năng mới; (iii) củng cố kỹ năng, năng lực kỹ thuật và khuyến khích các hoạt động kinh doanh. • Các vấn đề về môi trường hoạt động của ngành (Border gear): Cần phân tích môi trường hoạt động của ngành đối với (i) những vấn đề về hạ tầng cản trở hoạt động kinh doanh như công nghệ sau thu hoạch, giao thông vận tải, đóng gói, làm sạch…; (ii) những yếu tố về thuận lợi hoá thương mại như các quy định và các thủ tục hành chính và (iii) những chi phí cho hoạt động kinh doanh như truy cập internet, đăng ký công ty, phí cầu cảng, phí kiểm định… • Các vấn đề về môi trường bên ngoài (Border-Out gear): Những yếu tố liên quan đến xâm nhập của ngành vào thị trường quốc tế được phân tích theo ba khía cạnh (i) những vấn đề về tiếp cận thị trường của sản phẩm xuất khẩu như các hàng rào thuế quan và phi thuế quan; (ii) các dịch vụ hỗ trợ trên thị trường như thông tin về thị trường quốc tế, các mối liên hệ trên thị trường quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài; và (iii) xây dựng hình ảnh của ngành và tổ chức các chương trình quảng cáo bán hàng thông qua tham gia các hội trợ thương mại quốc tế và tổ chức các phái đoàn thương mại. Các vấn đề về đóng góp của ngành cho xã hội (Development gear): Những đóng góp đáng ghi nhận của ngành cho xã hội như giảm nghèo, phát triển nông thông, bảo vệ môi trường… Phạm vi của chiến lược Chiến lược này đề cập đến cả sản phẩm rau quả tươi và sản phẩm chế biến, tuy nhiên, trọng tâm vẫn tập trung vào rau quả tươi. Rau và quả sau khi chế biến được xác định thuộc các các hạng mục 6, 7, 8 của hệ thống HS. Chiến lược sẽ chủ yếu phân tích tình hình của ngành trong vòng mười năm trở lại đây, đặc biệt trong giai đoạn từ 2000-2005 và đề xuất những biện pháp cho 3-5 năm tới. Nguồn thông tin Nhằm mục đích xây dựng Chiến lược xuất khẩu cho ngành Rau quả, cả nguồn thông tin thứ cấp và thông tin cấp hai đều được sử dụng, cụ thể: Nguồn cấp hai là nguồn từ những báo cáo của Bộ NN & PTNT, Bộ Thương mại, UNCTAD/ITC, và CBI. Nguồn thứ cấp là từ các bên tham gia như doanh nghiệp, Bộ NN & PTNT, Bộ Thương mại và các đơn vị hỗ trợ thông qua các cuộc hội thảo, phỏng vấn, thảo luận nhóm và nghiên cứu thực địa. 2. TẦM NHÌN VÀ CHUỖI GIÁ TRỊ TƯƠNG LAI CỦA NGÀNH 2.1. Tầm nhìn Về lâu dài, ngành rau quả của Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu tăng 40% tỉ lệ xuất khẩu trong 10 nmục tiêu. Ngành sẽ huy động năng lực từ các thành viên và tổ chức thực hiện bài bản và thống nhất, tận dụng tối đa các cơ hội xuất khẩu, góp phần giải quyết công ăn việc làm, phát triển khu vực và nông thôn và đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. 2.2. Chuỗi giá trị tương lai của ngành. Danh sách các nhà xuất khẩu sản phẩm rau quả tiềm năng đã được xây dựng dựa trên những tiêu chí khác nhau về triển vọng. Tiêu chí đầu tiên chủ yếu dựa trên (i) năng lực nội địa, và (ii) hoạt động xuất khẩu hiện tại và trước đó sang các nước láng giềng trong khi những hoạt động gần đây lại chủ yếu dựa vào những ưu tiên/thị hiếu của thị trường quốc tế. Bảng 2.1 đề cập đến cách tiếp cận gần đây. Tuy nhiên, hai cách tiếp cận đối với sản phẩm trái cây được đề cập dưới đây đều có sự trùng lặp. Phụ lục 1 cung cấp chi tiết hơn về những loại trái cây và rau xuất khẩu. Bảng 2.1. Loại trái cây và rau tiềm năng cho xuất khẩu. Trái cây: Xoài, dứa, thanh long, hồng vàng, lê tàu; quả chà là, chanh leo (chanh dây); quả me; măng cụt Rau: Măng tây, đậu, đậu tây (Fine bean); Runer bean; đậu Hà Lan; ngô bao tử; mướp; cà rốt bao tử, ớt, gừng, nấm, quế, tỏi, khoai sọ   Nguồn: Nhóm tư vấn (2006) Chuỗi giá trị tương lai của ngành rau quả chế biến và rau quả tươi được thể hiện trong hình minh hoạ 2.1. Hình 2.1. Đặc điểm chính của Chuỗi giá trị tương lai của ngành được tổ chức như sau: Người trồng rau quả được tổ chức chặt chẽ hơn: Người nông dân được khuyến khích thành lập các hợp tác xã hoặc thành lập các nhóm, và hình thành vùng nguyên liệu. Tham gia nhiều hơn vào các hợp tác xã chuyên về xuất khẩu và các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu. Liên kết chặt chẽ giữa các nhà xuất khẩu/chế biến, người trồng rau quả và các tổ chức hỗ trợ thương mại từ khâu sản xuất đến tiếp thị sản phẩm. Phát triển hơn nữa mạng lưới cung cấp đầu vào như hạt giống, thuốc trừ sâu, đào tạo và công nghệ xử lý sau thu hoạch. Điều này đòi hỏi có sự tham gia sâu hơn nữa của các cơ quan nghiên cứu và phát triển (R & D Institutions). Các hoạt động quản lý và cơ sở hạ tầng trong nước và quốc tế cần được cải thiện để mang lại hiệu quả hơn. Mở rộng thị trường cho sản phẩm rau quả tươi sang EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản trong đó thị trường Hà Lan và Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất sẽ là trạm trung chuyển sang các nướcTrung Đông và EU. Hình 2.1 Chuỗi giá trị tương lai của ngành Lưu ý: Các ô màu trắng là những yếu tố hiện đã có trong chuỗi giá trị hiện tại. Còn ô đậm là những yếu tố đề xuất nên có trong chuỗi giá trị tương lai Nguồn: Nhóm tư vấn (2006) 3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGÀNH 3.1. Hoạt động xuất khẩu và năng lực canh tranh. Thị trường nội địa là nơi tiêu thụ chính của rau quả. Xuất khẩu của ngành chiếm phần nhỏ trong tổng luợng sản xuất cũng như khả năng sản xuất. Xuất khẩu của ngành cần rà soát một số yếu tố (i) kim ngạch xuất khẩu; (ii) so sánh với tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam; (iii) các hạng mục xuất khẩu chủ yếu; (iv) thị trường xuất khẩu chính; và (v) những công ty chủ chốt. So sánh các đối thủ cạnh tranh chính được thể hiện ở Phần 3.3. Xuất khẩu của ngành rau quả. Dữ liệu thống kê cho thấy xuất khẩu của ngành rau quả có nhiều biến đổi trong mười năm gần đây. Trừ số liệu thống kê thể hiện trong năm 2001 (có sự gia tăng đột biến), tình hình xuất khẩu của ngành rau quả thể hiện một sư gia tăng khá đều (Hình 3.1). Hình 3.1. Kim ngạch xuất khẩu của ngành rau quả 1996-2005 Nguồn: Tổng cục Thống kê (2006) So sánh xuất khẩu của Việt Nam Sản phẩm nông và lâm nghiệp chiếm dưới 20% tổng xuất khẩu của Việt Nam. Tỉ lệ xuất khẩu của sản phẩm rau quả trong sản phẩm nông và lâm nghiệp đã giảm đi trong những năm gần đây. Xuất khẩu rau quả chiếm dưới 1% trong tổng xuất khẩu từ Việt Nam. Đây là một tỉ lệ rất nhỏ. Hình 3.2. Tỉ lệ xuất khẩu sản phẩm rau quả trong tổng xuất khẩu của Việt Nam.  Nguồn: Tính toán của Nhóm chuyên gia dựa trên dữ liệu từ Tổng cục Thống kê (2006) Những sản phẩm xuất khẩu chính của ngành rau quả Xuất khẩu rau quả tươi đang có xu hướng giảm -đi trong khi sản phẩm chế bến lại gia tăng. Rau quả tươi chiếm 2,5% xuất khẩu của ngành. Thanh long là loại xuất khẩu chính trong sản phẩm rau quả tươi. Các loại xuất khẩu chủ yếu của rau quả tươi gồm có: • Sản phẩm trái cây tươi: Thanh long, dưa hấu, vải, nhãn, xoài, măng cụt, chôm chôm và chuối. • Sản phẩm rau tươi: hành, tỏi, cà chua, bắp cải, dưa leo, khoai sọ, đậu dài Các loại xuất khẩu dạng thành phẩm và bán thành phẩm chủ yếu gồm có: • Sấy khô: dừa, nấm, măng tre, vải, nhãn, mít, chuối, khoai sọ • Đồ ngâm/ trong nước muối: dưa leo, nấm, ngô bao tử • Ngâm trong nước ngọt: dứa, vải, nhãn, xoài • Nước quả: dứa, xoài, ổi, vải, bí đỏ, cà chua • Sản phẩm đông lạnh: Rau chân vịt, dứa, chôm chôm, vải và dưa hấu Thị trường xuất khẩu chính Trước năm 1991, 98% xuất khẩu của ngành là sang Liên Bang Xô Viết. Trong thời kỳ từ 2001-2005, thị trường chính của ngành là các nước Châu Á. Thị trường Trung Quốc chiếm tỉ lệ lớn nhất trong xuất khẩu của Việt Nam. Thị trường xuất khẩu sản phẩm rau quả của Việt Nam vẫn đang tiếp tục mở rộng với gần 60 nước trên thế giới. Những thị trường hàng đầu là Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Hoa Kỳ, Đài Loan và các nước EU. Tuy nhiên, tỉ lệ xuất khẩu sang Trung Quốc và các nước Châu Á đang có xu hướng giảm đi, Hoa Kỳ và EU đã ngày càng trở thành những thị trường có vai trò quan trọng (Hình 3.3) Hình 3.3: Thị trường xuất khẩu rau quả thời kỳ 2000-2005 Nguồn: Tình toán của nhóm tư vấn theo dữ liệu từ Tổng cục Thống kê (2006) Xuất khẩu rau quả sang các nước Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU đang ra tăng hàng năm (Xem Hình 3.4) Các công ty chủ chốt Các công ty xuất khẩu sản phẩm chế biến. Các công ty chuyên về sản phẩm chế biến gồm có các doanh nghiệp quốc doanh (SOEs), các công ty tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIEs). Đến cuối năm 2005, có 25 công ty nhà nước, 127 công ty tư nhân và 7 công ty có vốn đầu tư nước ngoài theo hình thức liên doanh và 10.000 hộ gia đình kinh doanh sản phẩm chế biến. Quá trình cổ phần hoá đã chuyển đổi các doanh nghiệp quốc doanh thành các công ty cổ phần. Công ty có vai trò quan trọng là Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam (Vegetexco Vietnam). Công ty này có 12 nhà máy trên toàn quốc chiếm 34% tổng lượng sản xuất của cả nước, bao gồm Công ty xuất khẩu thực phẩm Đồng Giao (Doveco) - một công ty chế biến sản phẩm dứa hàng đầu ở Ninh Bình. Các công ty khác là Vegetigi, Antesco, công ty thực phẩm nông sản Đà Lạt, công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu An Giang, Bảo Thanh, Treximco, Công ty thực phẩm Sannam, Công ty thực phẩm Bắc Giang. Các nhà xuất khẩu sản phẩm rau quả tươi Phần lớn các công ty xuất khẩu sản phẩm rau quả tươi là các công ty vừa và nhỏ. Các công ty hàng đầu là Vegetexco I, Vegetexco thành phố Hồ Chí Minh, công ty Hoàng Hậu, công ty Fruit and Green, công ty thực phẩm nông sản Đà Lạt, công ty VietFruit, Vegetigi và Antesco. Danh sách về các công ty hoạt động có hiệu quả được cập nhật trên trang web Hình 3.4. Thị trường xuất khẩu của sản phẩm rau quả giai đoạn 2000-2005  Nguồn: Tính toán của Nhóm tư vấn trên cơ sở dữ liệu từ Tổng Cục Thống kê Năng lực cạnh tranh Các nước láng giềng như Thái Lan, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a đã tạo dựng được tên tuổi cho một số sản phẩm rau quả ở thị trường EU. Chẳng hạn Ma-lai-xi-a vào năm 2004 đã chiếm đến 46% lượng nhập khẩu của EU đối với những loại trái cây được ưa chuộng. Thái Lan có thị phần lớn cho các loại đu đủ (4%), quả me (7%), ngô ngọt (67%), măng tây (8%), ớt (2%). Trung Quốc cũng nổi tiếng với sản phẩm lê (4%), hành (24%), nấm truýp (85%), và nấm (16%) (xem chi tiết trong phụ lục 2) Ngoại trừ Thanh Long xuất khẩu còn các sản phẩm rau quả xuất khẩu khác từ Việt Nam chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trên thị trường quốc tế. Ví dụ, rất khó có thể tìm thấy Việt Nam trong số những nước xuất khẩu hàng đầu sang thị trường EU (Phụ phục 2). Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm rau quả của Việt Nam sang các nước thành viên EU được thể hiện trong Bảng 3.1. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam quá nhỏ bé so với tổng lượng nhập khẩu của các nước EU. Bảng 3.1: Tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang các nước thành viên chọn lọc của EU STT  Nước  Kim ngạch nhập khẩu trái cây (triệu Euro)  Kim ngạch nhập khẩu rau (Triệu Euro)  Tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam (triệu đôla Mỹ)    Đức  3.600  2.600  4,9    Anh  2.500  1.900  1,1    Hà Lan  1.800  787  5,9    Bỉ  1.900  459  0,89    Tây Ban Nha  675  161  0,36    Italia  335  464  3,2   Lưu ý:Các số liệu của EU là số liệu năm 2000 trong khi các số liệu của Việt Nam là của năm 2004 Nguồn: EBI trích dẫn từ Eurpstat (2003) 3.2. Chuỗi giá trị hiện tại của ngành Phần này trình bày về chuỗi giá trị hiện tại của ngành rau quả Việt Nam. Hình 3.1 mô tả ngắn gọn về chuỗi giá trị hiện tại của ngành. Một số công ty chủ chốt trong chuỗi giá trị (chủ yếu tập trung vào những đối tượng mang tầm quốc gia), vai trò, đặc điểm và những liên kết trong chuỗi được diễn giải cụ thể dưới đây: Người trồng rau quả Hoạt động trồng rau quả ở Việt Nam chủ yếu do các nhà sản xuất quy mô khá nhỏ thực hiện. Họ là những người vừa trồng trọt vừa là người cung ứng chủ yếu cho thị trường. Khối lượng xuất khẩu chỉ chiếm phần trăm rất nhỏ trong tổng sản lượng. Quy mô sản xuất nhỏ với diện tích từ 0,5 đến 02 hecta trên một hộ gia đình (trồng cây ăn quả). Hoạt động canh tác chủ yếu là cây Thanh Long (tỉnh Bình Thuận, tỉnh Tiền Giang và Long An), dứa (Ninh Bình, Bắc Giang, Kiên Giang và Tiền Giang), nhãn (ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Hưng Yên), vải (tỉnh Bắc Giang), bưởi (Vĩnh Long, Tiền Giang) Gần đây, nhờ chính sách khuyến khích phát triển trang trại, ngày càng có nhiều vùng trồng rau quả với diện tích lớn hơn ở khu vực trung du miền núi phía Bắc, vùng cao Tây Bắc và Châu thổ Sông Mêkông. Chẳng hạn, có một số khu vực trồng dứa có diện tích từ 2.000 đến 5.000 hécta được thiết lập ở các tỉnh Ninh Bình, Tiền Giang, Kiên Giang, Bình Phước và ngoại ô Thành phố Hồ Chí Minh. Các nhà đầu tư chủ yếu là các đơn vị nhà nước. Đối với sản phẩm rau, rau thường được trồng trong vườn có mái che hoặc trong những khu vực canh tác tập trung với diện tích nhỏ hơn từ vài trăm mét vuông đến 01 hécta trên một hộ gia đình. Trong chiến dịch về phát triển kinh tế trang trại, những người trồng rau quả độc lập được khuyến khích tham gia vào các câu lạc bộ canh tác, hợp tác xã, hội và hiệp hội. Tuy nhiên, số lượng tham gia vào những tổ chức này vẫn chưa nhiều. Có hai khu vực lớn trồng rau ở Việt Nam, trong đó, vùng Châu Thổ Sông Hồng chiếm 26% và Châu Thổ Sông Cửu Long chiếm 25%. Các loại rau ở vùng châu thổ sông Cửa Long bao gồm nấm rơm, nấm khô, rau dền, húng quế, các loại họ đậu, cải Bruxel, cải bắp, súp lơ, các loại rau lấy lá khác như cần tây, su su, các loại lá thơm dùng làm gia vị, mào gà, rau mùi, cải xong, thì là, bầu bí, mướp đắng, lá mù tạc. Loại rau chủ yếu được trồng ở vùng châu thổ sông Hồng là dưa leo, dưa chuột bao tử (gherkin), cà chua, măng tre, nấm, su su, su hào, mướp, nấm hàu, cà rốt, khoai tây, bìm bìm, ngô bao tử, cà trắng nhỏ, bầu bí, bắp cải… Vùng cao phía Tây với tổng diện tích 44,000 héc ta chuyên sản xuất và cung cấp rau có chất lượng cao cho Thành phố Hồ Chí Minh và cho các nhà xuất khẩu đối với các sản phẩm như rau chân vịt, cải bắp các loại, rau diếp, khoai tây, nấm, cà chua, hành, súp lơ, atisô, khoai sọ, nấm cục…. Sản xuất manh mún và nhỏ lẻ đang gây ra những hạn chế đối với yêu cầu nhất quán trong chất lượng sản phẩm cũng như khó khăn trong thanh toán. Có một số yếu tố liên quan đến người trồng rau quả hiện nay như sau: Mặc dù nhận thức của người nông dân về chất lượng và an toàn thực phẩm trong sản xuất sản phẩm rau, chẳng hạn như với rau chân vịt đã tăng lên, song nhìn chung vẫn thiếu sự hiểu biết về những kỹ thuật canh tác hiện đại và dẫn đến sản xuất năng suất thấp, sản lượng thấp, chi phí cao, và gặp phải những vấn đề tiềm ẩn về sâu bệnh trong sản xuất rau quả. Những kỹ thuật sau thu hoạch chưa đảm dẫn tới việc sản phẩm bị dập nát, bị thâm và thời hạn sử dụng ngắn. Chưa có trang thiết bị giữ lạnh chuyên dụng đảm bảo duy trì môi trường cho nơi cất giữ và thiết bị lọc CO2 và Etylen. Có rất ít hợp động dài hạn giữa người trồng rau quả và những người thu mua/xuất khẩu/chế biến và cũng có rất ít những cam kết từ phía người trồng về thực hiện các thoả thuận cung ứng sản phẩm. Việc ký kết trực tiếp giữa người trồng và nhà chế biến chỉ dừng lại ở một số những cam kết nhỏ như cung cấp phần nhỏ sản phẩm dứa, dưa leo, cà chua tươi và rau có chất lượng cho các nhà xuất khẩu chế biến. Theo báo cáo của IFPRI vào năm 2001, có 16% hộ gia đình canh tác được kiểm định đã ký kết thoả thuận với người mua, nguyên liệu thô là dứa và cà chua chiếm đến 80% tổng số. Những phân tích trên đã gợi mở ra những thay đổi cần phải được tiến hành trong thời gian tới như hợp lý hoá cơ sở sản xuất thông qua khuyến khích thực hiện canh tác trên những khu vực canh tác hay những khu vườn rộng lớn hơn; tổ chức cho những người trồng rau quả tham gia vào các hợp tác xã để có thể phát triển thành những hợp tác xã xuất khẩu. Điều này có thể làm cho sản lượng sản xuất tăng lên, đảm bảo tính nhất quán về chất lượng sản phẩm và góp phần vào công cuộc phát triển khu vực/nông thôn. Người thu mua/Trung gian  Nguồn: Từ Higginson
Luận văn liên quan